Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Chủ nhật, ngày 7 tháng 6 năm 2020
English
a A
Ngày 05/07/2011-15:22:00 PM
Báo cáo tình hình xây dựng và phát triển KCN, KKT 6 tháng đầu năm 2011
Báo cáo của Vụ Quản lý các Khu kinh tế ngày 05/7/2011
I. Tình hình xây dựng và phát triển KCN, KKT
1. Về tình hình phát triển các KCN
Trong 6 tháng đầu năm 2011, cả nước có 8 KCN được đầu tư mở rộng diện tích, với tổng diện tích được mở rộng là 978 ha, trong đó tập trung chủ yếu ở Vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 6 KCN (tổng diện tích mở rộng là 745 ha),01 KCN được mở rộng tại vùng Đồng bằng sông Hồng và 01 KCN vùng Trung du miền núi phía Bắcvới diện tích mở rộng lần lượt là 121 ha và 112 ha.
Tính đến hết tháng 6/2011, cả nước đã có 260 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 72.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, 174 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên trên 43.500ha và 86 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 28.500 ha. Các KCN được phân bổ trên 57 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung chủ yếu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm: trong đó,vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tập trung nhiều KCN nhất với 124 KCN, chiếm gần 48% tổng số KCN trên cả nước; vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 52 KCN, chiếm 20% tổng số KCN trên cả nước; và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 23 KCN, chiếm xấp xỉ 10% tổng số KCN trên cả nước.
Theo Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 KCN và mở rộng 27 KCN với tổng diện tích gần 32.000 ha. Sau một thời gian thực hiện Quyết định nêu trên, một số KCN đã được thành lập và một số KCN đã được bổ sung vào quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2020. Tính chung từ nay đến năm 2020, số KCN quy hoạch thành lập đến năm 2020 là 249 KCN với tổng diện tích 81.100 ha.
2. Về tình hình thành lập KKT.
Trong 6 tháng đầu năm, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định đồng ý bổ sung thêm02 KKT vào Quy hoạch phát triển các KKT ven biển Việt Nam đến 2020: KKT Ninh Cơ, tỉnh Nam Định và KKT ven biển Thái Bình, tỉnh Thái Bình nâng tổng số KKT trong Quy hoạch phát triển KKT của cả nước đến năm 2020 theo Quyết định 1353/QĐ-TTg ngày 23/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ lên 18 KKT, với tổng diện tích mặt đất và mặt nước của các KKT là 730.553 ha. Trong đó, 15 KKT đã được thành lập, cụ thể như sau: 2 KKT ở vùng Đồng bằng sông Hồng là Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh và Đình Vũ - Cát Hải, thành phố Hải Phòng; 10 KKT ở vùng Duyên hải miền Trung là Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Đông Nam Nghệ An, tỉnh Nghệ An; Vũng áng, tỉnh Hà Tĩnh; Chân Mây-Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chu Lai, tỉnh Quảng Nam; Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi; Nhơn Hội, tỉnh Bình Định; Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa; Hòn La, tỉnh Quảng Bình và Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên và 3 KKT ở đồng bằng sông Cửu Long là KKT Đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới, tỉnh Kiên Giang; KKT Định An, tỉnh Trà Vinh và KKT Năm Căn, tỉnh Cà Mau.Tổng diện tích mặt đất và mặt nước của 15 KKT này là hơn 662.000 ha.
3. Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN, KKT.
3.1. Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN.
- Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài vào các KCN
Trong 6 tháng đầu năm 2011, cácKCN của cả nước đã thu hút được 138 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 2.264 triệu USD và điều chỉnh tăng vốn cho 124 lượt dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là hơn 1016triệu USD. Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2011, tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào KCN đạt 3.280 triệu USD (tăng 36% so với cùng kỳ năm 2010), chiếm 75% tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả nước trong cùng kỳ năm 2011. Đông Nam Bộ là khu vực dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào KCN với tổng số vốn đầu tư là 2210 triệu USD, chiếm hơn 67% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào KCN cả nước trong 6 thángđầu năm 2011.
Một số dự án đáng chú ý được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong 6 tháng đầu năm 2011: dự án Công ty TNHH sản xuất First Solar Việt Nam với tổng vốn hơn 1 tỷ USD tại KCN Đông Nam, TP. Hồ Chí Minh; dự án Công ty TNHH Kính chuyên biệt NSG với tổng vốn đầu tư hơn 323 triệu USD tại KCN Mỹ Xuân A, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; dự án Công ty TNHH Wintek Việt Nam - tổng vốn đầu tư 250 triệu USD tại KCN Quang Châu, tỉnh Bắc Giang....
Lũy kế đến cuối tháng 6/2011 các KCN trong cả nước đã thu hút được 4045 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 56.835 triệu USD, tổng vốn đầu tư đã thực hiện đạt hơn 22.000 triệu USD, bằng 38 % tổng vốn đầu tư đăng ký. Hiện nay đã có hơn 3.078 dự án đang sản xuất kinh doanh và 450 dự án đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản.
Tỷ suất đầu tư vốn đầu tư các dự án FDI/ ha đất công nghiệp đã cho thuê đạt 2,55 triệu USD (tương đương 50 tỷ đồng). Vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ có tỷ suất đầu tư trung bình của các dự ánFDI/ha đất công nghiệp đã cho thuê cao hơn mức trung bình của cả nước lần lượt là 3,29 và 3,22 triệu USD. Đây cũng là 2 vùng có tỷ lệ tạo công ăn việc làm/1 ha đất công nghiệp đã cho thuê cũng cao hơn các địa phương khác lần lượt là 83 lao động và 87 lao động.
- Tình hình thu hút đầu tư trong nước vào các KCN:
Về tình hình thu hút đầu tư trong nước, trong 6 tháng đầu năm 2011, các KCN đã thu hút được 152 dự án với tổng vốn đăng ký 17.260tỷ đồng và điều chỉnh tăng vốn cho 42 dự án với tổng vốn tăng thêm 4.600tỷ đồng.Như vậy, trong gần 6 tháng đầu năm tổng vốn đầu tư trong nước thu hút được đạt hơn 21.860 tỷ đồng.
Tính lũy kế đến hết tháng 6/2011, các KCN cả nước đã thu hút được 4.456 dự án đầu tư trong nướcvới tổng vốn đăng ký gần 360.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 176.000 tỷ đồng, xấp xỉ 50% tổng vốn đăng ký.
3.2. Tình hình thu hút đầu tư vào các KKT
Trong 6 tháng đầu năm 2011, các KKT ven biển thu hút được 25 dự án đầu tư nước ngoài, kể cả các dự án tăng vốn, mở rộng sản xuất với tổng vốn đầu tư đạt hơn 500 triệu USD; và 75 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đạt hơn 77.000 tỷ đồng. Các KKT cả nước hiện thu hút được gần 700 dự án trong nước và nước ngoài với tổng vốn đầu tư gần 33 tỷ USD và 400.000 tỷ đồng. Trong đó, có một số dự án lớn và quan trọng tại KKT Nghi Sơn, KKT Vũng áng, KKT DungQuất gồm nhà máy lọc dầu số 1 và số 2, nhà máy đóng tàu Dung Quất, nhà máy thép Quảng Liên, Khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương, nhà máy cơ khí nặng Doosan, các nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn và Vũng áng, cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong...
3.3. Tình hình cho thuê đất công nghiệp
Tính đến hết tháng 6 năm 2011, các KCN trên cả nước đã cho thuê được hơn 21.000 ha đất công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 47%. Riêng các KCN đã đi vào hoạt động đạt tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê gần 65%.
Bảng so sánh một số chỉ tiêu phát triển KCN ở Việt Nam (tính đến tháng 12/2010)

STT
Vùng
Tỷ suất ĐT hạ tầng/ha đất TN (triệu USD)
Tỷ suất ĐT 1 dự án /ha đất CN đã cho thuê
Tổng sốlao động/ha đất CN đã cho thuê
Dự án FDI (triệu USD)
Dự án DDI (tỷ đồng)
1
Trung du MN phía Bắc
0,13
0,83
22,72
59,65
2
Đồng bằng sông Hồng
0,17
3,29
16,97
82,81
3
Duyên hải miền Trung
0,11
0,89
15,76
62,00
4
Tây Nguyên
0,06
0,29
22,05
35,48
5
Đông Nam Bộ
0,10
3,22
13,82
87,28
6
Đồng bằng sông Cửu Long
0,13
0,91
20,28
48,88
Bình quân cả nước
0,12
2,55
15,97
76,76

4. Tình hình sản xuất kinh doanh
Mặc dù tình hình kinh tế - xã hội trong những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do lạm phát, mặt bằng lãi suất ở mức cao, diễn biến khó lường của kinh tế thế giới, nhưng trong 6 tháng đầu năm 2011, tình hình sản xuất kinh doanh của các KCN, KKT đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của các KCN, KKT cả nước trong năm 6 tháng đầu năm 2011 đã đạt mức tăng trưởng khá. Các doanh nghiệp KCN đã đạt tổng doanh thu gần 15,5 tỷ USD và 80.000 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp đạt11 tỷ USD và 9,2 tỷ USD. Các doanh nghiệp cũng đóng góp vào ngân sách nhà nước 7.700 tỷ đồng và 55 triệu USD.
Mặc dù mới được thành lập và đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhưng trong năm vừa qua tình hình sản xuất kinh doanh của các KKT cũng đã có bước phát triển đáng kể, doanh thu của các KKT đạt hơn 71.105 tỷ đồng và 365 triệu USD (tăng 3,5 lần so với doanh thu cả năm 2010). Giá trị nhập khẩu và xuất khẩu lần lượt là 500 triệu USD và 193 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 1.140 tỷ đồng.
Đến cuối tháng 6 năm 2011, các KCN, KKT đã giải quyết việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động trực tiếp.
5. Tình hình xử lý nước thải
Hiện có 105 KCN đã xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 61% tổng số KCN đã vận hành; 34 KCN đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung. Nếu theo chỉ tiêu KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung được điều chỉnh theo Kế hoạch kinh tế – xã hội năm 2010 là 45% thì tỷ lệ này đã vượt kế hoạch đề ra.
6. Nhận xét, đánh giá tình hình xây dựng và phát triển KCN, KKT
6.1. Kết quả
- Cơ chế, chính sách phát triển KCN, KKT đã dần được hoàn thiện theo hướng tăng cường phân cấp cho các Ban quản lý KCN, KKT thực hiện quản lý Nhà nước KCN, KKT trên các lĩnh vực.
- Ban quản lý các KCN, KKT đã dần ổn định tổ chức bộ máy, nhân sự và nâng cao năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ mới được phân cấp.
- Các KCN, KKT đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế – xã hội địa phương, góp phần tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế-lao động theo hướng công nghiệp hóa, giải quyết việc làm.
- Các địa phương có điều kiện thuận lợi đã chủ động định hướng thu hút các dự án đầu tư phù hợp với lợi thế so sánh của địa phương; các dự án có hàm lượng công nghệ và vốn cao để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
5.2. Hạn chế
- Vấn đề bảo vệ môi trường KCN tuy đã được cải thiện, song vẫn còn tồn tại một số KCN, doanh nghiệp KCN chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về môi trường. Việc phối hợp kiểm tra, giám sát bảo vệ môi trường KCN, KKT của các cơ quan Nhà nước chưa thật chặt chẽ.
- Cơ cấu đầu tư, lao động trong các KCN, KKT chưa thực sự hợp lý, hàm lượng công nghệ, lao động tri thức trong các KCN, KKT còn hạn chế.
- Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng của một số KCN còn gặp khó khăn, không hoàn thành đúng tiến độ đề ra.
- Vấn đề nhà ở, điều kiện sống, làm việc của người lao động trong KCN vẫn còn khó khăn.
- Công tác xây dựng hạ tầng KKT còn chậm; huy động các nguồn vốn cho phát triển hạ tầng KKT còn gặp nhiều khó khăn.
6. Định hướng, giải pháp phát triển KCN, KKT
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KCN, KKT gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, để đảm bảo tính bền vững.
- Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, ít ảnh hưởng đến môi trường, giải quyết nhu cầu việc làm cho lao động địa phương.
- Quy hoạch KCN gắn với quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư và các quy hoạch ngành đảm bảo hiệu quả thu hút đầu tư, điều kiện sinh hoạt, ăn ở và dịch vụ khác phục vụ cho doanh nghiệp KCN và người lao động trong KCN.
- Phát triển về số lượng và quy mô KCN cần phù hợp và hài hoà với điều kiện phát triển thực tế của địa phương, đảm bảo hiệu quả sử dụng đất KCN.
- Việc xem xét bổ sung thêm các KKT ven biển vào Quy hoạch cũng như việc thành lập các KKT ven biển cần được cân nhắc về thời điểm cũng như các điều kiện đáp ứng thực tế của địa phương.
- Xem xét, sửa đổi chính sách phát triển KKT hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước để đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong KKT, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
II. Dự báo tình hình đầu tư và phát triển kcn, kkt 6 tháng cuối năm 2011, và cả năm 2011.
Dự kiến từ nay đến cuối năm cả nước sẽ thành lập mới và mở rộng 10 KCN với tổng diện tích khoảng 2.000 ha, nâng tổng số KCN được thành lập mới và mở rộng trong năm 2011 là 17 KCN với tổng diện tích dự kiến khoảng 3.000ha.
Tiếp đà tăng trưởng khả quan trong 6 tháng đầu năm, tình hình thu hút đầu tư vào các KCN, KCX, KKT có nhiều tín hiệu khả quan trong những tháng còn lại của năm 2011, dự kiến từ nay đến cuối năm, các KCN cả nước sẽ thu hút 3-3.5 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài và 20-22 ngàn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước, nâng tổng số dự án trong KCN đến cuối 2011 đạt 8.900 dự án trong đó có 4.200 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 4.700 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đạt khoảng 58-60 tỷ USD và 400 ngàn tỷ đồng.
Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của KCN trong 6 tháng cuối năm dự kiến sẽ tăng khá so với 6 tháng đầu năm 2011 (khoảng 5-8%). Dự kiến doanh thu của các doanh nghiệp KCN (kể cả trong nước và nước ngoài) trong năm 2011 ước đạt 32-34 tỷ USD; giá trị xuất khẩu đạt khoảng 19 - 21 tỷ USD, giá trị nhập khẩu đạt khoảng 18-20 tỷ USD; nộp ngân sách đạt khoảng 1,6 tỷ USD và thu hút khoảng 1,6-1,8 triệu lao động trực tiếp.
Hiện nay, Bộ ta đã trình Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập KKT Ninh Cơ (tỉnh Nam Định), KKT ven biển Thái Bình (tỉnh Thái Bình), KKT Đông Nam tỉnh Quảng Trị và đang thụ lý 03 bổ sung Quy hoạch phát triển Khu kinh tế đến năm 2020: KKT Gành Hào (tỉnh Bạc Liêu) và KKT Trần Đề (Sóc Trăng), KKT Móng Cái - Hải Hà (tỉnh Quảng Ninh) nên có khả năng trong 6 tháng cuối năm 2011, Thủ tướng Chính phủ sẽ cho phép bổ sung thêm 03 KKT này vào Quy hoạch. Việc xem xét thành lập các KKT trong Quy hoạch cần đảm bảo hội tụ đầy đủ các điều kiện theo quy định, phù hợp với khả năng thu hút đầu tư của địa phương, tránh trường hợp thành lập để xin hỗ trợ từ ngân sách trung ương, giữ đất gây lãng phí đất đai./.
Vụ Quản lý các Khu kinh tế
Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Tổng số lượt xem: 1760
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.