Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ sáu, ngày 10 tháng 7 năm 2020
English
a A
Ngày 05/01/2020-15:37:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2019 tỉnh Thừa Thiên Huế
Theo Báo cáo số 368/BC-UBND ngày 31/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Năm 2019, là năm tăng tốc thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XV và Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 69/2018/QH14 ngày 08/11/2018 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 30/11/2018 của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 23/2018/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 của HĐND tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 01/01/2019 của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019.

Với quyết tâm hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ nêu tại Nghị quyết 23/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, nhờ vào sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự nổ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2019 có 12/14 chỉ tiêu đạt kế hoạch đề ra, 02/14 chỉ tiêu không đạt (tốc độ tăng trưởng kinh tế, kim ngạch xuất khẩu), cụ thể như sau:

Stt

Chỉ tiêu chủ yếu

TH năm 2018

KH năm 2019

Ước TH năm 2019

Ghi chú

I

Kinh tế

1

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) (%)

6,61

7,5-8,0

7,18

Không đạt

Tr.đó: - Nông Lâm Ngư nghiệp (%)

3,46

2,28

-4,13%

Không đạt

- Công nghiệp-Xây dựng (%)

8,24

10,56

11,32%

- Dịch vụ (%)

6,78

6,9

7,39%

- Thuế sản phẩm (%)

4,23

5,58

8,37%

2

Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người (USD)

1.839

1.915

2.007

Đạt

3

Giá trị xuất khẩu (triệu USD)

864

1.055

950

Không đạt

4

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Tỷ đồng)

19.770

22.700

22.700

Đạt

5

Thu ngân sách Nhà nước (Tỷ đồng)

7.788

7.213,5

7.787

Vượt

II

Xã hội

6

Mức giảm tỷ suất sinh (‰)

2

2

2

Đạt

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (‰)

10,8

10,8

10,8

Đạt

7

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng:

-Theo cân nặng (%)

-Theo chiều cao (%)

7,6

10,4

< 7,6

<10,4

7,6

10,4

Đạt

8

Tỷ lệ hộ nghèo giảm (%)

1,06

0,7%

(còn 4,33%)

0,86%

(còn 4,17%)

Đạt

9

Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế (%)

95

98,07

98,5%

Đạt

10

Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề (%)

62

64

64

Đạt

11

Tạo việc làm mới (nghìn người)

16,6

16

16

Đạt

III

Môi trường

12

Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch (%)

80

85

85

Đạt

13

Độ che phủ rừng (%)

57,3

57,3

57,3

Đạt

14

Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom (%)

94

96

96

Đạt

A. Kết quả thực hiện nhiệm vụ tháng 12 và cả năm 2019

1. Tăng trưởng kinh tế

1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2019 ước đạt 7,18% với giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh – GRDP ước đạt gần 31.330,53 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010), chưa đạt kế hoạch đề ra. Đây là mức tăng khá so với các tỉnh trong khu vực miền Trung nói chung, cao hơn mức tăng trưởng bình quân của 5 tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung[1] và cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước 6,8%/năm.

- Khu vực dịch vụ duy trì đà tăng trưởng ổn định, ước đạt 7,39%, đóng góp lớn nhất là khu vực dịch vụ du lịch khoảng 30-40% tổng giá trị tăng thêm của ngành.

- Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng khá, đạt khoảng 11,32%, nhờ đóng góp của các dự án mới[2] và mở rộng công suất của một số nhà máy.

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng tình hình thời tiết hạn hán và dịch tả lợn Châu Phi lây lan trên diện rộng, tăng trưởng âm ước đạt -4,13%. Trong đó, thủy sản ước tăng 4%; ngành lâm nghiệp tăng khoảng 3%; nông nghiệp giảm 10%, trong đó chăn nuôi giảm 42%.

1.2 Cơ cấu các khu vực kinh tế: dịch vụ chiếm ưu thế với tỷ trọng 48,40%; Công nghiệp – xây dựng 31,81%; Nông, lâm, thủy sản 11,38%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,41%.

1.3 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người đến năm 2019 ước đạt 46,7 triệu đồng, tương đương 2.007 USD, vượt kế hoạch (1.915 USD/người).

1.4 Thu ngân sách ước đạt 7.787 tỷ đồng, bằng 108% dự toán, bằng cùng kỳ, trong đó thu nội địa 7.300 tỷ đồng (chiếm 94% tổng thu NS), bằng 110,1% so với dự toán, tăng 7,3%[3]; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 455 tỷ đồng, bằng 82% dự toán, giảm 17%. Chi ngân sách ước đạt 10.044,11 tỷ đồng, bằng 99,2% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 2.779,6 tỷ đồng, bằng 93% dự toán; Chi sự nghiệp 6.809 tỷ đồng, bằng 105,1% dự toán.

1.5 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 22.700 tỷ đồng, tăng 15%, đạt kế hoạch. Trong đó, Vốn ngân sách Nhà nước (chiếm 20% tổng vốn), bằng KH, tăng 29%; Vốn tín dụng (chiếm 44%), đạt 99% KH, tăng 14%; Vốn đầu tư của doanh nghiệp (chiếm 14%), đạt 103% KH, tăng 11%; Vốn viện trợ (chiếm 5%), bằng 76% KH, giảm 13%; Vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 5%), đạt 60% KH, tăng 48%.

1.6 Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 950 triệu USD, đạt 90% KH, tăng 10%.

2. Tình hình phát triển các ngành, lĩnh vực

2.1 Phát triển du lịch - dịch vụ

2.1.1 Hoạt động du lịch:

Đã quan tâm đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng du lịch; hoạt động xúc tiến, tuyên truyền quảng bá, phát triển sản phẩm du lịch; tăng cường hợp tác liên kết phát triển du lịch Vùng- khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Đã tổ chức thành công Hội nghị "Phát triển du lịch miền Trung và Tây Nguyên" do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì; diễn đàn Du lịch Huế 2019: “Phát triển du lịch Thừa Thiên Huế thông minh và bền vững” nhằm sử dụng công nghệ thông tin phục vụ du lịch thông minh trên địa bàn tỉnh[4]. Bên cạnh đó, các chương trình du lịch, văn hóa, lễ hội, thể thao trong năm được tổ chức sôi động như Lễ hội Festival Nghề truyền thống Huế 2019; Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc thiểu số các tỉnh vùng biên giới Việt Nam - Lào, miền Trung và Tây Nguyên, Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới, Lễ hội Phật đản,....

Dịch vụ du lịch, xúc tiến đầu tư du lịch có sự chuyển biến: Đường đi bộ trên Sông Hương đưa vào hoạt động kết nối với phố đi bộ Chu Văn An - Phạm Ngũ Lão - Võ Thị Sáu đã tạo thành một không gian du lịch “tổng thể” phục vụ du lịch. Nhiều nhà đầu tư chiến lược lớn, có thương hiệu đến nghiên cứu, tìm hiểu đầu tư như Sun Group, FLC, Gami, Ecopark...cùng với các đoàn Famtrip, Presstrip đến tham quan khảo sát, “ba địa phương - một điểm đến”.

Cơ sở vật chất phục vụ du lịch được đầu tư phát triển: một số dự án mới đưa vào hoạt động như dự án Trung tâm thương mại Vincom và Khách sạn 5 sao Vinpearl, khu du lịch Về Nguồn, khách sạn Thuận Hóa, khách sạn Sen Trắng, khu nghỉ dưỡng huyền thoại Địa Trung Hải,Trung tâm giải trí Cinestar… góp phần nâng số lượng cơ sở lưu trú đến cuối năm 2019 gần 600 cơ sở với gần 11.000 phòng, 18.000 giường. Công suất lưu trú phòng ước đạt 65-70%. Hoạt động lữ hành với gần 90 đơn vị là doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện đăng ký cung cấp dịch vụ, trong đó 50 đơn vị lữ hành quốc tế.

Nhờ đó, năm 2019 tổng lượt khách du lịch đến Huế ước đạt 4.800 nghìn lượt, bằng 102,1% KH, tăng 10,8%, trong đó khách quốc tế đạt 2.220 nghìn lượt, tăng 12,7%; khách lưu trú ước đạt 2.250 nghìn lượt, tăng 6,6%. Doanh thu ngành dịch vụ du lịch ước đạt 4.900 tỷ đồng, đạt KH, tăng 9,6%, doanh thu xã hội từ du lịch ước hơn 12.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, tỉnh đã xây dựng một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng nhằm thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo và phát huy các giá trị di sản văn hóa với mục tiêu hình thành nhiều tuyến du lịch mới[5]. Các Đề án quảng bá thương hiệu Huế - Kinh đô ẩm thực, Phước Tích-Hương xưa làng cổ....Đã xây dựng các bảng chỉ dẫn, thông tin du lịch trong thành phố, phụ cận và các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh.

2.1.2 Hoạt động thương mại chuyển biến tích cực, hàng hóa phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong Tỉnh và khách du lịch. Tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả năm ước đạt 43.950 tỷ đồng, tăng 11,9%, bằng 102% KH. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh dự kiến tăng 2,5-2,8%. Công tác chuyển đổi mô hình quản lý chợ đã được quan tâm: có 7/38 chợ được chuyển đổi (sang các doanh nghiệp, hợp tác xã quản lý) của 03 địa phương: Thị xã Hương Thủy, Hương Trà và huyện Phú Lộc, đạt 18,4% KH[6].

2.1.3 Hoạt động xuất nhập khẩu: Kim ngạch xuất khẩu dự kiến khó đạt kế hoạch, ước đạt 950 triệu USD, bằng 90% KH, tăng 10%. Trong đó, hàng may mặc chiếm khoảng 48% tổng giá trị xuất khẩu (năm 2018 chiếm 56% tỷ trọng), giảm 4,1%; xơ, sợi dệt các loại chiếm 26%, tăng 24,2%; gỗ và sản phẩm gỗ chiếm 10%, tăng 49,3%; thủy sản chiếm 5%, giảm 2,5%; các mặt hàng hóa khác chiếm 10% tăng 72%. Nguyên nhân có 23/106 doanh nghiệp không có đơn hàng xuất khẩu trở lại trong năm 2019, giảm gần 45 triệu USD, chủ yếu hàng may mặc, xơ sợi giảm 31/45 triệu USD[7]; cao su giảm 4,4/45 triệu USD, và một số hàng hóa.... Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 533 triệu USD, giảm 11,5%, bằng 80,7% KH.

2.1.4 Hoạt động tín dụng

Ước thực hiện đến cuối năm 2019, tổng nguồn vốn huy động đạt 48.600 tỷ đồng, tăng 12,7% so với đầu năm. Tổng dư nợ tín dụng ước đạt 49.170 tỷ đồng, tăng 8,0%, chưa đạt KH (KH tăng từ 12-14%). Nợ xấu ở mức 750 tỷ đồng, chiếm 1,53% so với tổng dư nợ.

2.1.5 Hoạt động vận tải

Vận tải hành khách cả năm ước đạt 25.000 nghìn lượt khách, tăng 10%; vận tải hàng hóa ước đạt 10.122 nghìn tấn, tăng 11%. Doanh thu vận tải, bốc xếp cả năm ước đạt 3.000 tỷ đồng, tăng 13%.

2.1.6 Hoạt động lĩnh vực thông tin truyền thông

Đang tích cực chuẩn bị các dự án của khu công nghệ thông tin tập trung, hoàn thành thủ tục tham gia chuỗi công viên phần mềm Quang Trung. Hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin được quan tâm đầu tư hoàn thiện, đảm bảo an toàn mạng lưới thông tin, thông tin liên lạc; thực hiện chỉnh trang tháo dỡ dây thuê bao. Đến nay, đã xây dựng cống bể và hạ ngầm dây thuê bao tại 30 tuyến đường phụ đạt 50/65,7km. Đã hoàn thành 100% hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được nộp qua mạng; 100% cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã áp dụng chữ ký số trong trong văn bản điện tử; 100% cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức 3,4 và thực hiện Một cửa liên thông trên môi trường mạng. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ đô thị thông minh, đưa vào vận hành chính thức 5 dịch vụ gồm: phản ánh hiện trường, giám sát đô thị thông qua cảm biến camera, giám sát thông tin báo chí, giám sát dịch vụ hành chính công, cảnh báo mạng lưới đô thị thông minh. Đến nay đã có 104 cơ quan tham gia xử lý phản ánh hiện trường; đã tiếp nhận, xác minh, phân phối các cơ quan xử lý hơn 4.000 phản ánh của người dân trên tất cả các lĩnh vực; bước đầu đã chuyển các cơ quan xử lý phạt tiền gần 135 triệu đồng góp phần nâng cao ý thức tự giác chấp hành và trách nhiệm của người dân đối với đô thị văn minh.

Doanh thu lĩnh vực thông tin truyền thông ước đạt 3.125 tỷ đồng, tăng 12%, trong đó lĩnh vực công nghệ thông tin có chuyển biến tốt, chiếm tỷ trọng 43%, doanh thu viễn thông chiếm tỷ trọng 48%, in và phát hành 5%.

2.2. Về công nghiệp – xây dựng

2.2.1 Về công nghiệp

Năm 2019, giá trị sản xuất ước đạt 46.870 tỷ đồng (theo giá hiện hành), đạt 98,5% KH, tăng 11,8%. Chỉ số IIP tăng 8,0%; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,8%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,1%; sản xuất, phân phối điện tăng 20,4%, công nghiệp khai khoáng tăng 2,8%.

Đóng góp tăng trưởng nhờ các năng lực sản xuất mới như nhà máy Sợi Phú Quang; NM SX nguyên phụ liệu may mặc Song Thiên Long; các NM SX men Frit của Công ty men Frit Hương Giang, Công ty CP Frit Phú Xuân và Công ty CP Công nghệ Frit Phú Sơn; nhà máy gạch ốp lát granit Vitto Phú Lộc; NM thủy điện A Lin B2, dự án điện mặt trời Phong Điền;NM SX thủy tinh Vico silica; NM SX khoáng Cristobalite Phenikaa; NM xi măng Đồng Lâm giai đoạn 2,…. Nhờ đó, nhiều sản phẩm tăng so với năm 2018, cụ thể: Bia 245 triệu lít, bằng 106% KH, tăng 9,4%; Sợi các loại 92 nghìn tấn, tăng 9,1%, bằng 97% KH; Quần áo lót 360 triệu cái, tăng 12%, 100% KH; Áo quần may sẵn 64 triệu sản phẩm, tăng 6%[8]; Men frit 250 nghìn tấn, tăng 30,9%, bằng 138,9% KH[9]; Gạch ốp lát 17 triệu m2, tăng 57%[10]; Lon nhôm 13 nghìn tấn, bằng 118% KH, tăng 42%; Điện sản xuất 1.300 triệu kwh, bằng 81,3% KH, tăng 20,7%; Dăm gỗ 550 nghìn tấn, bằng 110% KH; tăng 10,4%,.…

Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm: Xi măng ước đạt 2.280 nghìn tấn, bằng 76% KH, giảm 6,8% do thị trường tiêu thụ có dấu hiệu bão hòa; Tôm đông lạnh đạt 6.000 tấn, bằng 100% KH, giảm 11,4% do nguồn nguyên liệu đầu vào thiếu ổn định.

2.2.2 Về xây dựng

Đôn đốc triển khai thực hiện các dự án Khu đô thị Phú Mỹ An, The Manor, Apecland, Đông Nam Thủy An,... thuộc khu đô thị mới An Vân Dương. Bước đầu đã hình thành các dự án khu đô thị kiểu mẫu và khu nhà ở cao cấp. Đồng thời, tăng cường hỗ trợ triển khai các dự án nhà ở xã hội, nhà thu nhập thấp[11]... sớm đưa vào sử dụng. Dự kiến năm 2019, hoàn thành 1.420 căn hộ/nhà ở, với tổng diện tích sàn xây dựng nhà ở 114.700 m2. Diện tích nhà ở bình quân ước đạt 24,6 m2/người, tăng 0,42%.

Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019[12] toàn tỉnh tỷ lệ có nhà ở kiên cố và bán kiên cố chiếm 98,2%; diện tích nhà ở bình quân đạt 23,7m2/người, bằng mức bình quân chung cả nước.

2.3. Về nông, lâm, ngư nghiệp

2.3.1 Trồng trọt

Tập trung đầu tư để chuyển đổi khoảng 2.310 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng rau, màu và nuôi trồng thủy sản; vùng sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng lớn 3.900ha; hình thành sự liên kết, hợp đồng của các doanh nghiệp trong sản xuất[13], mở rộng mô hình ứng dụng theo VietGAP 120 ha. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 75.359 ha, giảm 0,39%[14]. Sản lượng lúa ước đạt 326,6 nghìn tấn, giảm 2,33%; năng suất bình quân 59,6 tạ/ha, giảm 1,6tạ/ha[15]; ngô: 1.593 ha, năng suất đạt 39,9 tạ/ha, sản lượng 6.355 tấn giảm 3%; khoai lang 9 nghìn tấn, giảm 12%; lạc 3.173 ha năng suất đạt 17,3 tạ/ha, sản lượng 5.477 nghìn tấn, giảm 25,6%; Sản lượng thu hoạch một số loại cây lâu năm: mũ cao su: 6.080 tấn; chuối 13.037 tấn; bưởi, thanh trà 9.241 tấn; dứa 1.293 tấn; hồ tiêu 181 tấn…

2.3.2 Chăn nuôi

Đã hình thành các vùng chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại và gia trại, cách ly khu dân cư, đảm bảo về môi trường. Chăn nuôi gia cầm có nhiều thuận lợi, giá thịt gà hơi giữ mức ổn định nên khuyến khích mở rộng quy mô đàn. Ước cả năm gia cầm đạt 4 triệu con, tăng 31,4%, bằng 126% KH. Chăn nuôi gia súc gặp khó khăn. Dịch tả lợn Châu Phi tái phát lại trên diện rộng ở 63/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tính đến ngày 18/11, trên địa bàn tỉnh tổng số lợn mắc bệnh và tiêu hủy là 73.331 con[16] với tổng trọng lượng 4.411 tấn. Uớc tính thiệt hại 130,64 tỷ đồng, đã hỗ trợ tới người chăn nuôi với số tiền 77,9 tỷ đồng[17]. Chăn nuôi trâu, bò gặp khó khăn do đồng cỏ thu hẹp, thiếu lao động và các dự án khuyến nông ở một số huyện đến thời hạn chấm dứt như BCC[18]. Ước năm 2019, tổng đàn lợn 120 nghìn con bằng 60% KH; đàn trâu duy trì 19,4 nghìn con, bằng 88,2% KH; đàn bò 31,8 nghìn con,bằng 88,5% KH.

2.3.3 Lâm nghiệp

Sản lượng khai thác cả năm ước đạt 628,7 nghìn m3 gỗ. Diện tích trồng rừng tập trung đạt 6.200 ha, tăng 0,8%, toàn bộ là rừng sản xuất. Diện tích trồng rừng 6.200 ha, đạt KH. Đã triển khai tốt công tác trồng rừng gỗ lớn, lũy kế đến nay cấp chứng chỉ rừng FSC đạt 7.778 ha. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì đạt 57,35%.

Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường; đến tháng 12/2019 đã bắt giữ và xử lý 495 vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp, tịch thu 485,7m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách khoảng 3,5 tỷ đồng.

Công tác PCCCR được đặc biệt chú trọng; tính đến tháng 12/2019, toàn tỉnh đã xảy ra 55 vụ phá rừng, tăng 17 vụ, với diện tích bị phá 10,84 ha, giảm 0,24 ha; 27 vụ cháy rừng, tăng 14 với diện tích rừng bị cháy 177,94ha, nguyên nhân chủ yếu do thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài, kết hợp với gió Tây Nam thổi mạnh nên đã gây cháy lan trên diện rộng;…

2.3.4 Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác cả năm ước đạt 57.787 tấn, tăng 3,9%, bằng 96,3 KH, trong đó sản lượng nuôi trồng 16.640 tấn, tăng 4,3%, bằng 92,4% KH; sản lượng khai thác 41.145 tấn, tăng 3,7% bằng 98% KH. Khai thác thủy sản biển tăng cao, tổng số tàu cá trên toàn tỉnh là 722 chiếc; trong đó tàu cá xa bờ là 419 chiếc, tàu cá có chiều dài từ 24m trở lên có 11 chiếc[19].

Sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển đổi theo hướng chất lượng, an toàn và tăng thu nhập cho người dân; hình thành sự liên kết trong sản xuất [20]. Đã xác định 18 sản phẩm được hỗ trợ nâng cấp tiêu chuẩn hóa; dự kiến đến cuối năm có 10 sản phẩm được nâng cấp, tiêu chuẩn hóa theo chu trình OCOP.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Dự kiến trong năm 2019 có thêm 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 54 xã (đạt 52%). Giá trị sản xuất nông nghiệp cả năm ước đạt 6.300 tỷ đồng (theo giá hiện hành), giảm 4,7%.

3. Tình hình hoạt động trong các khu công nghiệp, khu kinh tế

Tính đến cuối tháng 10/2019, đã cấp mới 10 dự án đầu tư[21] với tổng vốn đăng ký cấp mới là 9.370 tỷ đồng đạt 153% KH. Lũy kế đến nay, có 146 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng ký trên 100.000 tỷ đồng (trong đó 34 dự án FDI với vốn đầu tư đăng ký là gần 68.000 tỷ đồng). Cụ thể: 92 dự án đang hoạt động, chiếm 64% tổng số dự án; 26 dự án đang triển khai thực hiện, chiếm 18%; 10 dự án đang thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, chiếm 4%; 08 dự án chậm tiến độ chiếm 6% tổng số dự án, 12 dự án ngừng hoạt động, chiếm 8%, thu hồi 02 dự án. Vốn đầu tư thực hiện đạt 4.500 tỷ đồng đạt 75% kế hoạch; vốn thực hiện lũy kế đạt 32.700 tỷ đồng. Trên địa bàn, hiện có 210 doanh nghiệp đăng ký hoạt động ổn định và tăng trưởng khá.

Năm 2019, GTSX công nghiệp ước đạt 29.600 tỷ đồng (giá hiện hành), đạt 102,5% so với KH, tăng 10%, chiếm 62–64% tổng giá trị SXCN toàn tỉnh; Doanh thu ước đạt 30.000 tỷ đồng, đạt 104% KH, tăng 8%; Nộp ngân sách: 2.635 tỷ đồng, tăng 9%; Giá trị xuất khẩu: 780 triệu USD, tăng 10%, chiếm 74% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Giải quyết việc làm cho 33.000 lao động, tăng 3.000 lao động.

Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng kỹ thuật KKT, KCN chưa đồng bộ, thiếu hệ thống xử lý nước thải các KCN (trừ KCN Phú Bài) đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thu hút các nhà đầu tư thứ cấp.

4. Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

4.1 Về thu hút, thực hiện đầu tư

Trong 11 tháng năm 2019, đã cấp mới 30 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký mới và điều chỉnh tăng vốn đạt trên 22.711 tỷ đồng, chiếm trên 12% tổng vốn đăng ký từ trước đến nay, vượt kế hoạch đề ra với số dự án thu hút được gấp 2 lần về lượng và gấp 2,27 lần về vốn[22] (gồm 19 dự án trong nước với vốn đăng ký gần 14.428 tỷ đồng; 11 dự án đầu tư nước ngoài 293 triệu USD). Lũy kế đến nay, trên địa bàn có 559 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 170.000 tỷ đồng, trong đó 450 dự án trong nước với số vốn 85.000 tỷ đồng; 109 dự án với 3.798,97 triệu USD[23].

Đẩy mạnh đôn đốc hỗ trợ chuẩn bị đầu tư cho các dự án: BRG, Ecopark, Văn Phú Invest, Cotana; đã khởi công dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Vinh Thanh của Tập đoàn PSH (Tây Ban Nha),… Lũy kế đến nay, có hơn 200 dự án đang chuẩn bị đầu tư, triển khai xây dựng, chiếm 36% dự án đăng ký đầu tư toàn tỉnh. Bên cạnh đó, vẫn còn một số dự án lớn chậm tiến độ triển khai, cụ thể: Dự án Laguna Lăng Cô (do chưa điều chỉnh quy hoạch chi tiết, lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường, thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công, cấp phép xây dựng,…); Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng Quốc tế Minh Viễn Lăng Cô (bồi thường, GPMB chậm); Dự án Khu phức hợp du lịch và dịch vụ Đăng Kim Long (vướng mắc GPMB),…

Vốn đầu tư thực hiện năm 2019 ước đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch; vốn thực hiện lũy kế đến nay đạt gần 50.000 tỷ đồng, bằng 30% tổng vốn đầu tư đăng ký (trong đó địa bàn KKT, KCN ước đạt 32.700 tỷ đồng).

Công tác rà soát, giám sát tiến độ các dự án ngoài ngân sách theo Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh đang tiếp tục được chú trọng thực hiện. Đã có 11/79 dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động, hoạt động giai đoạn 1; 02 dự án chuẩn bị đi vào hoạt động đầu năm 2020; 30/79 tiếp tục theo dõi, đang tích cực triển khai thực hiện; 24/79 dự án đã chấm dứt hoạt động hoặc do nhà đầu tư tự quyết định chấm dứt[24] và 12/79 dự án chuẩn bị làm thủ tục chấm dứt hoạt động dự án. Công tác rà soát, tiếp tục bổ sung thêm các dự án khác đưa vào giám sát đặt biệt nhằm tạo sự bình đẳng trong đầu tư, phát huy cao nhất hiệu quả sử dụng đất. Ngoài ra, đã thu hồi 02 dự án ngoài danh mục thuộc Nghị quyết số 08/NQ-HĐND do nhà đầu tư tự quyết định chấm dứt hoạt động[25].

4.2 Về Xúc tiến đầu tư

Đã bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư và cung cấp thông tin chi tiết 55 dự án; trong đó 13 dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư; nhờ đó, thu hút nhiều nhà đầu tư lớn quan tâm. Đã tổ chức xúc tiến các nhà đầu tư lớn tại thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh; tại các nước: Ấn Độ, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc gắn với việc hình thành nên mạng lưới chuyên gia hỗ trợ kêu gọi đầu tư tại nước ngoài. Ngoài ra, đang xúc tiến, hỗ trợ cho nhiều nhà đầu tư lớn quan tâm khảo sát, nghiên cứu đầu tư: Vietravel Airlines, Tập đoàn Sungroup, Sovico, FLC, Công ty CP Toàn Cầu TMS, Tập đoàn Gami.…

Đã tổ chức thành công nhiều hội nghị lớn trong năm: Hội nghị “Phát triển du lịch miền Trung và Tây Nguyên” trong đó đã tiến hành trao Quyết định chủ trương đầu tư cho 04 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 13.000 tỷ đồng, ký kết 04 Biên bản hợp tác chiến lược với các Công ty, Tập đoàn hàng đầu của cả nước[26]; Hội nghị về chính phủ điện tử (Egov) với chủ đề “Phát triển cổng dịch vụ công quốc gia và hệ thống điện tử một cửa góp phần nâng cao khả năng phục vụ người dân và doanh nghiệp” gắn với Hội nghị xúc tiến đầu tư về công nghệ thông tin; Lễ công bố dịch vụ Trung tâm giám sát điều hành đô thị thông minh; Hội nghị giám đốc công nghệ thông tin Miền Trung – Tây Nguyên; Hội nghị thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp với chủ đề "Nông nghiệp Thừa Thiên Huế phát triển bền vững - An toàn - Ứng dụng công nghệ cao"; Hội nghị quan chức cấp cao Nông Lâm nghiệp ASEAN (SOM – AMAF).

4.3 Về phát triển doanh nghiệp

Trong 11 tháng đã thành lập mới 688 doanh nghiệp và 364 đơn vị trực thuộc với vốn đăng ký 9.726 tỷ đồng, tăng 5,7% về lượng và tăng 73,7% về vốn, bình quân 14,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, cao hơn mức bình quân cả nước, mức cao nhất trong những năm trở lại đây; điều chỉnh tăng vốn trên 3.000 tỷ đồng; có 236 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 18%; song có tới 319 doanh nghiệp tạm ngừng và 98 doanh nghiệp giải thể tự nguyện, 51 doanh nghiệp giải thể.

Năm 2019, dự kiến cấp mới 740 doanh nghiệp (đạt 105,7% KH, tăng 6,9%), tổng vốn đăng ký 10.000 tỷ đồng, tăng 55%; gần 400 đơn vị trực thuộc thành lập mới; 250 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 23%. Lũy kế doanh nghiệp đang hoạt động ước đạt 5.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo báo cáo tài chính năm 2018, tình hình phát triển của doanh nghiêp trên địa bàn chưa ổn định và bền vững[27].

Công tác triển khai chính sách hỗ trợ DNNVV đạt kết quả đáng kể, với kinh phí lũy kế trên 4 tỷ đồng với 10 nội dung được hỗ trợ cho hơn 1.100 doanh nghiệp hưởng lợi[28]. Hiện nay, tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới; đang xúc tiến thành lập Chi nhánh của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia tại tỉnh Thừa Thiên Huế góp phần phát triển nền kinh tế tri thức tại địa phương cũng như với lợi thế là Trung tâm văn hoá, du lịch đặc sắc, y tế chuyên sâu, khoa học – công nghệ và giáo dục - đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao.

Đã tổ chức thành công Hội nghị giao ban công tác đăng ký kinh doanh các tỉnh, thành phố Khu vực Miền Trung và Tây Nguyên lần thứ I năm 2019; Đã xúc tiến thành lập Quỹ khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn tỉnh, dự kiến sẽ công bố thành lập Quỹ với vốn điều lệ ban đầu là 3.150 tỷ đồng (100% từ vốn góp của doanh nghiệp); đã tổ chức Hội thảo “Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hướng đến phát triển bền vững”, đặc biệt Chương trình gọi vốn đầu tư trực tiếp (pitching) nhằm kết nối các nhóm khởi nghiệp tại Huế với các quỹ đầu tư và nhà đầu tư cá nhân, hướng đến những tài trợ vốn thiết thực cho các ý tưởng, dự án khởi nghiệp đã thu hút 30 dự án đăng ký, trong đó 12 dự án được vào vòng gọi vốn trực tiếp. Kết quả 2 dự án được tài trợ vốn 700 triệu đồng, 6 dự án nhận được sự cam kết hỗ trợ phát triển ý tưởng, tài chính,…

Tiếp tục các hoạt động tháo gỡ vướng mắc; cà phê doanh nhân; Chủ tịch đồng hành cùng doanh nghiệp theo định kỳ. Hội nghị Chủ tịch UBND tỉnh đồng hành với doanh nghiệp với chủ đề “Vì một nền kinh tế xanh – phát triển bền vững”; Các hoạt động xây dựng “Thành phố 4 mùa hoa”; chủ nhật xanh, nói không với túi ni lông, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường được cộng đồng doanh nghiệp hưởng ứng, có nhiều cách làm sáng tạo.

4.4 Phát triển Kinh tế tập thể

Tính đến 30/10/2019, đã thành lập mới 18 Hợp tác xã (HTX)[29], nâng tổng số HTX đang hoạt động trên toàn tỉnh có 277 HTX, trong đó có 196 HTX Nông nghiệp, 74 HTX phi nông nghiệp, 07 Quỹ tín dụng nhân dân (TDND) đang hoạt động. Ước đến cuối năm 2019 thành lập mới thêm 02 HTX, nâng tổng số hợp tác xã trên địa bàn tỉnh lên 279, đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch năm 2019.Đến nay, công tác chuyển đổi HTX theo Luật Hợp tác xã 2012 cơ bản đã hoàn thành với 198 HTX. Tổng số thành viên ước đạt 116.051 thành viên, tăng 400 thành viên; tổng số lao động thường xuyên ước đạt 38.960 người, trong đó số lao động đồng thời là thành viên HTX ước đạt 37.474 thành viên, tăng 200 thành viên. Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong HTX ước đạt trên 3 triệu đồng/tháng. Doanh thu bình quân của HTX ước đạt gần 2 tỷ đồng/HTX.

5. Quản lý quy hoạch, đô thị, quản lý đầu tư xây dựng

5.1 Về quy hoạch, đô thị

Tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung xây dựng đô thị đạt 100%; Tỷ lệ phủ kín quy hoạch chi tiết xây dựng (quy hoạch phân khu) so với diện tích đất xây dựng đô thị đến nay đạt 58,1%; tỷ lệ đô thị hóa đạt 52,7%; đang đẩy nhanh tiến độ phủ kín quy hoạch phân khu đối với địa bàn tất cả các huyện thị xã, tổ chức lập các quy hoạch nhằm phục vụ các khu vực có nhu cầu cấp bách trong phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ nâng cao chất lượng cuộc sống người dân (quy hoạch khu tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng, rà soát tổng thể quy hoạch hệ thống nghĩa trang, các khu quy hoạch phục vụ cho việc kêu gọi đầu tư các dự án,...); rà soát tổng thể hệ thống quy hoạch nông thôn mới để đáp ứng yêu cầu, tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh.

Song song với quá trình triển khai thực hiện các quy hoạch nêu trên, tỉnh đang triển khai thực hiện các đồ án quy hoạch, đề án đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị trên toàn tỉnh có tính đột phá; cụ thể, đang triển khai thực hiện Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Huế[30], theo đó, mở rộng khu vực phát triển đô thị về phía thị xã Hương Thủy và một phần huyện Phú Vang với việc phát triển dân cư mật độ thấp, bảo tồn các giá trị văn hóa; tiến hành lập Quy hoạch tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 – đang triển khai giai đoạn lập Nhiệm vụ quy hoạch (đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến rộng rãi các chuyên gia, các đơn vị tư vấn có kinh nghiệm,...); triển khai lập đề án mở rộng đô thị Huế đến năm 2030 gắn liền với việc mở rộng địa giới hành chính thành phố Huế, sắp xếp lại các đơn vị hành chính để hướng tới việc xây dựng cơ chế chính sách đặc thù áp dụng tỉnh Thừa Thiên Huế với mục tiêu là "đô thị di sản - thành phố trực thuộc Trung ương".

Đồng thời, được sự quan tâm của Bộ Chính trị, đã chỉ đạo Tổng kết 10 năm thực hiện Kết luận số 48-KL/TW về xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020” nhằm đề xuất việc ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó, đề nghị công nhận Thừa Thiên Huế là Đô thị di sản – thành phố trực thuộc Trung ương và được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Triển khai thực hiện Nghị quyết, Tỉnh đang tích cực triển khai việc xây dựng Bộ tiêu chí đô thị di sản, Đề án mở rộng thành phố Huế và mô hình đô thị Huế và cơ chế, chính sách đặc thù phát triển đô thị di sản để làm nền tảng cho việc triển khai đồng bộ các đề án có tính chiến lược.

Ngoài ra, hiện nay tỉnh cũng đang triển khai lập Chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (đã phê duyệt Nhiệm vụ Chương trình làm cơ sở cho việc triển khai phê duyệt các khu vực phát triển đô thị trên toàn tỉnh).

Chương trình “Ngày Chủ nhật xanh” hàng tuần, triển khai chính thức từ đầu năm 2019 đã có hiệu ứng lan tỏa khắp các thôn xóm địa phương, vùng núi, vùng biển trên toàn tỉnh cùng với việc triển khai Đề án “thành phố 04 mùa hoa” góp phần chỉnh trang đô thị, bảo vệ môi trường làm cho Huế thêm xanh – sạch – sáng, được Thủ Tướng Chính phủ gửi thư khen.

Năm 2019, cơ bản đã triển khai đồng bộ công tác lập quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng từ mục tiêu chung đến việc triển khai thực hiện các nội dung cụ thể nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong việc tổ chức thực hiện với việc hướng tới mục tiêu sớm đưa Thừa Thiên Huế thành thành phố Trực thuộc Trung ương theo hướng đô thị di sản, phát triển hạ tầng kết cấu đồng bộ và tạo hành lang cơ sở pháp lý đầy đủ cho công tác xúc tiến đầu tư, phát triển đô thị.

5.2 Về đầu tư xây dựng

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cả năm ước đạt 22.700tỷ đồng đạt 100% kế hoạch, tăng 15%. Chi tiết gồm:

- Phân cấp quản lý: Do trung ương quản lý: 6.064 tỷ đồng (chiếm 27% tổng vốn), tăng 8,6%, bằng 98,3% KH; địa phương quản lý 16.636 tỷ đồng (chiếm 73%), tăng 17,5%, đạt 100,6% KH.

- Phân theo nguồn vốn: Vốn ngân sách Nhà nước 4.606 tỷ đồng (chiếm 20% tổng vốn), bằng 131% KH, tăng 29%; Vốn tín dụng 9.999 tỷ đồng (chiếm 44%), đạt 99% KH, tăng 14%; Vốn đầu tư của doanh nghiệp 3.250 tỷ đồng (chiếm 14%), đạt 103% KH, tăng 11%; Vốn viện trợ 1.200 tỷ đồng (chiếm 5%), bằng 76% KH, giảm 13%; Vốn đầu tư nước ngoài 1.199 tỷ đồng (chiếm 5%), đạt 60% KH, tăng 48%.

Tình hình thực hiện vốn đầu tư công thuộc tỉnh quản lý: Kế hoạch đầu tư công năm 2019 có 321 dự án, với tổng số vốn phân bổ đầu tư trong năm 1.936 tỷ đồng. Trong đó: trả nợ XDCB: 69 dự án với 28 tỷ đồng;hoàn vốn ứng trước: 11 dự án với 64 tỷ đồng; 131 dự án chuyển tiếp với 1.045 tỷ đồng; dự án bố trí khởi công mới: 92 dự án với 387 tỷ đồng.

Tỷ lệ giải ngân đến ngày 30/11/2019 nguồn vốn ngân sách tỉnh quản lý ước đạt 77,1% kế hoạch; trong đó: vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương đạt 80,9% kế hoạch, vốn các chương trình mục tiêu từ ngân sách trung ương đạt 85,1% kế hoạch, vốn các chương trình mục tiêu quốc gia đạt 87,2% kế hoạch, vốn trái phiếu chính phủ đạt 100% kế hoạch, vốn nước ngoài (ODA) đạt 62,8% kế hoạch, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư đạt 63,1% kế hoạch. Dự kiến đến 31/12/2019 giải ngân đạt khoảng 93-95% tổng kế hoạch vốn.

Đã tập trung đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trọng điểm như: dự án nâng cấp nhà ga Cảng hàng không quốc tế Phú Bài, nhà đầu tư can kết khới công trong tháng 12 năm 2019; đặc biệt dự án giải phóng mặt bằng di tích khu vực 1 Kinh Thành Huế trong thời gian ngắn đã tập trung đầu tư hạ tầng khu tái định cư, lập hồ sơ đền bù giải phóng mặt bằng để di dời cho 523 hộ và chuẩn bị cho hơn 2.400 hộ di dời trong năm 2020.

Tích cực hoàn thiện hạ tầng các KKT, KCN; Xây dựng hoàn thành Bến cảng số 3; tiếp tục triển khai xây dựng Bến cảng số 2 Cảng Chân Mây dự án nâng cấp, mở rộng và đấu nối các con đường tiếp cận các điểm du lịch; phát triển hạ tầng điện, nước và xử lý nước thải; di dời các trụ sở cơ quan nhà nước để tạo quỹ đất, xúc tiến kêu gọi đầu tư.

Đến nay, việc thi công, xây dựng được triển khai thuận lợi tập trung chủ yếu vào các dự án chuyển tiếp thi công nhanh: Đầu tư hệ thống cảm biến phục vụ phát triển dịch vụ đô thị thông minh; Trường THPT Bình Điền (giai đoạn 2); Nâng cấp, sửa chữa các công trình trạm bơm chống hạn Tây Nam Hương Trà; Hệ thống thoát nước, xử lý nước thải khu công nghiệp và khu phi thuế quan; Đường Phong Điền – Điền Lộc; đường Thủy phù - Vinh Thanh; Đường Chợ Mai - Tân Mỹ; Bảo tồn, tu bổ và phục hồi lăng Dục Đức; Bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị (giai đoạn 2); Bảo tồn, tu bổ, phục hồi điện Thọ Ninh (giai đoạn 2); Văn phòng làm việc một số cơ quan đơn vị thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế…

Tuy nhiên một số dự án thực hiện còn chậm tiến độ: Dự án cải thiện môi trường nước thành phố Huế; Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống Kinh thành Huế, Cầu Lợi Nông; tuyến đê A xã Vinh Hà huyện Phú Vang; Dự án "Chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh)-Tiểu dự án Thừa Thiên Huế; Kè chống sạt lở bờ sông Bồ đoạn qua thôn La Vân Thượng, xã Quảng Thọ[31].

Vốn đầu tư NSNN do Trung ương quản lý tiếp tục đầu tư vào những dự án trọng điểm quốc gia: Dự án đầu tư xây Trung tâm Sản phụ khoa bệnh viện TW Huế; xây dựng giảng đường Trường Cao đẳng Công nghiệp; Học viện Âm Nhạc Huế. Đã khởi công tuyến cao tốc Cam Lộ - La Sơn (tháng 9/2019) với mức đầu tư khoảng 7.669 tỷ đồng cho gần 100km (đoạn đi qua Thừa Thiên Huế 62km), bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ; sau khi hoàn thành sẽ tạo thành tuyến cao tốc Cam Lộ - La Sơn - Túy Loan, tiếp nối với tuyến cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi.

Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư vào các dự án gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An. Các dự án trọng điểm quốc gia BT và BOT tiếp tục thi công nhanh: Đường cao tốc La Sơn-Túy Loan; Hầm Hải Vân giai đoạn II. Nhiều dự án chuyển tiếp được thực hiện nhanh các công đoạn cuối để đưa vào hoạt động: Nhà máy thủy điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3; tòa nhà Vietinbank; Dự án Movenpic Resort Lăng Cô.

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu thực hiện các dự án chuyển tiếp: Dự án Laguna giai đoạn 2; Hạ tầng khu công nghiệp của Công ty cổ phần Hello quốc tế Việt Nam…

Tập trung hỗ trợ và đôn đốc triển khai các dự án trọng điểm của tỉnh theo tiến độ đề ra, cụ thể 07 dự án đầu tư vào khu đô thị An Vân Dương, 03 dự án lớn ngành du lịch (Sân gôn BRG, khu du lịch Lộc Bình, khu du lịch Vinh Thanh, Hải Dương) và 02 dự án vốn đầu tư ngân sách (gồm dự án GPMB khu vực 1 Kinh Thành Huế và dự án nâng cấp Cảng hàng không Phú Bài).

Tập trung xây dựng hạ tầng các điểm du lịch, bến thuyền sông Hương, khu vực đầm phá; dự án khu phức hợp cao cấp và casino Laguna; Khu quần thể sân golf, nghỉ dưỡng tại Lộc Bình, Khu nghỉ dưỡng, dịch vụ tại Vườn quốc gia Bạch Mã,.... đầu tư phát triển các dịch vụ đô thị thông minh: Xây dựng kiến trúc ICT đô thị thông minh; xây dựng hạ tầng nền tảng phát triển dịch vụ đô thị thông minh chủ yếu ưu tiên vào các lĩnh vực du lịch, y tế, giáo dục, giao thông và môi trường.

6. Về quản lý và bảo vệ tài nguyên và môi trường

Cơ bản hoàn thành thống kê đất đai năm 2018; phê duyệt 9/9 đơn vị cấp huyện về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Đã ban hành Hệ số điều chỉnh giá đất năm 2019 áp dụng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế[32]. Đã điều chỉnh, sửa đổi và bổ sung một số nội dung tại Bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng trong thời gian 05 năm (2015 - 2019)[33]. Đang xây dựng Bảng giá đất 05 năm 2020-2024.

Tính đến 20/9/2019 đã thực hiện giao đất 03 dự án với tổng diện tích 19,88 ha; cho thuê đất 32 dự án với diện tích 139,74 ha; thu hồi 04 dự án với diện tích 3,97 ha[34]. Cấp lần đầu cho tổ chức luỹ kế đến nay đã cấp được 8.998 giấy, với diện tích khoảng 216.850 ha, đạt 98,95% so với diện tích đất cần cấp, dự kiến đến 31/12/2019 đạt tỷ lệ 99,1%. Cấp lần đầu cho Hộ gia đình, cá nhân,...lũy kế đến nay đã cấp được 637.650 giấy, diện tích 125.786,88 ha, đạt tỷ lệ khoảng 98%; dự kiến đến 31/12/2019 đạt 98,56%.

Hoàn thành đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu địa chính huyện Phú Vang, thị xã Hương Trà; lũy kế đến 31/12/2019 sẽ có 7/9 đơn vị hành chính cấp huyện vận hành cơ sở dữ liệu địa chính; thực hiện và hoàn thành cơ sở dữ liệu thống kê kiểm kê, quy hoạch, kế hoạch, giá đất trên 4 đơn vị cấp huyện: Hương Trà, Hương Thủy, Phong Điền và Quảng Điền.

Ước thực hiện tổng số thu tiền sử dụng đất toàn tỉnh đến ngày 31/12/2019 là 1.300 tỷ đồng, đạt 155% kế hoạch, trong đó thu tiền sử dụng đất cấp tỉnh là 500 tỷ đồng và thu tiền sử dụng đất cấp huyện là 800 tỷ đồng.

Đã ban hành Quy định phân công, phân cấp quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn xây dựng và bùn thải trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế[35]. Phê duyệt 07 hồ sơ dự án báo cáo ĐTM và phê duyệt 01 hồ sơ dự án ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường...

Đang thực hiện đề án “Đánh giá tiềm năng và giải pháp khai thác cát nội đồng vùng Phú Vang - Phú Lộc” và đề án “Xác định hệ số quy đổi từ số lượng khoáng sản thành phẩm ra số lượng khoáng sản nguyên khai làm căn cứ tính phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”. Khai thác khoáng sản thực hiện đấu giá đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Đang đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh. Đã phát hiện 179 vụ vi phạm môi trường, tăng 74 vụ, đã tiến hành xử lý 171 vụ với tổng số tiền phạt 584,6 triệu đồng.

7. Về văn hóa – xã hội

7.1. Văn hóa – thể thao

Hoạt động trưng bày, triển lãm, mỹ thuật, nhiếp ảnh phong phú, đa dạng, tính nghệ thuật cao, đáp ứng nhu cầu của du khách và quần chúng nhân dân, dự kiến đón 250.000 lượt khách tham quan.

Hoàn thành Kế hoạch kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh. Triển khai lập hồ sơ các dự án chống xuống cấp, tu bổ di tích. Đưa vào hoạt động “không gian ký ức Lê Bá Đảng”. Tiếp tục triển khai Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản nghệ thuật Ca Huế giai đoạn 2017 – 2022, trong đó xây dựng và triển khai Kế hoạch đưa di sản Ca Huế vào trường học, kế hoạch sưu tầm tư liệu Ca Huế; Đề án kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa truyền thống điển hình các dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020.

Hoạt động thư viện được tập trung triển khai hiệu quả[36]. Triển khai lập hồ sơ các dự án chống xuống cấp, tu bổ di tích[37]. Tổ chức thành công Lễ phát động Ngày chạy Olympic “Vì sức khỏe toàn dân”, Giải Việt dã truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XXVII – 2019, Ngày hội xe đạp thể thao đường trường quốc tế Coupe de Hue 2019 …

Thể thao thành tích cao đạt kết quả cao cả trong nước và quốc tế, đã đạt được 481 huy chương các loại (128 HCV, 150HCB, 203 HCĐ), trong đó có 28 huy chương quốc tế (15 HCV, 06 HCB, 07 HCĐ).

Số người tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên ước đạt tỷ lệ là 33,4%, tăng 1,3% so với năm 2018. Số câu lạc bộ thể dục thể thao là 635 câu lạc bộ; tỉ lệ trường học đảm bảo giáo dục thể chất đạt 100%.

7.2. Giáo dục đào tạo

“Toàn tỉnh hiện có 576 trường[38], có 09 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện và 01 Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh với số lượng học sinh, học viên đạt 264.527 em[39]. Trong đó, có 392 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 68,05%[40].

"Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo" được thực hiện có hiệu quả về phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; bồi dưỡng giáo viên, .....Việc chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục các cấp, bậc học được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đúng quy định và đã đạt kết quả khá tốt. Số lượng học sinh xếp loại giỏi tăng ở tất cả các cấp bậc; năm học 2018-2019 có 1.819 học sinh đạt giải Châu Á, cấp Quốc gia và cấp tỉnh[41]. Năm học 2019 – 2020, trong tháng 10/2019, có 1.163 học sinh đạt giải trong tổng số 2.713 học sinh dự thi, đạt 43% thí sinh đạt giải.

Công tác tổ chức tuyển sinh các lớp đầu cấp và thi THPT quốc gia 2019 được tổ chức đúng quy chế, đảm bảo công bằng, khách quan, an toàn, chất lượng, với 11.612 thí sinh, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 89,4%, giảm 5,3% so với năm 2018. Công tác phổ cập giáo dục được duy trì và nâng cao về chất lượng[42] với tỷ lệ huy động ra lớp 99,52% đối với mẫu giáo 05 tuổi; 99,8% với bậc tiểu học; 91,4% với THCS và 61,6% với THPT. Công tác kiểm định chất lượng giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, đã công nhận 497 cơ sở (trong đó: đạt cấp độ 1: 288 cơ sở, cấp độ 2: 166 cơ sở, cấp độ 3: 43 cơ sở) đạt tỷ lệ 84%. Đồng thời, tập huấn đánh giá ngoài cho 331 cán bộ, giáo viên, trong đó có 277 cán bộ, giáo viên cấp Sở, Phòng và các cơ sở giáo dục tham gia đánh giá, đạt tỷ lệ 83,7%.

Việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, ứng xử văn hóa trong trường học cho học sinh có nhiều đổi mới và mang lại hiệu quả tích cực.

Năm học 2019-2020, Đại học Huế có 8.598 sinh viên được gọi nhập học theo nguyện vọng, đạt 76% chỉ tiêu tuyển sinh và giảm 1,65% so với năm học trước. Các trường có số lượng sinh viên nhập học giảm: Đại học Luật giảm 7,28%; Khoa giáo dục thể chất giảm 25,0%; ĐH Nông lâm giảm 29,49%; ĐH Khoa học giảm 20,94%. Theo xếp hạng Webometrics công bố tháng 7/2019, Đại học Huế xếp hạng thứ 8 trong số 180 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, tăng 2 bậc từ lần xếp hạng tháng 1/2019.

7.3. Dân số, Y tế và chăm sóc sức khỏe

Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 toàn tỉnh có 305.905 hộ; 1.128.620 nhân khẩu; dân số nam 558.488 người (chiếm 49,5%); dân số nữ 570.132 người (chiếm 50,5%); dân số khu vực thành thị 558.531 người (chiếm 49,5%); khu vực nông thôn 570.089 người (chiếm 50,5%). Mật độ dân số 224 người/km2, bằng 77,2% so với mật độ dân số bình quân cả nước.

Triển khai Hệ sinh thái y tế thông minh giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025; Triển khai tạo lập và quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân tỉnh Thừa Thiên Huế, đến nay đã có trên 99% người dân trên địa bàn tỉnh có mã số Hồ sơ sức khỏe điện tử theo Quyết định 831/QĐ-BYT ngày 11/3/2017 của Bộ Y tế.

Tiếp tục thực hiện chương trình hành động thực hiện Đề án Xây dựng và Phát triển mạng lưới y tế cơ sở giai đoạn 2016 -2025 theo Quyết định số 2348/QĐ-TTg. Đang xây dựng Đề án Phát triển Y tế Thừa Thiên Huế thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh[43] và Đề án Triển khai mô hình điểm Trạm y tế hoạt động theo nguyên lý Y học gia đình giai đoạn 2019 – 2025. Tiếp tục đôn đốc tiến độ dự án Bệnh viện Đa khoa quốc tế Huế.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả đề án chủ động phòng chống các loại dịch bệnh, hạn chế thấp nhất nguy cơ xảy ra dịch bệnh. Đồng thời thực hiện và chủ động phòng, chống các bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng. Tăng cường phòng chống dịch bệnh, giám sát dịch tễ, dịch bệnh mùa hè, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; tuyên truyền phòng chống đuối nước.

Công suất sử dụng giường bệnh kế hoạch toàn tỉnh đạt 98,89%. Mạng lưới y tế cơ sở cơ bản được hoàn chỉnh, đến nay, 148/152 trạm y tế đạt chuẩn (đạt 97,4%). Hiện tại có 4 trạm Y tế phường - xã và 1 phòng khám tư nhân thành lập theo mô hình phòng khám Bác sĩ gia đình với cơ cấu 01 bàn khám, do bác sĩ có chuyên môn về Y học gia đình phụ trách.

Bệnh viện Trung ương tiếp tục khẳng định trung tâm y tế chuyên sâu với 21 trường hợp ghép tạng, có 1 ca ghép gan, 2 ca ghép tim xuyên Việt và 18 ca ghép thận. Tính đến nay, Bệnh viện đã thực hiện gần 800 ca ghép thận, 4 ca ghép tim và 1 ca ghép tim phổi; trong đó mới đây, đã thực hiện thành công 7 ca ghép giác mạc mang lại ánh sáng cho người mù; bên cạnh đó đã thực hiện 11 ca mang thai hộ, 447 ca thụ tinh trong ống nghiệm. Đã thành lập Trung tâm Ghép mô/tạngđầu tiên khu vực Miền Trung thuộc Trung tâm Điều phối Ghép tạng Quốc gia và phát động phong trào hiến tạng góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện các ca ghép tạng thành công với tỷ lệ cao hơn. Hiện nay, bệnh viện đã thực hiện cơ chế tự chủ ngân sách.

7.4. Về phát triển khoa học, công nghệ và công nghệ thông tin

7.4.1 Phát triển khoa học, công nghệ

Đang triển khai thực hiện 53 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh và 02 nhiệm vụ cấp quốc gia. Đã cấp 02 Giấy chứng nhận Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ([44]); tổ chức thẩm định công nghệ 03 dự án đầu tư; góp ý về công nghệ của 02 dự án đầu tư.

Đã ban hành Kế hoạch hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế và tổ chức triển khai các hoạt động hỗ trợ trong khuôn khổ. Đã tổ chức thành công Diễn đàn khởi nghiệp và phát động cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019 và tổ chức Chung kết, trao Giải thưởng cuộc thi[45]. Chuẩn bị các điều kiện hoạt động Trung tâm Khởi nghiệp, Trung tâm đổi mới sáng tạo.

Chương trình phát triển tài sản trí tuệ tỉnh triển khai, hỗ trợ xây dựng và công bố một số nhãn hiệu tập thể như dệt Zèng A Lưới, Cam Nam Đông...; hỗ trợ cho 3 tổ chức, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp đồng thời hướng dẫn cho các tổ chức có đề nghị hỗ trợ tạo lập và quảng bá nhãn hiệu tập thể.

Đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương (QCĐP) đối với sản phẩm Ruốc Huế; đang xây dựng dự thảo QCĐP đối với sản phẩm Nem Huế; đang triển khai các Đề án “Hỗ trợ xây dựng, đánh giá áp dụng Tiêu chuẩn GMP tại 03 cơ sở sản xuất đặc sản Huế” (Tôm chua, Mè xững, Trà rau má) và tổ chức nhiều khóa tập huấn về Hệ thống quản lý năng lượng theo Tiêu chuẩn ISO 50001, chuyển đổi Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 sang ISO 9001:2015 trong doanh nghiệp, phương pháp quản lý thực hành sản xuất tốt theo 5S, …[46]. Bên cạnh đó, Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 đang triển khai áp dụng vào hoạt động cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh.

Đang xây dựng các nhiệm vụ Dự án Bảo tàng thiên nhiên duyên hải miền Trung[47]; đang làm việc với đại diện tổ chức DCA, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam nhằm mở rộng các mối quan hệ và hợp tác phát triển.

Đã tổ chức thành công “Hue Innovation Day 2019” lần đầu tiên diễn ra tại Huế với thông điệp “Sáng tạo để phát triển” đối với nhiều lĩnh vực: công nghệ, công nghệ thông tin, du lịch, thủ công mỹ nghệ, môi trường,…

7.4.2 Công nghệ thông tin

Chuẩn bị các điều kiện tham gia vào chuỗi công viên phần mềm Quang Trung, Khu công viên phần mềm tỉnh Thừa Thiên Huế tại khu quy hoạch đô thị An Vân Dương và xây dựng Kế hoạch thu hút đầu tư vào Khu công viên phần mềm.

Đã xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh, có chức năng tiếp nhận phản ánh, theo dõi xử lý tất cả các vấn đề của người dân thông qua mạng xã hội, website và ứng dụng Huế - S chạy trên điện thoại di động và đoạt giải “Dự án thành phố thông minh sáng tạo nhất châu Á” tại Telecom Asia Awards năm 2019 do Tập đoàn Vietel xây dựng[48].

Đảm bảo sẵn sàng hạ tầng dùng chung và các hệ thống nền tảng phục vụ phát triển dịch vụ đô thị thông minh và chính quyền điện tử theo Đề án phát triển dịch vụ đô thị thông minh trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế[49] đã có 10/15 hạng mục đã được phê duyệt quyết định đầu tư với tổng mức 74,2/89 tỷ đồng. Trong năm 2019, 03 hạng mục đã được bố trí vốn và triển khai thực hiện vốn 10 tỷ đồng[50].

Ứng dụng công nghệ thông tin đạt nhiều kết quả về các nội dung: ứng dụng công bố, công khai thông tin, kết quả giải quyết thủ tục hành chính; ứng dụng cung cấp dịch vụ công trực tuyến[51]; ứng dụng tại Bộ phận một cửa trong việc tiếp nhận, giải quyết TTHC (100% bộ phận một cửa của các cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã đã đưa vào sử dụng hệ thống xử lý một cửa tập trung); ứng dụng hoạt động nội bộ (Hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc được áp dụng thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp xã, đã triển khai 91 Cơ sở dữ liệu chuyên ngành; 73 hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh và các ngành, đã có 4.735 chứng thư số chuyên dùng) ...

7.5. Lao động việc làm, an sinh xã hội

7.5.1 Giải quyết việc làm – dạy nghề

Giải quyết việc làm ước đạt trên 16.500 lao động, vượt kế hoạch; trong đó 1.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt gần gấp đôi chỉ tiêu đề ra của Nghị quyết của HĐND tỉnh; thị trường đi xuất khẩu lao động chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan .... Bên cạnh đó, giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp ước khoảng 7.000 người với tổng số tiền trên 92 tỷ đồng.

Kịp thời chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đẩy mạnh công tác tư vấn, định hướng nghề nghiệp, tuyển sinh học nghề đối với học sinh đang học lớp 9 và lớp 12; tổ chức thành công “Ngày hội tư vấn, định hướng, tuyển sinh học nghề tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019”. Dự kiến cả năm sẽ đào tạo 15.650 lao động, đạt 101% kế hoạch, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo đến cuối năm đạt 64%, đạt kế hoạch.

7.5.1 Công tác giảm nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo dự kiến đến cuối năm 2019 còn 4,17%, kết quả giảm nghèo vượt 0,13% so với KH (KH giảm 0,7%, kết quả 0,86%), tương ứng khoảng trên 2.015 hộ thoát nghèo, vượt kế hoạch; trong đó, tỷ lệ hộ nghèo DTTS dự kiến giảm 2 – 3%. Tỷ lệ hộ cận nghèo còn 4,5%, giảm 0,43%.

Đang tổ chức các hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo; đẩy mạnh truyền thông xuất khẩu lao động gắn với giảm nghèo bền vững; tổ chức các Ngày hội “Tuyển sinh - Tuyển dụng lao động”, các phiên giao dịch việc làm nhằm tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận với doanh nghiệp, người sử dụng lao động; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án giảm nghèo, nhất là dự án ở các xã đặc biệt khó khăn và xã 135”.

7.5.3 Chăm lo chính sách xã hội, người có công

Đã tổ chức Lễ truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng (02 đợt) đối với 90 mẹ và trao tặng 21 Huân chương Độc lập, đưa tổng số Bà mẹ VNAH toàn tỉnh đến nay là 2.366 Mẹ.

Tiếp nhận, giải quyết kịp thời chế độ, chính sách 1.850 hồ sơ người có công; hỗ trợ sửa chữa, nâng cấp các công trình nghĩa trang liệt sĩ với tổng kinh phí 18,6 tỷ đồng[52] và phân bổ kinh phí Trung ương về điều dưỡng người có công với 12,576 tỷ đồng[53].

Đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” với nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và bản chất, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đến 31/7/2019 đã vận động, đóng góp Qũy “Đền ơn đáp nghĩa” được 628,319 triệu đồng; hơn 26.000 suất quà được trao tặng đến người có công và gia đình người có công với tổng kinh phí hơn 5,7 tỷ đồng[54].

7.5.4 Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới

Tổ chức lễ phát động Tháng hành động vì trẻ em với những hoạt động từ thiện thiết thực: đã trao 225 suất học bổng trị giá 67,5 triệu đồng; 25 xe đạp trị giá 45 triệu đồng; 1.557 phần quà với trị giá 46.710 triệu đồng. Riêng, Quỹ Bảo trợ trẻ em qua 6 tháng đã vận động và hỗ trợ hơn 1,5 tỷ đồng cho gần 3.000 trẻ hưởng lợi. Kịp thời hỗ trợ 8 trường hợp trẻ em bị đuối nước[55] và một số trường hợp bị bạo hành, tai nạn giao thông…Công tác Bình đẳng giới vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh được kiện toàn về tổ chức và xây dựng triển khai thực hiện đồng bộ kế hoạch năm 2019.

8. Cải cách hành chính, nội vụ, đối ngoại, quốc phòng an ninh

8.1. Đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng Chính quyền điện tử

Đến nay, toàn tỉnh có 2.132/2.132 thủ tục hành chính (TTHC) được đưa vào thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh, 9 Trung tâm Hành chính công cấp huyện và 152 Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã, đảm bảo tỷ lệ 100% theo kế hoạch[56]. Đưa 1.526 TTHC, chiếm 72% TTHC thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4[57]. Đồng thời, công bố 1.135 TTHC thực hiện tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết qua dịch vụ bưu chính công ích[58].

Việc tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả cho tổ chức, công dân tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh, các Trung tâm Hành chính công cấp huyện và UBND cấp xã được thực hiện nghiêm túc và ngày càng đi vào nề nếp. Tính đến ngày 31/10/2019, đã giải quyết 53.051 hồ sơ cấp tỉnh và 74.833 hồ sơ cấp huyện, trong đó giải quyết trước hạn và đúng hạn cấp tỉnh đạt tỷ lệ 96%, cấp huyện đạt 87%. Các TTHC giải quyết trễ hẹn chủ yếu thuộc lĩnh vực đất đai, tài nguyên môi trường, xây dựng, do phải liên thông nhiều cấp, qua nhiều bước quy trình phức tạp.

Toàn tỉnh hiện có 100% sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã có Trang thông tin điện tử (TTĐT); các trang TTĐT đã thực hiện đầy đủ việc cập nhật tin bài thường xuyên, đồng thời qua đó thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các văn bản chính sách của nhà nước.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 của tỉnh đứng thứ 30, giảm 01 bậc, với 63,51 điểm, tăng 1,14 điểm thuộc “Nhóm Khá” của cả nước so với đứng đầu “Nhóm Trung bình” của năm trước. Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm đạt 43,2/80 điểm đứng thứ 43, giảm 6 bậc. Chỉ số cải cách hành chính (PAR index) năm đứng thứ 16, tăng 7 bậc. Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2018 đứng thứ 31 của cả nước. Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Index) năm 2019, Thừa Thiên Huế vươn lên đứng thứ 02 của cả nước, tăng 3 bậc[59]. Đây là nỗ lực rất lớn của tỉnh, tạo động lực góp phần thúc đẩy xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử và thành phố thông minh; đồng thời góp phần gắn kết, hỗ trợ cải cách các chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Cải cách hành chính (PAR Index) trong thời gian tới.

8.2. Sắp xếp tổ chức bộ máy, nội vụ

Đối với sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND tỉnh, đến nay, số lượng đơn vị sự nghiệp của tỉnh là 705, giảm 75 đơn vị so với cuối năm 2015 (tỷ lệ 9,61%)[60]. Đã thực hiện hợp nhất, sáp nhập các phòng chuyên môn thuộc các sở, ngành; kết quả giảm 16 phòng[61].

Kết quả công tác triển khai sắp xếp các thôn, tổ dân phố có quy mô nhỏ: Đã giảm 357 thôn, tổ dân phố (gồm 98 thôn, 259 tổ dân phố và giảm trên 1.860 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố). Đến nay, toàn tỉnh có 1.131 thôn, tổ dân phố (gồm 679 thôn và 452 tổ dân phố).

Đã triển khai việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2019-2021 và hoàn chỉnh hồ sơ, đề án trình Chính phủ xem xét trình UBTV Quốc Hội về quyết định việc sắp xếp các ĐVHC cấp xã, giảm 07 đơn vị hành chính cấp xã, còn lại 145 ĐVHC cấp xã.

Chủ động phối hợp với các bộ ngành Trung ương tổ chức triển khai Nghị quyết 31/NQ-CP của Chính phủ về việc xác định địa giới hành chính giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị do lịch sử để lại.

8.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế

Đã triển khai tốt các hoạt động đối ngoại và dần đi vào thực chất, có hiệu quả với phương châm “chính xác, kịp thời, linh hoạt, phù hợp từng đối tượng”.. Đã thực hiện nhiều chương trình, chuyên mục về thông tin đối ngoại, nhất là công tác đối ngoại với nước bạn Lào.Công tác ngoại giao kinh tế tiếp tục được chú trọng, đã tham gia Hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh tại Thái, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Đức,...

Trong 10 tháng năm 2019 đã đón tiếp và làm việc 729 đoàn khách quốc tế/4812 lượt người lượt khách quốc tế đến thăm, làm việc, tìm hiểu cơ hội hợp tác, xúc tiến đầu tư - thương mại, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế.

Đã ký kết 03 Bản ghi nhớ hợp tác với đối tác Pháp và Hàn Quốc[62]; 02 Biên bản làm việc với đối tác Lào[63]; đang chuẩn bị ký kết 02 Bản ghi nhớ hợp tác giữa tỉnh với 02 đối tác Đức và Thái Lan[64]. Đến nay, tỉnh thường xuyên duy trì và có quan hệ hợp tác với hơn 45 nước trên thế giới; có 76 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có đăng ký còn hoạt động tại địa bàn tỉnh.

Công tác quản lý nhà nước về đối ngoại được thực hiện nghiêm túc; công tác quản lý biên giới luôn được chú trọng, củng cố và tăng cường trên tất cả các lĩnh vực với các tỉnh giáp biên của nước bạn Lào..

8.4. Quốc phòng – an ninh, trật tự xã hội và phòng chống cháy nổ

8.4.1 Quốc phòng

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của BCH Trung ương khóa XI về “Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”, Chỉ thị 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới”, Nghị định 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ về khu vực phòng thủ...Các lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh, tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; việc xây dựng lực lượng chính quy được nâng cao và đạt hiệu quả tích cực, qua đó đã nâng cao chất lượng tổng hợp, tác chiến và sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

Đã bám sát Nghị quyết, Chương trình, kế hoạch về nhiệm vụ Quốc sự - Quốc phòng (QS-QP) và tình hình thực tiễn của đơn vị, địa phương; triển khai đồng bộ, có chiều sâu, toàn diện trên các mặt công tác; hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2019 đề ra. Trong đó nổi bật là: Chỉ đạo nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu; chủ động tham gia phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn (nhất là tham gia chữa cháy rừng); công tác nắm và xử lý tình hình chính trị địa bàn; công tác xây dựng lực lượng, huấn luyện, diễn tập, bồi dưỡng kiến thức QP-AN; hoạt động công tác đảng, công tác chính trị và các mặt bảo đảm hậu cần, tài chính và kỹ thuật; phục vụ tốt các đoàn kiểm tra của các cấp; tham gia hội thi, hội thao và liên hoan nghệ thuật quần chúng ở các cấp đạt kết quả tốt... Tình hình tư tưởng cán bộ, chiễn sỹ ổn định, an ninh chính trị địa bàn được giữ vững.

Ban hành kế hoạch, chỉ thị thực hiện nhiệm vụ QS-QP; chỉ đạo tổ chức thành công các cuộc diễn tập ở các cấp; đầu tư ngân sách xây dựng các công trình chiến đấu là 7,56 tỷ đồng [65]; mua sắm công cụ hỗ trợ cho lực lượng DQTV (với kinh phí 12 tỷ đồng);

Ban hành Chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam”; Nghị quyết 29-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng”; kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 21/2019/NĐ-CP của Chính phủ về “Khu vực phòng thủ”; Nghị định số 02/2019/NĐ-CP của Chính phủ về “Phòng thủ dân sự”; kế hoạch tập huấn, phổ biến Luật Quốc phòng năm 2018[66]. Kiện toàn và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các Ban chỉ đạo, Hội đồng về chỉ đạo công tác quốc phòng - quân sự địa phương ở các cấp [67].

Tiến hành sơ kết 10 năm xây dựng nền Quốc phòng toàn dân và kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam; tổ chức tốt lễ đón nhận, truy điệu và an táng 18 mộ liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào về nước.

Thực hiện các biện pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh; tổ chức giáo dục quốc phòng, an ninh và công tác quân sự địa phương; xây dựng và hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ; xây dựng lực lượng dự bị động viên và huy động lực lượng bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa phương; hoàn thành công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ.

8.4.2 Về an ninh, trật tự xã hội

Chỉ đạo triển khai quyết liệt các biện pháp phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phòng ngừa tội phạm; tổ chức các hội nghị để đề ra các giải pháp đấu tranh với tội phạm hình sự và nâng cao chất lượng công tác của lực lượng Cảnh sát hình sự. Tổ chức mở 10 đợt cao điểm tấn công, trấn áp, truy nã tội phạm và triển khai quyết liệt 32 kế hoạch đấu tranh phòng, chống tội phạm trên các tuyến, địa bàn trọng điểm theo các chuyên đề, hệ loại đối tượng; đấu tranh mạnh với tội phạm hoạt động theo ổ, nhóm, tội phạm liên quan đến “tín dụng đen” (triệt xoá 47 nhóm/339 đối tượng, trong đó triệt xoá 05 nhóm/33 đối tượng tội phạm liên quan đến “tín dụng đen”).

Đã ban hành Kế hoạch tổng rà soát người nghiện, người nghi nghiện; xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý người nghiện, người sử dụng ma túy trái phép để phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh; quy chế phối hợp thực hiện các quy định của pháp luật về giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy và đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; mở đợt cao điểm phòng, chống ma túy (từ 01/6 đến 31/7/2019)…

Chỉ đạo Công an các cấp thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, kiểm soát, không để tội phạm và tệ nạn ma tuý diễn biến phức tạp. Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện các kế hoạch đấu tranh quyết liệt với tội phạm và tệ nạn ma tuý tại các tuyến, địa bàn trọng điểm; triệt phá các đường dây vận chuyển ma tuý từ ngoài vào địa bàn tiêu thụ; phòng ngừa, không để ma tuý xâm nhập qua 02 cửa khẩu tại địa bàn A Lưới; triển khai các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng sử dụng ma tuý tổng hợp và các hành vi vi phạm pháp luật do các đối tượng sử dụng ma tuý tổng hợp gây ra. Đã phát hiện, xử lý hình sự 80 vụ/112 đối tượng (phát hiện nhiều hơn 9 vụ (12,68%) so với cùng kỳ năm 2018); thu giữ 16,374g heroin, 14,35kg ma tuý tổng hợp (tăng 14,08kg so với cùng kỳ năm 2018), 345,211g cần sa (tăng 231,886g so với cùng kỳ năm 2018). Đặc biệt phá 3 chuyên án lớn[68] đấu tranh với tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép ma tuý, bắt 9 đối tượng, thu giữ 45.962 viên ma tuý tổng hợp, 2,1kg ma tuý tổng hợp. Triển khai kế hoạch phòng chống tội phạm và tệ nạn ma tuý tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện, các hoạt động dịch vụ nhạy cảm; đã triệt xoá 8 điểm/139 đối tượng tụ tập sử dụng ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý trong quán bar, karaoke.

Sắp xếp bộ máy Công an tỉnh bằng cách điều động 160 cán bộ sĩ quan và chiến sĩ thuộc lực lượng Công an chính quy về địa phương. Tổ chức thành công Hội nghị Nâng cao chất lượng Cảnh sát khu vực trên địa bàn tỉnh. Xây dựng kế hoạch bảo vệ an toàn tuyệt đối công sở và an ninh trật tự tại các địa điểm công cộng, khu dân cư, các địa bàn trọng điểm. Đã tổ chức Hội nghị Phòng chống tệ nạn ma túy.

Công tác an ninh trật tự luôn được đảm bảo, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát hạn chế tai nạn giao thông. Đến 15/11/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 335 vụ tai nạn và va chạm giao thông tăng 31 vụ; làm chết 176 người, tăng 13 người; bị thương 272 người, tăng 26 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 323 vụ, tăng 24 vụ; làm chết 169 người, tăng 9 người; bị thương 269 người, tăng 25 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 12 vụ, tăng 7 vụ; làm chết 7 người, tăng 4 người; bị thương 3 người, tăng 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra.

Đã tích cực tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh về tình hình an ninh trật tự qua ứng dụng Hue-S, được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ. Tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ổn định, không xảy ra những vụ việc lớn nổi cộm, nhất là những vụ việc liên quan đến an ninh, chính trị, đất đai, tụ tập đám đông gây rối.

8.4.3 Về tình hình phòng chống cháy nổ

Công tác phòng chống cháy nổ trên địa bàn tỉnh luôn được các cấp, các ngành và các địa phương đặc biệt quan tâm. Thường xuyên tuyên truyền, cảnh báo trên các phương tiện thông tin đại chúng công tác phòng chống cháy nổ.

Từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 86 vụ cháy, tăng 05 vụ (6,17%) so với cùng kỳ năm 2018 (trong đó 43 vụ cháy dân sự; 43 vụ cháy rừng), làm chết 4 người, tài sản thiệt hại khoảng 40,724 tỉ đồng và 97,616 ha rừng. Nguyên nhân các vụ cháy nhà chủ yếu do chập điện, rò rỉ khí gas trong quá trình sử dụng và do thiếu cảnh giác của người dân khi đốt giấy vàng mã gây cháy; cháy rừng chủ yếu do bất cẩn khi dùng lửa.

8.5. Công tác thông tin truyền thông được đẩy mạnh tạo dự đồng thuận cao trong xã hội:

Đã tập trung thông tin đầy đủ, kịp thời các hoạt động chỉ đạo điều hành, kinh tế xã hội, các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo tỉnh, hỗ trợ các cơ quan thông tấn báo chí đóng góp nhiều tin bài giá trị sâu sắc đối với địa phương thời gian qua. Việc tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí hàng tuần tại Văn phòng UBND tỉnh giúp cung cấp thông tin kịp thời đến các cơ quan thống tấn báo chí, tăng cường mỗi quan hệ giữa cơ quan nhà nước và các cơ quan truyền thông tạo hiệu ứng và đồng thuận cao trong xã hội. Hệ thống Trang điều hành đô thị thông minh và Trung tâm hành chính công các cấp đã xử lý kịp thời các phản ánh của người dân và doanh nghiệp đồng thời cung cấp thông tin công khai, minh bạch được người dân, doanh nghiệp đồng tình, ủng hộ. Hệ thống thông tin cơ sở tiếp tục được củng cố. Tích cực rà soát, ngăn chặn các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội.

________________________________________

[1]Các tỉnh/năm

Thanh Hóa

Nghệ An

Hà Tĩnh

Quảg Bình

Quảng Trị

TT. Huế

Đà Nẵng

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Bình Đình

Phú Yên

Khánh Hòa

Bq 16-19

10,84%

8,23%

6,41%

6,30%

7,08%

7,13%

7,55%

7,81%

4,62%

7,16%

7,62%

7,43%

2019

13,24%

8,64%

10,99%

7,40%

7,72%

7,18%

6,47%

3,81%

4,02%

6,81%

8,94%

6,99%

2018

14,0%

8,77%

20,85%

7,03%

7,12%

6,61%

7,86%

8,11%

8,34%

7,32%

6,88%

7,02%

2017

8,26%

8,25%

10,5%

6,6%

7,0%

7,76%

7,03%

5,09%

1,25%

6,72%

7,24%

7,9%

2016

8%

7,25%

-13,5%

4,2%

6,5%

6,98%

8,85%

14,56%

5%

7,8%

7,45%

7,8%

[2]NM Sợi Phú Quang (5 nghìn tấn sợi/năm); NM SX nguyên phụ liệu và may mặc Song Thiên Long (42 triệu SP/năm); các DA SX men Frit của Công ty men Frit Hương Giang, Công ty CP Frit Phú Xuân và Công ty CP Công nghệ Frit Phú Sơn (40.000 tấn SP /năm); nhà máy gạch ốp lát granit Vitto Phú Lộc (7,2 triệu m2/năm); NM thủy điện A Lin B2, DA điện mặt trời Phong Điền (50MW);NM SX thủy tinh Vico silica; NM SX khoáng Cristobalite Phenikaa; NM xi măng Đồng Lâm giai đoạn 2.

[3]cụ thể: thu từ DN nhà nước 400 tỷ đồng, bằng 97% dự toán, tăng 5,3%; thu từ khu vực có vốn FDI 2.250 tỷ đồng, bằng 107% dự toán, tăng 6,5%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.162 tỷ đồng, bằng 100% dự toán, tăng 5,5%; thu tiền SD đất 1.300 tỷ đồng, vượt 155% dự toán, giảm 2%; thuế BVMT 690 tỷ đồng, bằng 100% dự toán, tăng 33%; thuế thu nhập cá nhân 342 tỷ đồng, bằng 107% dự toán, tăng 17%.

[4] thuyết minh tự động tại các điểm di tích; bản đồ số du lịch, cổng thông tin du lịch, ứng dụng mobile cho du lịch; ứng dụng quản lý khách sạn, nhà hàng quy mô từ nhỏ đến các hạng sao; ngân hàng số hỗ trợ du lịch thông minh...

[5] theo Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND ngày 09/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh về một số chính sáchQuy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025

[6] Đến năm 2019, thực hiện chuyển đổi 31/38 chợ theo Kế hoạch số 99/KH-UBND ngày 23/6/2016 và Công văn số 3232/UBND-CT ngày 19/5/2017, trong giai đoạn 2016 – 2020 có 38 chợ sẽ chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh khai thác chợ.

07 chợ đã chuyển đổi: chợ Tân Tô - Xã Thủy Tân, chợ Lương Văn - Phường Thủy Lương, chợ Tuần- Xã Thủy Bằng (thị xã Hương Thủy); chợ Hương Hồ - Phường Hương Hồ (thị xã Hương Trà); chợ Nước Ngọt - Xã Lộc Thủy, chợ Nong - Xã Lộc Bổn, chợ Vinh Hiền - xã Vinh Hiền (huyện Phú Lộc).

[7]nhiều DN có giá trị xuất khẩu lớn về may mặc và sơ sợi không tham gia xuất khẩu trong năm 2019: CN Tập Đoàn Việt Nam - Nhà Máy Sợi Phú Hưng; Công Ty TNHH Dệt Kim Và May Mặc Huế - Việt Nam; Công ty TNHH May Hưng Hoàng Phú; …

[8] nhờ phát huy năng lực tăng thêm của các NM may của Công ty TNHH MTV Sơn Hà Huế 15 triệu SP/năm, Công ty CP Dệt may Hương Phú 5 triệu SP/năm và NM may 4 của Công ty CP Dệt may Huế tại KCN Phú Đa; các DA mở rộng, nâng công suất: NM sợi Phú Việt, Phú Anh, Phú Gia, Phú Quang và Công ty CP Dệt may Huế.

[9]năng lực tăng thêm Dự án nhà máy sản xuất men frit và men gốm sứ cao cấp của Công ty CP Công nghệ Frit Phú Sơn

[10] năng lực mới của nhà máy gạch ốp lát granit (7,2 triệu m2/năm) của Công ty Vitto Phú Lộc tại KCN La Sơn;

[11] Chung cư Aranya (CHC1), chung cư Xuân Phú (CHC4), chung cư cho người thu nhập thấp KV4 Xuân Phú

[12] được tiến hành điều tra từ thời điểm 01/4/2019

[13] Công ty CP Giống cây trồng vật nuôi tỉnh; Công ty CP Vật tư nông nghiệp tỉnh; Công ty TNHH1TV Quế lâm Miền Trung; Công ty Liên Việt….

[14] trong đó: Diện tích lúa 54.858 ha, chiếm khoảng 73% diện tích, tăng 0,22ha; ngô 1.594 ha, giảm 49,5 ha; khoai lang 1.714 ha, giảm 10,4%;lạc 3.175 ha, giảm 2,9%; các loại cây lâu năm 12.743 ha, tăng 0,38%.

[15] trong đó, Vụ Đông Xuân, sản lượng đạt 180,8 nghìn tấn, tăng 1,46% và năng suất ước đạt 62,6 tạ/ha, tăng 0,2tạ/ha; Vụ Hè Thu 146 nghìn tấn, năng suất 56,9 tạ/ha, giảm giảm 3,8 tạ/ha; do tình hình hạn hạn kéo dài đến thời điểm giữa vụ với gần 2.000 ha và mưa lớn kéo dài vào cuối vụ.

[16] trong đó: Lợn nái, đực giống: 17.033 con; Lợn thịt: 56.298 con

[17] Trong đó UBND tỉnh đã cấp 4 đợt: 66,02 tỷ đồng (Quyết định 1541/QĐ-UBND ngày 28/6/2019, Quyết định 1740/QĐ-UBND ngày 19/7/2019, Quyết định số 2108/QĐ-UBND ngày 29/8/2019, Quyết định số 2560/QĐ-UBND ngày 17/10/2019).

[18] BCC: Dự án “Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, giai đoạn 2”

[19] Tàu cá xa bờ theo Luật Thủy sản 2017 có chiều dài từ 15 mét trở lên.

[20]Áp dụng công nghệ sinh học, mô hình trồng trọt theo tiêu chuẩn VietGAP cho thanh trà tại phường Thủy Biều, , sản xuất rau hoa trong nhà kính, nhà lưới công nghệ cao; cánh đồng lớn có liên kết, hợp đồng của DN (Công ty CP Giống cây trồng vật nuôi tỉnh; Công ty CP Vật tư nông nghiệp tỉnh; Công ty TNHH1TV Quế lâm Miền Trung; Công ty Liên Việt….) trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm 1.822 ha (70 cánh đồng).

[21] Dự án Khu liên hợp SX lắp ráp ô tô Kim Long Motors Huế, qui mô 3.330 tỷ đồng, 160 ha; NM máy sợi 2 của Công ty CP Vinatex Phú Hưng, qui mô 290 tỷ đồng, 1,3 ha; Dự án NMSX men frit của Công ty Frit Hương Giang qui mô 140 tỷ đồng, 3,7 ha; Dự án NM chế xuất Billion Max Việt Nam của Công ty Billion Max International Development Limited qui mô 348 tỷ đồng, 10,7 ha, Dự án SX mũ thể thao và túi du lịch của Công ty Lavaya (Hồng Kông) qui mô 139,5 tỷ đồng, 2,43 ha.

[22]Theo Kế hoạch số 19/KH-UBND ngày 28/01/2019, kế hoạch năm 2019 thu hút 15 dự án của các nhà đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn cam kết khoảng 10.000 tỷ đồng

[23] Giảm 1 dự án và số vốn đăng ký giảm là do dự án Nhà máy chế biến cát, bột thạch anh ít sắt chất lượng cao (Hue Premium Silica) của Công ty TNHH Premium Silica Huế đã chuyển sang 100% nhà đầu tư trong nước.

[24]bao gồm 12/24 dự án cần xem xét thu hồi, 7/29 dự án cần giám sát đặc biệt, 4/26 dự án cần đôn đốc tiến độ thực hiện

[25] 02 dự án thu hồi: Trường mầm non tư thục Everest; Mở rộng dự án Khu dịch vụ khách sạn La Residence

[26]Trao Quyết định chủ trương đầu tư 04 dự án: Dự án Khu Liên hợp SX lắp ráp Kim Long Motors Huế 3.330 tỷ đồng; Dự án Khu du lịch sinh thái biển Hải Dương 2.108 tỷ đồng; Dự án Khu du lịch Lộc Bình 3.066 tỷ đồng; Khách sạn, dịch vụ Du lịch, Biệt thự Nghỉ dưỡng và Khu du lịch vui chơi giải trí tổng hợp tại xã Vinh Xuân và Vinh Thanh 4.168 tỷ đồng; Ký 4 biên bản hợp tác với Công ty CP Tiếp thị và Giao thông Vận tải – Vietravel; Tập đoàn Sovico Holding; Tập đoàn FLC; Công ty CP Văn Phú Invest

[27]Theo báo cáo tài chính năm 2018[27], tổng giá trị tài sản doanh nghiệp 94.430 tỷ đồng, bình quân 23 tỷ đồng/DN; trong đó vốn chủ sở hữu đạt trên 44%, bình quân 10 tỷ đồng/DN. Doanh thu 80.280 tỷ đồng (20 tỷ đồng/DN), lợi nhuận trước thuế 1.680 tỷ đồng (410 triệu đồng/DN); trong đó: 43% doanh nghiệp lợi nhuận trước thuế âm hoặc không phát sinh doanh thu (gần 500 DN không phát sinh doanh thu)

[28] Các nội dung hỗ trợ: mặt bằng, sở hữu trí tuệ, tham gia hội chợ, khởi nghiệp, văn phòng làm việc, phát triển thị trường, chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp…

[29]Thành lập mới được 18 HTX gồm: 14 HTX Nông nghiệp, 02 HTX CN-TTCN, 01 HTX Dịch vụ du lịch và 01 HTX hoạt động khác.

[30] đã được thống nhất chủ trương triển khai thực hiện tại Công văn số 5338/VPVP-CN ngày 18/6/2019 của Văn phòng Chính phủ, hồ sơ hiện nay đang trình Bộ Xây dựng thẩm định

[31] do vướng mắc trong việc xác định giá đền bù nên công tác giải phóng mặt bằng gặp khó khăn; một số dự án chậm hoàn thiện thủ tục phê duyệt, điều chỉnh dự án, thiết kế kỹ thuật, dự toán.

[32]Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND ngày 08/5/2019

[33]Quyết định số 20/2019/QĐ-UBND ngày 06/5/2019 và Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND ngày 05/5/2019

[34]Trung tâm thương mại An Hòa của Công ty TNHH Hoàng Phú 0,6 ha; Trụ sở làm việc của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD) 0,14 ha; dự án xây dựng cơ sở trưng bày, sản xuất hàng mộc mỹ nghệ xuất khẩu và dân dụng của Công ty TNHH Liên Thành 0,17 ha và Dự án xây dựng trang trại nông lâm kết hợp của Công ty TNHH MTV Dịch vụ và Địa ốc Phú Thành Đạt3,0 ha

[35] Theo Quyết định số 37/QĐ-UBND ngày 10/7/2019

[36] Đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Sách Việt Nam (21/4), Ngày Sách và bản quyền thế giới (23/4);

[37] Như: Bảo tồn khu chứng tích Lao Thừa Phủ, Địa đạo Khu ủy Trị Thiên, tháp đôi Liểu Cốc, đình làng An Truyền, đình Bàn Môn , đình Thủ Lễ (dự án chuyển tiếp từ năm 2018), dự án tu bổ, tôn tạo 09 nhà rường thuộc Làng cổ Phước Tích…

[38] Cụ thể: Mầm non: 206 trường, Tiểu học: 200 trường, THCS: 116 trường, TH&THCS: 16 trường, THPT: 37 trường, THCS&THPT: 01 trường

[39] Mầm non: 65.992 cháu; Tiểu học: 92.796 học sinh; THCS: 67.924 học sinh; THPT: 37.545 học sinh, GDTX: 2.712 học viên

[40] Cụ thể: Mầm non: 94 trường - tỷ lệ 45,6%; Tiểu học: 170 trường - tỷ lệ 85%; THCS: 83 trường - tỷ lệ 62,9 % và THPT: 18 trường - tỷ lệ 47,4%

[41] Trong đó, có 01 học sinh đạt Huy chương Đồng trong Kỳ thi Olympic Vật lý Châu Á năm 2019; 52 Học sinh giỏi cấp Quốc gia: 3 giải nhất, 11 giải Nhì, 16 giải Ba và 22 giải Khuyến khích; 1.766 học sinh giỏi cấp tỉnh.

[42] Phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi đã được các huyện, thị xã, thành phố giữ vững và nâng cao với 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn; có 94,74% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn XMC mức độ II; có 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ III; 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD THCS mức độ II (đến nay có 49 xã đạt mức độ 3, tỷ lệ 32,24%) và 15,13% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn "Có 80% thanh niên trong độ tuổi có bằng tốt nghiệp THPT và tương đương” (Thành phố Huế: 20 phường và huyện A Lưới: 3 xã).

[43]Tập trung phát triển lĩnh vực: Khám chữa bệnh, tập trung chuyên ngành kỹ thuật cao thế mạnh của địa phương; Công nghệ hóa dược phẩm; Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xuất khẩu lao động y tế; Y học cổ truyền; Lĩnh vực công nghệ thông tin y tế; Du lịch khám chữa bệnh

[44]Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn kỹ thuật CSC; Công ty TNHH Khoa học, công nghiệp và môi trường An Sinh.

[45]Gồm 3 giải thưởng đạt giải thưởng của UBND tỉnh; 3 tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân đạt giải thưởng của Chủ tịch UBND tỉnh và 8 giải thưởng do các Doanh nghiệp, cá nhân trao tặng

[46] Trong khuôn khổ dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2017 đến năm 2020” theo Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 28/02/2017.

[47] 5 nhiệm vụ: (1) Tổ chức Sưu tầm, lưu giữ, xử lý và bảo quản các mẫu vật; (2) Tổ chức trưng bày, triển lãm và các hoạt động phù hợp nhằm giới thiệu một cách đầy đủ và toàn diện về giá trị thiên nhiên của tỉnh, các tỉnh duyên hải miền Trung và cả nước; (3) Xây dựng cơ sở khoa học thu thập bộ mẫu vật về thiên nhiên thuộc vùng duyên hải miền Trung

[48]do Tập đoàn Viettel xây dựng với hình thức “may đo” theo yêu cầu và đặc thù của tỉnh.

[49] tại Quyết định phê duyệt số 1779/QĐ-UBND ngày 10/8/2018 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế

bao gồm 05/10 hạng mục thuộc dự án “Phát triển dịch vụ đô thị thông minh tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2018-2020” 05/05 hạng mục thuộc dự án “Hoàn thiện Chính quyền điện tử tỉnh Thừa Thiên Huế”

[50] bao gồm: hạng mục Xây dựng Kiến trúc ICT đô thị thông minh (2 tỷ đồng), hạng mục Đầu tư hệ thống cảm biến phục vụ phát triển đô thị thông minh (6,5 tỷ đồng) và hạng mục Xây dựng hệ thống thông tin văn phòng điện tử tỉnh Thừa Thiên Huế (1,5 tỷ đồng).

[51] Tổ chức triển khai Cổng dịch vụ công trực tuyến dùng chung của tỉnh với sự tham gia của 100% cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã. Hiện tại đã có 114.024 tài khoản công dân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia.

[52] Trung ương phân bổ: 15,4 tỷ đồng (thành phố Huế 12 tỷ), kinh phí trích từ Quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" của Tỉnh là 1,2 tỷ và ngân sách địa phương 02 tỷ đồng.

[53] Trong đó, 2.468 suất điều dưỡng tập trung, 338 suất điều dưỡng ngoại tỉnh và 5.614 suất điều dưỡng tại gia đình với tổng kinh phí 12,5 tỷ đồng.

[54] trong đó: Quà Chủ tịch nước: 18.174 suất, 3.863,6 triệu đồng; Quà tỉnh: 410 suất, 410 triệu đồng; Quà huyện: 444 suất, 419,3 triệu đồng; Quà xã: 6.147 suất, 944,44 triệu đồng và các tổ chức, doanh nghiệp khác: 418 suất, 85,87 triệu đồng

[55]Quảng Điền: 2, Phú Vang: 3, Phong Điền: 2, Phú Lộc: 1

[56] Trong đó, cấp sở có 1.676 TTHC (có 336 TTHC liên thông); UBND cấp huyện có 321 TTHC (có 35 TTHC liên thông); UBND cấp xã có 135 TTHC (có 17 TTHC liên thông).

[57] trong đó: có 855 TTHC dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 (cấp tỉnh: 723 TTHC, cấp huyện: 130 TTHC, cấp xã: 02 TTHC); có 671 TTHC dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 (cấp tỉnh: 512 TTHC, cấp huyện: 158 TTHC, cấp xã: 11 TTHC).

[58] Trong đó cấp tỉnh: 941 TTHC, cấp huyện 155 TTHC và cấp xã: 39 TTHC.

[59] Trong đó, một số lĩnh vực đứng thứ nhất: chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin đạt 0,91 điểm và chỉ số hạ tầng nhân lực đạt 0,96 điểm.

[60]Trong đó: Sự nghiệp thuộc UBND tỉnh 14 (tăng 02 đơn vị); sự nghiệp thuộc sở 112 (giảm 40 đơn vị); sự nghiệp thuộc sự nghiệp 6 (tăng 01); sự nghiệp thuộc Chi cục 03 (giảm 09 đơn vị); sự nghiệp thuộc UBND cấp huyện 55 (giảm 12 đơn vị); sự nghiệp thuộc phòng cấp huyện 515 (giảm 17 đơn vị).

[61] Sở Nội vụ giảm 03 phòng; Sở Tài chính giảm 02 phòng; Ban Quản lý Khu Kinh tế, công nghiệp tỉnh giảm 02 phòng; Văn phòng UBND tỉnh giảm 02 phòng; Văn phòng HĐND tỉnh giảm 03 phòng; Ban Dân tộc giảm 02 phòng, Sở Y tế giảm 01 phòng, Sở Tư pháp giảm 01 phòng

[62]Bản ghi nhớ hợp tác giữaUBND tỉnh và Chính quyền Cộng đồng Đô thị Grand Poitiers (Pháp), ký kết ngày 04/4/2019 tại thành phố Grand Poitiers; Bản ghi nhớ về Chương trình thung lũng đô thị thông minh tại miền Trung Việt Nam giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) và UBND tỉnh, UBND TP. Đà Nẵng, UBND tỉnh Quảng Nam, ký kết ngày 16/5/2019 tại Huế; Biên bản ghi nhớ với Tập đoàn Korea Land & Housing (LH) về việc hợp tác nghiên cứu đầu tư phát triển tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng cô nhân hội nghị Thượng đỉnh kinh doanh Việt Nam - Hàn Quốc

[63] Biên bản làm việc giữa Đoàn đại biểu cấp cao tỉnh TT-Huế, nước CHXHCN Việt Nam và Đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào, ký ngày 18/9/2019 tại Salavan; Biên bản làm việc giữa Đoàn đại biểu cấp cao tỉnh TT-Huế, nước CHXHCN Việt Nam và Đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sekong, nước CHDCND Lào, ký ngày 19/9/2019 tại Sekong.

[64]Bản ghi nhớ hợp tác kết nghĩa giữa UBND tỉnh và Chính quyền thành phố Dortmund (Đức);Bản ghi nhớ giữa UBND tỉnh và Chính quyền tỉnh Ubon Ratchathani (Thái Lan).

[65] Trong đó: Xây dựng đường hầm CH6-02 của tỉnh: 5 tỷ đồng; xây dựng hầm hào khu hậu cứ A Lưới: 1,5 tỷ đồng; công trình TGSX khu hậu cứ huyện Quảng Điền: 0,460 tỷ đồng; nhà ở cấp 4 và ao hồ khu hậu cứ TX Hương Trà: 0,6 tỷ đồng.

[66] Kế hoạch số 304/KH - UBND ngày 29/12/2018 của UBND tỉnh về “Thực hiện Nghị quyết số 32/NQ-CP của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược Quốc phòng Việt Nam”; Kế hoạch số 163/KH - UBND ngày 02/8/2019 của UBND tỉnh về “Thực hiện Chương trình số 58-CTr/TU ngày 26/4/2019 của Tỉnh ủy về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về chiến lược Quốc phòng Việt Nam”; Kế hoạch số 78/KH-UBND ngày 26/4/2019 của UBND tỉnh về “Triển khai thực hiện Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22/02/2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ”;..

[67] Ban chỉ đạo khu vực phòng thủ, Hội đồng giáo dục quốc phòng-An ninh, Hội đồng nghĩa vụ quân sự, Hội đồng Cung cấp, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu,...

[68] Chuyên án “119TT” đấu tranh với tội phạm ma túy, cụ thể: Lúc 13h50’ ngày 02/02/2019, tại trước nhà số 30 đường Lê Lợi, TP Huế, Công an tỉnh phá chuyên án chống tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, bắt quả tang 02 đối tượng, gồm: Quàng Văn Tiến (sinh 1996, ở xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) và Lường Văn Thành (sinh 2001, ở bản Nà Ngán, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) với thủ đoạn cất giấu ma túy vào tiểu sành hài cốt rồi thuê xe tang lễ vận chuyển 14.000 viên hồng phiến (70 gói ma túy); đấu tranh mở rộng án, bắt thêm đối tượng Quàng Thị In (sinh 1967, mẹ của Tiến).

Chuyên án 119M về chống tội phạm ma túy tại quán Bar Vegas tại số 81 Bà Triệu, TP Huế, khởi tố 06 bị can trong chuyên án, thu giữ 100 viên ma túy tổng hợp và 13 gói ma túy (hàng khay); xử lý hành chính 100 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.

Chuyên án 919M, đấu tranh, triệt phá đường dây vận chuyển 29.898 viên nén ma túy tổng hợp (9,697 kg) trên tàu SE4 Bắc - Nam, do đối tượng Nguyễn Văn Tiến (sinh 1973) và Nguyễn Thị Thu Huyền (sinh 1991, cùng trú tại quận Lê Chân, TP Hải Phòng) thực hiện.



Website Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

    Tổng số lượt xem: 780
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.