Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ bảy, ngày 29 tháng 2 năm 2020
English
a A
Ngày 28/04/2019-17:05:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2019 tỉnh Bắc Ninh

Vụ xuân năm nay toàn tỉnh đã gieo trồng 36.665,6 ha cây hàng năm, giảm 3,6% (tương ứng giảm 1.403 ha) so cùng vụ năm trước. Trong đó, gieo cấy lúa đạt 33.001 ha, giảm 3% (-1.005 ha). Đến nay, nông dân đã tổ chức chăm sóc đợt 2 được 29.900 ha lúa, chiếm 90,6% tổng diện tích gieo trồng và bằng 175,9% so với cùng kỳ năm trước. Đối với cây rau màu, tính đến ngày 20/4, toàn tỉnh đã gieo trồng được 3.487 ha, đạt 80,2% so với KH và bằng 89,7% so cùng kỳ năm trước.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp: Vụ xuân năm nay toàn tỉnh đã gieo trồng 36.665,6 ha cây hàng năm, giảm 3,6% (tương ứng giảm 1.403 ha) so cùng vụ năm trước. Trong đó, gieo cấy lúa đạt 33.001 ha, giảm 3% (-1.005 ha). Đến nay, nông dân đã tổ chức chăm sóc đợt 2 được 29.900 ha lúa, chiếm 90,6% tổng diện tích gieo trồng và bằng 175,9% so với cùng kỳ năm trước. Đối với cây rau màu, tính đến ngày 20/4, toàn tỉnh đã gieo trồng được 3.487 ha, đạt 80,2% so với KH và bằng 89,7% so cùng kỳ năm trước.

b) Chăn nuôi và hoạt động thú y: Ước tính đến cuối tháng 4, toàn tỉnh toàn tỉnh có 2.426 con trâu, tăng 0,66% (+16 con) so với cùng kỳ năm trước; đàn bò có 29.319 con, giảm 3,4% (-1.046 con); đàn lợn có 365,4 nghìn con, giảm 5,7% (-22.096 con); đàn gia cầm 5,3 triệu con, tăng 1,23% (+64 nghìn con), trong đó đàn gà có 4,2 triệu con, tăng 1,3% (+54 nghìn con). Sản lượng thịt gia súc gia cầm xuất chuồng đến cuối tháng 4 ước đạt 31.603 tấn, chỉ tăng 0,3% so cùng kỳ năm trước, riêng tháng 4 là 7.323 tấn, giảm 4,2% (-317 tấn). Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp. Tính đến ngày 18/4/2019, bệnh dịch đã xảy ra tại 1.961 hộ, 124 thôn, khu thuộc địa bàn 21 xã, phường, thị trấn của 8/8 huyện, thị xã, thành phố làm 19,9 nghìn con lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu huỷ với tổng trọng lượng 1.321,6 tấn.

c) Lâm nghiệp: Tháng 4, toàn tỉnh trồng được 10 nghìn cây phân tán tạo cảnh quan môi trường, bằng 50% so với cùng kỳ năm trước; khai thác 300 m3 gỗ bằng 93,8%, 430 ste củi, bằng 93,5%. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng ở các địa phương tiếp tục triển khai tăng cường trong mùa nóng nắng, nên không có vụ cháy rừng nào xảy ra.

d) Thuỷ sản: Tính đến cuối tháng 4, diện tích nuôi trồng thủy sản là 5.024 ha, giảm 0,3% so cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản ước tính 12.629 tấn, tăng 0,5% cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng thu hoạch đạt 12.258 tấn, tăng 0,6%; sản lượng lồng bè đạt 1.448 tấn, tăng 3,6%. Sản lượng khai thác ước đạt 371 tấn, giảm 2,9%.

2. Sản xuất công nghiệp

a) Chỉ số sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng này giảm 17,2% so với tháng trước và giảm 8,3% so cùng tháng năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 17,4% và giảm 8,4%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng,…và điều hòa không khí tăng 18,3% và tăng 9,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,9% và tăng 10,9%. Khả năng, từ tháng 5 sản xuất công nghiệp sẽ lấy lại đà tăng trưởng khi ngành SXSP điện tử đang được Samsung thay đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng tập trung hơn vào nhóm dưới 3 triệu đồng và từ 6-<10 triệu đồng. Dự báo, khả năng mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay của ngành công nghiệp sẽ không cao do 6 tháng năm trước đạt mức tăng trưởng hai con số (trên 20%) và mức sụt giảm đã kéo dài qua 4 tháng.

b) Sản phẩm công nghiệp

Các sản phẩm chủ lực của địa phương có mức tiêu thụ tăng khá, nên lượng sản xuất cũng tăng so với tháng trước và cùng tháng năm trước, như: sữa và kem (+2,9% và +10,6%); mỳ, miến, phở, bún, cháo (+1,9% và +12,8%); thuốc lá (+28,4% và +1,8%); quần áo mặc thường (+17,8% và +41%); thức ăn gia súc (+4,4% và +17,4%); tủ bằng gỗ (+5,6% và +10,7%); nước máy thương phẩm (+10,7% và +14,3%); điện thương phẩm (+18,3% và +9,2%),... Tuy nhiên, cũng có không ít sản phẩm vẫn gặp khó khăn trong tiêu thụ do phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu hoặc không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất thì đều có lượng sản xuất giảm, như: kính các loại; ruột phích và bình; máy in; bàn bằng gỗ, salong gỗ. Đặc biệt, nhóm màn hình điện thoại, tivi giảm mạnh (-11,6% và -25%) và một số sản phẩm khác cũng giảm mạnh so cùng tháng năm trước là linh kiện điện tử (-21,1%), bê tông tươi (-25,9%); điện thoại thông minh giá từ >10-15 triệu đồng (- 28%) và từ 3-< 6 triệu đồng (- 92%).

c) Chỉ số sử dụng lao động

Tháng 4, chỉ số sử dụng lao động chỉ tăng nhẹ (+0,2%) so với tháng trước và giảm 9,5% so cùng tháng năm trước. Nguyên nhân lao động của khu vực FDI, mà chủ yếu là ngành SXSP điện tử giảm là do: (1) Một số DN đã ứng dụng công nghệ tự động hóa vào một số công đoạn; (2) Lợi nhuận sụt giảm, một số DN đã cắt giảm lao động để giảm bới chi phí sản xuất.

3. Đầu tư

a) Vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4 ước đạt 393,7 tỷ đồng, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 62,1% so cùng tháng năm trước. Tính chung 4 tháng, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.373 tỷ đồng, tăng 45,8% so cùng kỳ năm trước.

b) Hoạt động cấp phép đầu tư

Theo kết quả công bố của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Bắc Ninh năm nay đứng thứ 15/63 tỉnh, thành phố với 64,5 điểm, tăng 2 bậc và tăng 0,14 điểm so với năm trước. Tính đến ngày 20/4, toàn tỉnh đã cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 50 dự án với tổng vốn đầu tư 482,1 triệu USD; so cùng kỳ năm trước, tuy giảm 2% về dự án, nhưng lại tăng 20,5% về vốn đăng ký. Đồng thời, cấp điều chỉnh cho 28 dự án với tổng vốn tăng thêm 159 triệu USD. Luỹ kế đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1.334 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép đầu tư (còn hiệu lực), tổng vốn đầu tư sau điều chỉnh là 17.773,4 triệu USD.

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Lưu chuyển hàng hoá - dịch vụ

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4 ước đạt 3.674,1 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước và tăng 10,6% so cùng tháng năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 14.456,4 tỷ đồng, tăng 12,7% so cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác tháng 4 ước đạt 999,4 tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ 0,2% so với tháng trước và giảm 2% so cùng tháng năm trước. Tính chung 4 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 4.008,2 tỷ đồng, giảm 6,2% so cùng kỳ năm trước.

b) Tình hình giá cả

Tháng 4, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 0,19% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, CPI tăng 3,68% so cùng kỳ năm 2018.Chỉ số giá vàng và đôla Mỹ: Bình quân giá vàng bán ra trong tháng ở mức 3.639.000/chỉ, giảm 25.000đ/chỉ so với tháng trước (-0,68%). So với cùng kỳ năm trước, giá vàng giảm 1,22%. Trong khi đó, giá đô la Mỹ ổn định hơn, bình quân trong tháng giá bán USD ở mức 23.251 đồng/USD, chỉ giảm 0,01% so tháng trước, nhưng lại tăng 1,85% so cùng tháng năm trước. Tính chung 4 tháng, giá vàng bình quân giảm 0,18% so cùng kỳ năm trước, còn giá đôla Mỹ lại tăng 2,09%.

c) Xuất, nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh tháng 4 ước đạt 2.317,3 triệu USD, giảm 27,4% so tháng trước và giảm 12,6% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 9.703 triệu USD, giảm 12,3% so cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tháng 4 ước đạt 1.710,4 triệu USD, tăng 2,1% so tháng trước, nhưng lại giảm 2,3% so cùng tháng năm trước. Lũy kế 4 tháng, kim ngạch nhập khẩu đạt 6.827,7 triệu USD, giảm 10% so cùng kỳ năm trước.

5. Giao thông vận tải

a) Hoạt động kinh doanh vận tải

Vận tải hành khách: Tháng 4, toàn tỉnh vận chuyển đạt 3,1 triệu hành khách, tăng 2,6% so tháng trước và tăng 23,4% so cùng tháng năm trước; luân chuyển đạt 144,8 triệu HK.km, tăng 2,5% và tăng 22,9%. Lũy kế từ đầu năm, khối lượng vận chuyển đạt 11,8 triệu HK, tăng 18,5% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển đạt 551,6 triệu HK.km, tăng 18,3% và doanh thu đạt 676,2 tỷ đồng, tăng 19,4%.

Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển tháng 4 ước đạt 3,3 triệu tấn, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 11% so cùng tháng năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 642,3 triệu tấn.km, tăng 2,2% và tăng 11,5%. Lũy kế từ đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 13,3 triệu tấn, tăng 10,9% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 642,3 triệu tấn.km, tăng 10% và doanh thu đạt 963,1 tỷ đồng, tăng 10,6%.

Trong 4 tháng đầu năm, tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.491,7 tỷ đồng, tăng 11,6% so cùng kỳ.

b) Tình hình an toàn giao thông

Tháng 4, toàn tỉnh xảy ra 7 vụ tai TNGT làm chết 6 người và bị thương 1 người. So với tháng trước, giảm 1 vụ, tăng 1 người chết và tăng 2 người bị thương. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 21 vụ TNGT đường bộ, làm 20 người chết và 7 người bị thương. So cùng kỳ năm trước giảm 6 vụ, giảm 2 người chết và tăng 1 người bị thương.

6. Tài chính

Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 4 ước đạt 2.175 tỷ đồng, giảm 8,5% so tháng trước và giảm 13,7% so cùng tháng năm trước. Sau 4 tháng, tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 11.600,9 tỷ đồng, đạt 42,3% dự toán và tăng 4,8% so cùng kỳ năm 2018. Trong đó, thu nội địa đạt 9.569,5 tỷ đồng, đạt 45,3% dự toán và giảm 0,9%; thu từ hải quan đạt 2.031,4 tỷ đồng, đạt 32,5% dự toán và tăng 43,6%. Sau 4 tháng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 5.740,6 tỷ đồng, đạt 32,4% dự toán năm và tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi cho đầu tư phát triển là 3.664,8 tỷ đồng, đạt 65,3% dự toán và tăng 22,1%; chi thường xuyên là 2.075,8 tỷ đồng, đạt 23,2% dự toán và tăng 21,6%.

7. Ngân hàng - Tín dụng

Trong tháng, lãi suất huy động bằng VNĐ của một số ngân hàng tăng 0,1-0,3% ở kỳ hạn từ 6-12 tháng và trên 12 tháng. Hiện nay, mức lãi suất huy động phổ biến từ 0,5%-7,5% đối với từng kỳ hạn. Dự kiến đến hết tháng 4/2019, tổng nguồn vốn huy động ước đạt 105.300 tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng trước, tăng 16,8% so cùng tháng năm trước và tăng 6,2% so với thời điểm cuối năm 2018. Tổng dư nợ tín dụng đến cuối tháng 4 đạt 81.000 tỷ đồng, tăng 0,2% so với tháng trước, tăng 15,6% so cùng tháng năm trước và tăng 0,5% so với thời điểm cuối năm 2018.

8. Một số vấn đề xã hội

a) Hoạt động y tế: Tháng 4, toàn tỉnh đã thực hiện khám chữa bệnh cho 183,1 nghìn lượt người, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ năm trước.

b) Giáo dục - đào tạo: Năm học 2018-2019 đang vào chặng nước rút. Cùng với việc chỉ đạo tổ chức ôn và thi cuối năm học, trong tháng Sở GD-ĐT đã thực hiện triển khai công tác tổ chức các kỳ thi cuối năm, thi THPT Quốc gia 2019; thi tuyển vào lớp 10 công lập và tuyển sinh vào 8 trường THCS trọng điểm cấp huyện năm học 2019-2020, với trọng tâm là kỳ thi THPT Quốc gia năm 2019. Theo kế hoạch, kỳ thi THPT Quốc gia năm 2019 được tổ chức trong 3 ngày 25, 26 và 27/5, tỉnh Bắc Ninh dự kiến có hơn 14.000 thí sinh của 47 cơ sở giáo dục, với 26 điểm thi ở 8 huyện, thị xã, thành phố. Các điểm thi đều là những trường có cơ sở vật chất tốt, bảo đảm cho kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc. Kỳ thi tuyển sinh vào THPT công lập gồm THPT công lập đại trà và THPT Chuyên Bắc Ninh được tổ chức vào ngày 2-4/6. Khối THCS, Sở GD-ĐT chủ trương xét tuyển tối đa học sinh hoàn thành chương trình Giáo dục Tiểu học vào lớp 6 và sẽ tổ chức cho thí sinh làm 1 bài kiểm tra đánh giá năng lực toàn diện.

c) Hoạt động văn hoá, TDTT: Các hoạt động văn hoá, thông tin tuyên truyền trong tháng tập trung tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; các ngày kỷ niệm của đất nước, như: ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, ý nghĩa lịch sử chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 1/5,.. Trong tháng, UBND tỉnh đã cử các đoàn vận động viên đi tham gia thi đấu tại các giải đấu lớn trong và ngoài tỉnh, như: Bảng A Giải bóng chuyền vô địch Quốc gia vòng 1, giải Bóng chuyền Vô địch Quốc gia PV GAS 2019, giải vô địch cử tạ thanh, thiếu niên Quốc gia 2019 (Bắc Ninh giành được 23 huy chương), Giải vô địch Cờ vua trẻ châu Á năm 2019 (đoàn Bắc Ninh đã giành 6 huy chương, trong đó có 1 HCV và 2 HCB cá nhân của VĐV Trần Đăng Minh).

d) Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 2 vụ cháy, 1 vụ cháy nhà kho chứa rác thải tại Gia Bình và 1 vụ cháy tại phòng mạ của 1 công ty tại KCN Quế Võ, gây thiệt hại về tài sản gần 10 tỷ đồng nhưng không có thiệt hại về người. Nguyên nhân vụ cháy đang được các cơ quan chức năng làm rõ. Qua 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ cháy nổ, làm thiệt hại gần 11,4 tỷ đồng; so cùng kỳ năm trước, tăng 6 vụ, nhưng giảm 14,1 tỷ đồng. Các lực lượng chức năng đã phát hiện 36 vụ vi phạm môi trường, trong đó có 27 cá nhân và 14 tổ chức vi phạm; xử lý 22 vụ, 18 cá nhân và 6 tổ chức; nộp phạt kho bạc 783,5 triệu đồng./.


Website Cục Thống kê Bắc Ninh

    Tổng số lượt xem: 189
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.