Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ sáu, ngày 7 tháng 8 năm 2020
English
a A
Ngày 31/08/2019-14:20:00 PM
Hủy bỏ nghị quyết đại hội đồng cổ đông quy định tại Điều 147 Luật doanh nghiệp 2014
Kiến nghị của Chi nhánh Văn phòng luật sư An Phước (theo Công văn số 7271/VPCP-ĐMDN ngày 15/8/2019 của Văn phòng Chính phủ).

Chi nhánh Văn phòng luật sư An Phước (“An Phước”) kính gửi đến Quý Cơ quan lời chào trân trọng!

Trong quá trình nghiên cứu quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, An Phước nhận thấy có điểm chưa rõ như sau:

Điều 147 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về việc yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của đại hội đồng cổ đông như sau:

“Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại Khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:

1. Trình tự và thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 148 của Luật này;

2. Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty”.

Khoản 2, Điều 114 Luật doanh nghiệp quy định: “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty”.

Theo đó, vấn đề sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng của cổ đông/nhóm cổ đông để thực hiện quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết tại Điều 147 Luật Doanh nghiệp 2014 được hiểu như thế nào trong hai cách hiểu dưới đây:

(i) Tính đến ngày họp đại hội đồng cổ đông, cổ đông đã phải sở hữu từ 10% cổ phần phổ thông trở trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng (nếu dưới 06 tháng thì cổ đông có quyền họp đại hội đồng cổ đông nhưng không có quyền yêu cầu Tòa án/Trọng tài hủy bỏ nghị quyết đại hội đồng cổ đông).

(ii) Tính đến ngày thực hiện quyền yêu cầu Tòa án/Trọng tài xem xét hủy bỏ nghị quyết, cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng (thời điểm cổ đông họp đại hội đồng cổ đông có thể chưa đáp ứng thời hạn ít nhất 06 tháng).

Theo quan điểm của An Phước, quyền khởi kiện của cổ đông/nhóm cổ đông tại Điều 147 Luật Doanh nghiệp 2014 phải được hiểu theo cách (ii) để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông?

Ví dụ cụ thể: - Ông A là cổ đông sở hữu 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty Y kể từ ngày 07/01/2019.

- Ngày 24/04/2019 (hơn 3 tháng sau ngày ông A là cổ đông), công ty X tổ chức họp ddại hội đồng cổ đông bất thường và ra nghị quyết đại hội đồng cổ đông nhưng không mời cổ đông A tham dự họp.

- Ngày 20/07/2019, cổ đông A mới biết có nghị quyết đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 24/04/2019.

- Ngày 21/07/2019, cổ đông A (lúc này sở hữu 10% cổ phần phổ thông liên tục trên 06 tháng) đã gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 24/04/2019.

Vậy, An Phước kính đề nghị Quý cơ quan cho biết: Cổ đông A có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông bất thường của công ty X tổ chức ngày 24/04/2019 hay không? Quyền khởi kiện của cổ đông/nhóm cổ đông tại Điều 147 Luật Doanh nghiệp 2014 được hiểu theo cách (i) hay (ii) nêu trên?

An Phước rất mong nhận được sự giải đáp từ Quý Cơ quan để hiểu rõ thêm về quy định của Luật doanh nghiệp 2014.

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Điều 147 Luật doanh nghiệp quy định:

“Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông trong các trường họp sau đây:

1. Trình tự và thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 148 của Luật này;

2. Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

Điều 159 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh như sau:

“1. Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

2. Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”.

Căn cứ quy định nêu trên, đề nghị Quý Chi nhánh liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được giải thích quy định tại Luật doanh nghiệp./.


Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Tổng số lượt xem: 791
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.