Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ hai, ngày 25 tháng 5 năm 2020
English
a A
Ngày 01/11/2019-16:01:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2019 tỉnh Thái Bình

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Trồng trọt

Trong tháng 10/2019, toàn tỉnh tập trung vào việc đẩy nhanh tiến độ thu hoạch lúa vụ mùa, tích cực tuyên truyền bà con nông dân thực hiện gieo trồng các loại cây màu vụ Đông theo đúng kế hoạch đề ra.

Tình hình sản xuất lúa vụ mùa:

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2019 đạt 93.751 ha, giảm 1.670 ha (-1,8%) so với vụ mùa 2018. Cụ thể: Lúa mùa đạt 77.630 ha, giảm 1.314 ha (-1,7%); ngô đạt 2.245 ha, giảm 401 ha (-15,2%); nhóm cây lấy củ có chất bột (chủ yếu là khoai lang) đạt 634 ha, tăng 87 ha(+15,9%); nhóm cây có hạt chứa dầu đạt 1.290 ha (-11,4%); nhóm rau các loại đạt 9.256 ha (-2,7%), trong đó nhóm rau lấy quả giảm, nhóm rau lấy lá đạt 4.894 ha (+32,6%) so với cùng kỳ.

Vụ mùa năm nay tuy diện tích gieo cấy lúa giảm song các địa phương đã chỉ đạo tốt đề án sản xuất của tỉnh và của địa phương; nhiều giống lúa lai có năng suất chất lượng cao tiếp tục được đưa vào sản xuất và ngày càng mở rộng. Diện tích lúa chất lượng cao đạt xấp xỉ 20 nghìn ha (gồm các giống lúa như: Bắc thơm, nếp thơm, N87, T10, lúa nhật,...) chiếm 25,6% diện tích; diện tích lúa năng suất cao đạt trên 55 nghìn ha (gồm các giống như: TBR225, Q5, TBR1, BC15, thiên ưu 8,...) chiếm 71% diện tích gieo cấy.

Theo tiến độ sản xuất nông nghiệp, tính đến ngày 17/10/2019, diện tích lúa mùa trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch 64.100 ha, đạt 82,6% diện tích gieo trồng, các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Vũ Thư đã cơ bản hoàn thành trên 90% diện tích, dự kiến toàn tỉnh sẽ hoàn thành thu hoạch trước ngày 30/10. Năng suất ước đạt 60 tạ/ha, tăng so với vụ mùa 2018. Có thể nói, vụ mùa 2019 cơ bản thắng lợi, nguyên nhân một phần do diễn biến thời tiết tương đối thuận lợi, mặt khác đây cũng là vụ mùa bà con nông dân hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chi phí cho cây lúa giảm đáng kể so với năm 2018 và được đánh giá là một vụ mùa sạch.

Gieo trồng cây vụ Đông:

Cùng với việc khẩn trương thu hoạch lúa mùa, các địa phương trong tỉnh cũng đồng thời chỉ đạo tích cực gieo trồng các loại rau màu vụ đông với phương châm ”sáng lúa, chiều vụ đông”. Từ đầu tháng đến nay, thời tiết tương đối thuận lợi cho nông dân thu hoạch lúa mùa và trồng cây vụ đông. Theo tiến độ sản xuất nông nghiệp, tính đến này 17/10, toàn tỉnh đã trồng được 22.230 ha rau màu, vượt 10,5% so với cùng kỳ và đạt 61,8% kế hoach đề ra (kế hoạch 36.000 ha). Trong đó cây ngô đạt 6.410 ha; ớt đạt 1.170 ha; dưa bí các loại đạt 4.660 ha; rau màu các loại đạt 9.990 ha.

Chăn nuôi:

Chăn nuôi trâu, bò: Tổng đàn trâu, bò trong tháng 10/2019 duy trì ở mức ổn định, ước đạt 55,5 nghìn con, tăng 1,2% so với cùng kỳ; trong đó đàn trâu đạt 6,3 nghìn con, tăng 0,6%, đàn bò đạt 49,2 nghìn con, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Thị trường tiêu thụ ổn định, sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng tháng 10/2019 ước đạt 743 tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2019 sản lượng thịt trâu, bò xuất chuồng ước đạt 7.540 tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ 2018.

Chăn nuôi lợn: Trong tháng 10/2019, tình hình dịch tả lợn Châu Phi đã được khống chế, đã có 224 xã của 8 huyện, thành phố công bố hết dịch và không phát sinh thêm dịch đặc biệt là tại các trang trại lớn. Thời điểm này giá cả thị trường con giống và thịt lợn hơi xuất chuồng biến động tăng mạnh so với tháng 9/2019, giá thịt lợn hơi giao động ở mức 55.000 – 65.000 đồng/kg tùy loại lợn do nguồn cung không nhiều. Tuy giá cả tăng song tổng đàn lợn đến thời điểm này vẫn giảm so với cùng kỳ do các hộ chăn nuôi đang dè chừng trong việc tái đàn, mặt khác giá lợn giống cũng tăng cao và khan hiếm.

Tổng đàn lợn tháng 10/2019 ước đạt 655,6 nghìn con , tăng 2,4% so với tháng trước, nhưng giảm 34,5% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 10/2019 ước đạt 10,7 nghìn tấn, giảm 44,5% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2019 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 130,8 nghìn tấn, giảm 23,5% so với cùng kỳ 2018.

Chăn nuôi gia cầm: Những tháng gần đây, số lượng đàn gia cầm có chiều hướng tăng do người chăn nuôi tái đàn phục vụ cho các nhu cầu dịp cuối năm. Số lượng đàn gia cầm đến thời điểm hiện tại phát triển tương đối tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra, giá bán ổn định. Việc phát triển đàn gia cầm chủ yếu vẫn là các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ song do tình hình dịch bệnh ở lợn nên một số các cơ sở chăn nuôi lợn trước đây đã chuyển hướng sang nuôi gia cầm.

Tổng đàn gia cầm tại thời điểm tháng 10/2019 ước đạt gần 14,3 triệu con, tăng 9,9% so với cùng kỳ; trong đó số lượng đàn gà đạt 10,5 triệu con, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2018.

Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tháng 10/2019 ước đạt 5,9 nghìn tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng ước đạt 5,2 nghìn tấn, tăng 12,4% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2019 sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 49,7 nghìn tấn, tăng 11,5% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng đạt 39,3 nghìn tấn, tăng 13,8% so với cùng kỳ; sản lượng trứng gia cầm đạt 259,8 triệu quả, tăng 4,1% so cùng kỳ.

Lâm nghiệp

Trong tháng các dự án trồng rừng phòng hộ tại các huyện ven biển đang tiếp tục triển khai thực hiện; ước tính tháng 10/2019 đã trồng mới được 73 ha rừng, tăng 62,6% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 132 m3¬, tăng 0,8%; sản lượng củi khai thác ước đạt 253 ste, tăng 2,0% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2019 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.837 m3¬, giảm 13,7%; sản lượng củi khai thác ước đạt 6.238 ste, giảm 3,1% so với cùng kỳ. Ngành lâm nghiệp tỉnh tăng cường công tác kiểm tra tình hình trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng hiện có trên địa bàn với diện tích rừng được bảo vệ là 4.172 ha.

Thủy sản

Hoạt động sản xuất ngành thủy sản phát triển tương đối tốt và duy trì ở mức khá so với cùng kỳ.Tổng sản lượng thủy sản tháng 10/2019 ước đạt 22,0 nghìn tấn, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2019 tổng sản lượng thủy sản ước đạt 201,1 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ.

Khai thác

Trong tháng tình hình thời tiết tương đối ổn định, thuận lợi cho hoạt đông khai thác thủy sản của bà con ngư dân. Ước tính sản lượng thủy sản khai thác tháng 10/2019 đạt 6,5 nghìn tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 4,8 nghìn tấn, tăng 7,6%; tôm đạt trên 0,2 nghìn tấn, tăng 1,4%; thủy sản khác đạt 1,5 nghìn tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2019 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 72,7 nghìn tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 47,9 nghìn tấn, tăng 7,6%; tôm đạt 1,6 nghìn tấn, tăng 2,7%; thủy sản khác đạt trên 23,2 nghìn tấn, tăng gần 8,0% so với cùng kỳ 2018.

Nuôi trồng

Thời tiết trong tháng khá thuận cho nuôi trồng thủy sản, số giờ nắng trung bình trong ngày cao, có mưa rào là điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của cá. Nuôi nước ngọt được quản lý tốt, môi trường ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh đạt hiệu quả cao; phương thức nuôi thâm canh thủy sản của nông dân có nhiều tiến bộ, đã chú trọng đầu tư giống, thức ăn, sản xuất mang tính hàng hóa tập trung. Nuôi tôm nước lợ đang bắt đầu thu hoạch rộ, sản lượng nuôi trồng đạt mức khá, trong đó tôm thẻ chân trắng năm nay cho năng suất cao hơn 30,1% so với cùng kỳ nhờ áp dụng tốt các yếu tố kỹ thuật nuôi thả.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 10/2019 ước đạt 15,5 nghìn tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ. Trong đó cá đạt gần 4,0 nghìn tấn, tăng 1,0%; tôm đạt 0,7 nghìn tấn, tăng 38,2%; thủy sản khác đạt 10,8 nghìn tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2019, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 128,5 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ. Trong đó cá đạt 33,2 nghìn tấn, tăng 1,3%; tôm đạt 3,5 nghìn tấn, tăng 40,3%; thủy sản khác đạt 91,8 nghìn tấn, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Sản xuất công nghiệp

*Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10/2019 ước tăng hơn 7,2% so với tháng trước và tăng gần 5% so với cùng kỳ năm trước. Ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng như:

- Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng hơn 12,7 lần so với cùng kỳ.

- Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 3,8% so cùng kỳ năm 2018 trong đó: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học (+65%), Sản xuất đồ uống (+14,5%), Sản xuất chế biến thực phẩm (+9,2%), Sản xuất kim loại (+8%), Dệt (+1,6%) so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác tăng gần 3%;

*Tính chung 10 tháng năm 2019, IIP tăng hơn 16% so với cùng kỳ năm 2018.

Tháng 10 năm 2019, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng mạnh so với cùng kỳ như: bộ đèn sử dụng cho cây NOEL ước đạt 215 nghìn bộ, tăng 6,4lần; dịch vụ tráng phủ kim loại bằng cách nhúng vào kim loại chảy ước đạt 10.569 triệu đồng, tăng 2,4 lần; gạch xây bằng đất nung ước đạt 31.655,2 nghìn viên, tăng 24,9%; bộ com –lê, quần áo đồng bộ, áo jacket ước đạt 2.391,8 nghìn cái, tăng 19,1%; xe mô tô chưa được phần vào đâu, xe thùng ước đạt 2.250 chiếc, tăng 18,8%; bia dạng lon ước đạt 6.950 nghìn lít, tăng 18,5%; điện sản xuất ước đạt 340 triệu Kwh, tăng 17,2%; sản phẩm thép cán ước đạt 29.104,4 tấn, tăng 13%; polyaxetal,polyete và nhựa epoxy dạng nguyên ước đạt 2.198 tấn, tăng 5,2%. Bên cạnh đó cũng còn một số sản phẩm giảm trong tháng như: sứ vệ sinh ước đạt 346,2 nghìn cái, giảm 58,8%; khí tự nhiên dạng khí ước đạt 2,1 triệu m3, giảm 42%; áo sơ mi cho người lớn ước đạt 2.353,5 nghìn cái, giảm 31,8%; Nitơrat Amoni ước đạt 16.000 tấn, giảm 15,2% so với cùng kỳ...

10 tháng năm 2019, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng mạnh so với cùng kỳ như: bộ đèn sử dụng cho cây NOEL ước đạt 2.191 nghìn bộ, tăng 2,3 lần; thép cán ước đạt 339.529,6 tấn tăng gần 65%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa ước đạt 17.099,1 nghìn cái tăng 56,3%; cần gạt nước, sương, tuyết trên kính chắn ước đạt 5.388,3 nghìn cái tăng 50,8%; điện sản xuất ước đạt 3.024,5 triệu Kwh, tăng 46%; xe mô tô chưa được phần vào đâu, xe thùng ước đạt 24.125 chiếc, tăng 21,3%; bộ com – lê, quần áo đồng bộ, áo Jacket ước đạt 19.413 nghìn bộ, tăng 18,5%; sắt thép không hợp kim dạng thoi đúc hoặc dạng thô khắc ước đạt 559.394,8tấn, tăng 17,8%; Nitơrat Amoni ước đạt 138.805 tấn, tăng 16%; bộ dây đánh lửa và dây khác sử dụng cho xe có động cơ ước đạt trên 10 triệu bộ, tăng 14,3%; bia dạng lon ước đạt 51.460 nghìn lít, tăng 12,5%. Bên cạnh đó cũng còn một số sản phẩm giảm trong 10 tháng như: khí và dạng khí tự nhiên ước đạt 20,5 triệu m3, giảm 41,7%; sứ vệ sinh ước đạt 3.730,2 nghìn cái, giảm 29,1%; bia chai ước đạt 15.993 nghìn lít, giảm 22,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 năm 2019 tăng hơn 1,7% so với tháng trước và tăng hơn 4,6% so với cùng kỳ.

Chỉ số tồn kho ngành chế biến, chế tạo tính đến tháng 10 năm 2019 tăng hơn 10,5% so với tháng trước và tăng hơn 4,3% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2019 tăng hơn 5% so với cùng thời điểm năm trước. Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm hơn 5,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng hơn 4,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng hơn 6,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Đầu tư

Tháng 10/2019 vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt trên 455 tỷ đồng, tăng hơn 2,4% so với tháng trước, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 233,6 tỷ đồng, tăng nhẹ so với tháng trước và tăng 8,7% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt trên 115,2 tỷ đồng, có mức tăng tương ứng là 4,5% và 28,6%; vốn ngân sách cấp xã ước đạt trên 106 tỷ đồng, với mức tăng lần lượt là 5,7% và 41,7%.

Ước tính 10 tháng đầu năm vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 3.527,5 tỷ đồng, tăng hơn 22,7% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt gần 1.905 tỷ đồng, tăng hơn 22,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 783,5 tỷ đồng, tăng hơn 20,8%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt trên 839 tỷ đồng, tăng hơn 24,8%.

*Một số dự án đầu tư, xây dựng bằng nguồn ngân sách tỉnh ước tính thực hiện trong tháng 10 như:

Dự án HTKT khu dân cư tiếp giáp khu TĐC Đồng Lôi, tổng vốn đầu tư hơn 87 tỷ đồng, dự kiến tháng 10 đạt 3 tỷ đồng;

Dự án xây dựng đường huyện 55 đoạn từ quốc lộ 10 đến trường THCS Phương Cường Xá, vốn đầu tư 3dồng đồng, dự kiến tháng 10 đạt hơn 6 tỷ đồng;

Dự án xây dựng Nhà làm việc các cơ quan huyện ủy – HĐND- UBND huyện Tiền Hải, vốn đầu tư 109 tỷ đồng, dự kiến tháng 10 đạt gần 3 tỷ đồng;

Dự án nâng cấp cải tạo tuyến đường cứu hộ cứu nạn đường huyện 35 từ cầu Bắc Hải đến cống ông ý huyện Tiền Hải, vốn đầu tư gần 35 tỷ đồng, dự kiến tháng 10 đạt gần 2 tỷ đồng;

Dự án cải tạo, nâng cấp đường tránh trú bão, cứu hộ, cứu nạn, phát triển kinh tế biển và đảm bảo an ninh quốc phòng ven biển phía Nam tỉnh Thái Bình (đường 221A), vốn đầu tư hơn 734 tỷ đồng, dự kiến tháng 10 đạt 6 tỷ đồng.

*Tính đến đầu tháng 10 năm 2019 đã cấp 685 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, 72 chi nhánh, 15 văn phòng đại diện với số vốn đăng ký đạt trên 6.992,5 tỷ đồng. Xác nhận Doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động: 161 doanh nghiệp; doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là 49 doanh nghiệp. Trong đó thu hồi GCN ĐKKD do DN giải thể là 49 doanh nghiệp.

* Trong tháng 10 năm 2019 số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới không phát sinh. Tính đến thời điểm này vẫn chỉ có là 02 dự án với tổng vốn đầu tư trên 15 triệu USD với mục đích đầu tư là ngành công nghiệp chế biến chế tạo.

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước ước tính 10 tháng năm 2019 đạt 15.355 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa ước đạt 5.778 tỷ đồng, tăng 19,1%; thu thuế xuất nhập khẩu ước đạt trên 1.082 tỷ đồng, giảm 1,7%; trợ cấp ngân sách trung ương ước đạt hơn 5.396 tỷ đồng giảm 2,9%...

Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 10 tháng năm 2019 ước đạt trên 9.474 tỷ đồng, giảm 1,0% so với cùng kỳ; trong đó: chi phát triển kinh tế ước đạt gần 3.877 tỷ đồng, giảm 1,0%; chi tiêu dùng thường xuyên ước đạt 5.398 tỷ đồng, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước...

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 10/2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 3.821 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Theo ngành kinh tế: Doanh thu thương nghiệp ước đạt 3.325 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú ước đạt 12,7 tỷ đồng giảm 3,1% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 269 tỷ đồng, tăng 1,72% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2,7 tỷ đồng giảm 4,2% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 211 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ. Trong tháng, tất cả các nhóm hàng bán lẻ đều tăng so với tháng trước, chỉ riêng nhóm hàng hóa khác giảm. Một số nhóm ngành hàng bán lẻ tăng hơn mức chung so với tháng trước như: Nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước đạt 30 tỷ đồng (+3,2%); hàng may mặc ước đạt 142 tỷ (+2,5%); đá, kim loại quý ước đạt 64 tỷ đồng (+6%); nhóm ô tô con ước đạt 51 tỷ đồng(+2%); …

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước 10 tháng năm 2019 đạt 36.708 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Theo ngành kinh tế: Doanh thu thương nghiệp ước đạt 31.904 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú ước đạt 131 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 2.630 tỷ đồng; tăng 8,9% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 29 tỷ đồng tăng 7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 2.011 tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước 10 tháng năm 2019 đạt 31.904 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ. Chia theo nhóm ngành hàng bán lẻ, ngành hàng tăng so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước đạt 586 tỷ đồng (+29%);Nhóm xăng dầu các loại ước đạt 5.309 tỷ đồng (+18%);.. Còn lại tất các nhóm đều tăng, riêng nhóm ô tô con ước đạt 468 tỷ đồng, giảm 12% so cùng kỳ.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Xuất khẩu:

Tháng 10/2019, trị giá xuất khẩu ước đạt 159 triệu USD, tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 10 % so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: kinh tế tư nhân ước đạt 106 triệu USD, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 41,7% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 53 triệu USD, giảm 0,7% so với tháng trước và giảm 24% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng có giá trị xuất khẩu tháng 9/2019 tăng so với tháng trước như: Xăng dầu các loại tăng gấp 3 lần; sản phẩm gốm sứ (+19,6%); xơ, sợi dệt các loại (+18,5%);… Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm: Gỗ (-38%); máy tính, linh kiện (-22%).

Trị giá xuất khẩu 10 tháng năm 2019 ước đạt 1.220 triệu USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế nhà nước ước đạt 0,14 triệu USD, giảm 95% so với cùng kỳ năm trước. Kinh tế tư nhân ước đạt 720 triệu USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 500 triệu USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng có giá trị xuất khẩu 9 tháng năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Xăng dầu tăng gấp 10 lần; Sắt thép tăng gấp 1,9 lần; sản phẩm mây tre đan (+45,6%);... Bên cạnh đó mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Hàng thủy sản (-38%); sản phẩm gốm sứ (-17%); xơ, sợi dệt các loại (-8%); ...

Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu tháng 10/2019 ước đạt 111 triệu USD, giảm 17% so với tháng trước và tăng 35 % so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế tư nhân trị giá nhập khẩu ước đạt 56 triệu USD, giảm 33% so với tháng trước và tăng 95% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 55 triệu USD, tăng 9% so với tháng trước và tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu tháng 9/2019 tăng so với tháng trước như: Hóa chất tăng gấp 4 lần; thủy sản (+91%);…Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm: Xăng dầu (-59%); chất dẻo nguyên liệu (-40%).

Trị giá nhập khẩu 10 tháng năm 2019 ước đạt 1.160 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: kinh tế tư nhân ước đạt 647 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 513 triệu USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu 9 tháng năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Bông các loại (+97%); sắt thép các loại (+65%);... Bên cạnh đó mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Hóa chất(-55%); xơ, sợi dệt (-9%).

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2019 tăng 0,67 % so với tháng trước (khu vực thành thị tăng 0,88%; khu vực nông thôn tăng 0,64%); tăng 2,71% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,42 % so với cùng tháng năm trước.

Trong tháng nhóm có các nhóm tương đối ổn định. 04 nhóm có chỉ số tăng, 02 nhóm có chỉ số giám, còn lại các nhóm như tháng trước. Chỉ số nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,50% do nhóm lương thực tăng 0,43%, thực phẩm tăng 2,07%. Nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước như: nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,03%; Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,15%...

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2019 tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có chỉ số tăng cao như: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 11,24%; nhóm giáo dục tăng 6,62%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,95%... Nhóm giao thông giảm 0,60% và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,18%.

Vận tải và dịch vụ hỗ trợ

Vận tải hành khách

Tháng 10/2019, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 139 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt hơn 1,9 triệu người tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; số lượt khách luân chuyển ước đạt 219 triệu người.km, tăng 1,7% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 29,8%.

Doanh thu vận tải hành khách 10 tháng năm 2019 ước đạt 1.343 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt hơn 18 triệu người, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 2.064 triệu người.km so với cùng kỳ năm trước tăng 10,7%.

Vận tải hàng hoá

Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 10/2019 ước đạt 355 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2018. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt hơn 2 triệu tấn, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt hơn 831triệu tấn.km, tăng 3% so với tháng trước, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu vận tải hàng hóa 10 tháng năm 2019 ước đạt 3.296 tỷ đồng, tăng gần 10% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó vận chuyển hàng hóa đường bộ chiếm tỷ trọng 55%, tăng 10,9%; vận chuyển hàng hóa đường biển chiếm tỷ trọng 38%, tăng 9,7%. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 20 triệu tấn, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 7.560 triệu tấn.km, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 10/2019 ước đạt 4,4 tỷ đồng, tăng 4% so với tháng trước và tăng 27% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải 10 tháng năm 2019 ước đạt 40 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước.

Một số tình hình xã hội

Lao động, việc làm

Tháng 10 năm 2019, toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho khoảng 2.812 người (trong đó: việc làm tại địa phương 2.092người, cung ứng đi làm việc ở tỉnh ngoài 512 người, xuất khẩu lao động 208 người).

Tháng 10/2019, có 4.831 lao động tham gia học nghề, trong đó: trình độ Cao đẳng: 832 người, trình độ Trung cấp: 858 người, trình độ Sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng: 3.141 người.

Trợ cấp xã hội

Hiện tại trên địa bàn toàn tỉnh có 03 Trung tâm đang quản lý 316 người nghiện ma túy trong đó: Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục –Lao động Xã hội thành phố hiện đang quản lý 102 người nghiện; Trung tâm Cai nghiện ma túy và Chăm sóc đối tượng xã hội hiện đang quản lý 242 người nghiện ma túy.

Công tác đối với người có công

Triển khai thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với người và gia đình có công với cách mạng, cụ thể: Trong tháng 10/2019, đã sửa đổi thông tin cá nhân trong hồ sơ NCC cho 21 trường hợp; đề nghị giám định do sót vết thương cho 7 trường hợp; giải quyết chế độ cho thân nhân liệt sỹ 15 trường hợp; tiếp nhận giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học 13 trường hợp; giải quyết chế độ cho 12 thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; di chuyển 42 hồ sơ người có công đi tỉnh ngoài; cấp 15 thẻ thương, bệnh binh.

Tiếp tục thực hiện công khai kết quả rà soát thực chứng con đẻ của người hưởng chính sách đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học sinh con dị dạng dị tật.

Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm

Tình hình dịch bệnh:

Trong tháng trên địa bàn tỉnh không phát hiện các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như Cúm A/H5N1, H7N9, bệnh dại, bệnh tả. Ghi nhận một số trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm như: Sốt xuất huyết lâm sàng 105 trường hợp (62 bệnh nhân dương tính với virus Dengue); 363 trường hợp sốt phát ban nghi Sởi (197 trường hợp dương tính vi rút Sởi xuất hiện ở cả người lớn và trẻ nhỏ); 209 bệnh nhi mắc bệnh tay chân miệng. Các bệnh truyền nhiễm khác như: Hội chứng Cúm, Viêm não vi rút, Thủy đậu, Quai bị...có xu hướng gia tăng so với cùng kỳ năm 2018.

Tình hình HIV/AIDS:

Các cơ sở y tế đã tiếp nhận và điều trị bằng thuốc Methadone cho 1.264 người nghiện ma túy; điều trị ARV cho 1.218 bệnh nhân, tư vấn và kê đơn cho 46 trường hợp phơi nhiễm HIV;

-Tính đến ngày 31/9/2019, toàn tỉnh có 2.168 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó: 1.476 bệnh nhân AIDS. Phát hiện 48 người nhiễm HIV mới (08 người ngoại tỉnh) , không có trường hợp tử vong do AIDS được báo cáo; 254/286 xã, phường, thị trấn có người nhiễm HIV.

Văn hoá - Thể thao

Các đơn vị chức năng đã tổ chức thành công giải cầu lông Việt Nam giải các cây vợt xuất sắc toàn quốc năm 2019. Chỉ đạo Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh tổ chức tập huấn và tham gia thi đấu 07 giải (gồm: Vô địch Boxing toàn quốc; vô địch điền kinh toàn quốc, Bơi lặn bể 50m vô địch toàn quốc; Vô địch Karatedo quốc gia, Cầu lông các cây vợt xuất sắc, việt dã Báo Hà Nội mới) đạt 04 HCV, 04 HCB, 08 HCĐ.

Nhà hát Chèo Thái Bình tham gia Hội diễn Sân khấu Chèo toàn quốc năm 2019 tại Bắc Giang đạt 04 HCV và 04 HCB.

Tình hình an toàn giao thông

Theo báo cáo của Ban an toàn giao thông từ ngày 16/9/2019 đến ngày 15/10/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 07 người chết và 01 người bị thương.

Tình hình cháy nổ

Trong tháng 10/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, làm bị thương 01 người, thiệt hại về tài sản ước tính 196 triệu đồng./.


Cục Thống kê tỉnh Thái Bình

    Tổng số lượt xem: 118
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.