Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ bảy, ngày 8 tháng 8 năm 2020
English
a A
Ngày 01/04/2020-15:04:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2020

Quý I năm 2020, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh có nhiều biến động, dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 đang diễn biến phức tạp, tình hình thời tiết sau Tết Nguyên đán không thuận lợi... đã ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2020 đã hạn chế nhiều những tác động tiêu cực, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc cơ bản đã ổn định, sản xuất vụ đông 2019 – 2020 đạt kết quả khá, hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản thuận lợi… Tình hình kinh tế tỉnh Thái Bình thể hiện qua các thông tin kinh tế - xã hội như sau:
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn
Quý I năm 2020, GRDP trên địa bàn tỉnh Thái Bình (giá so sánh 2010) ước đạt 12.915 tỷ đồng, tăng 6,87% so với cùng kỳ năm 2019. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản ước đạt gần 2.845 tỷ đồng, tăng 2,20% so với cùng kỳ, đóng góp 0,51 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 5.033 tỷ đồng, tăng 12,02% so với cùng kỳ, đóng góp 4,47 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng; trong đó: ngành công nghiệp tăng 11,42% (đóng góp 2,98 điểm phần trăm), ngành xây dựng tăng 13,43%. Khu vực dịch vụ ước đạt trên 4.306 tỷ đồng, tăng 5,62% so với cùng kỳ, đóng góp 1,9 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.
Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình ước quý I năm 2020, ngành Nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 24,1%; ngành Công nghiệp - Xây dựng chiếm 37,5%; ngành Dịch vụ chiếm 38,4%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất của khu vực nông, lâm, thủy sản quý I/2020 đã đạt được những kết quả khả quan. Ngành trồng trọt duy trì mức tăng trưởng khá khẳng định việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý tại các địa phương đã phát huy hiệu quả, cùng với đó là việc mở rộng thị trường tiêu thụ, giá bán sản phẩm ổn định là động lực thúc đẩy sản xuất của ngành này. Ngành chăn nuôi đang dần phục hồi sau dịch tả lợn Châu Phi đã ổn định. Ngành thủy sản phát triển khá do thời tiết thuận lợi, giá bán sản phẩm ổn định.

a) Nông nghiệp
Trồng trọt
Kết quả sản xuất vụ Đông 2019-2020
Kết quả gieo trồng cây vụ đông 2019-2020 toàn tỉnh đạt 36.278 ha, tăng 158 ha (+0,4%) so với năm trước; trong đó, diện tích cây vụ đông trồng trên đất lúa chiếm 81% diện tích. Các loại cây trồng chủ yếu cụ thể như sau: Diện tích cây ngô đạt 6.531 ha, tăng 0,8%; diện tích rau các loại đạt 21.214 ha, tăng 4,2%; tuy nhiên một số cây trồng có giá trị kinh tế có xu hướng giảm như khoai lang giảm 1,0%; cây có hạt chứa dầu (lạc, đậu tương,...) giảm 19,1% so với cùng kỳ.
Mặc dù trong dịp tết nguyên đán ngày 25,26/01/2020 có mưa lốc lớn gây thiệt hại một số cây màu vụ đông chưa thu hoạch, chủ yếu là rau lấy lá, lấy củ. Song kết quả sơ bộ năng suất thu hoạch các loại cây trồng vụ đông 2019-2020 đều đạt mức tương đương so với cùng kỳ, cụ thể: Ngô đạt năng suất 57tạ/ha, sản lượng đạt 37,2 nghìn tấn, tăng 0,6%; khoai lang năng suất đạt 122 tạ/ha, sản lượng đạt 29,8 nghìn tấn; các loại cây nhóm rau lấy lá, dưa lấy quả do trong năm thời tiết thuận lợi bà con đã thu hoạch nên năng suất đều tăng hơn so với cùng kỳ.
Gieo trồng vụ Xuân 2020
- Gieo cấy lúa xuân: Vụ Xuân 2020, đất được ải nên góp phần hạn chế sự phát triển của ốc bươu vàng và sâu bệnh hại lúa; việc lấy nước đổ ải khá thuận lợi, hầu hết các địa phương đều chủ động điều hành lấy nước làm đất gieo cấy kịp thời, nông dân trong tỉnh đã cơ bản thực hiện đúng lịch thời vụ và cơ cấu giống lúa. Các chính sách hỗ trợ sản xuất đã được các địa phương triển khai như thuốc diệt chuột để bảo vệ sản xuất, thuốc trừ rầy và hỗ trợ máy cấy,... Tuy nhiên, thời vụ gieo cấy lúa xuân bị ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh nên tiến độ gieo cấy của các địa phương bị chậm, lịch thời vụ kéo dài.
Theo tiến độ sản xuất nông nghiệp tính đến ngày 12/3/2020, toàn tỉnh đã hoàn thành việc gieo cấy lúa xuân, diện tích gieo cấy lúa xuân đạt 77.113 ha, đạt 99,2% kế hoạch đề ra, giảm 0,6% so với vụ xuân 2019. Trong đó diện tích lúa gieo thẳng đạt 14.130 ha, chiếm 18,3%, diện tích lúa cấy bằng máy đạt 4.155 ha, chiếm 5,4% tổng diện tích lúa xuân. Do ảnh hưởng của thời tiết nên giai đoạn đầu lúa sinh trưởng chậm, hiện các địa phương đã cơ bản thực hiện xong việc chăm sóc lúa đợt 1, chủ động theo dõi tình hình sâu bệnh hại lúa để có biện pháp phòng trừ kịp thời. Đến thời điểm này toàn bộ diện tích lúa xuân đã gieo cấy đang sinh trưởng và phát triển tốt.
- Gieo trồng cây màu vụ xuân: Do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh và mưa lớn trong dịp tết nguyên đán đã làm ảnh hưởng 900 ha rau màu vụ xuân mới trồng, để khắc phục thiệt hại nông dân các địa phương đã tích cực trồng mới lại diện tích bị thiệt hại. Tính đến ngày 12/3/2020 toàn tỉnh đã trồng được 14.060 ha, đạt 93,7% kế hoạch, giảm 2,7% so với cùng kỳ. Diện tích cây màu xuân đã thu hoạch 3.650 ha, chiếm 26% tổng diện tích cây màu đã trồng chủ yếu là diện tích rau ngắn ngày. Hiện các địa phương đang tích cực đẩy mạnh và hoàn thành kế hoạch diện tích gieo trồng cây màu vụ xuân đã đề ra, đồng thời tích cực chăm sóc diện tích cây màu vụ xuân đã trồng.
- Cây lâu năm: Trong những tháng đầu năm diện tích trồng các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh không có biến động lớn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích hiện có đạt 8.163 ha tăng 0,1% so với cùng kỳ, nhưng cơ cấu các loại cây trồng có sự thay đổi để phù hợp với điều kiện canh tác của từng địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Một số cây ăn quả trọng điểm đã được thu hoạch trong 3 tháng đầu năm như chuối ước đạt 21,9 nghìn tấn, tăng 2,7%; cam đạt 0,8 nghìn tấn, tăng 3,3%; bòng bưởi đạt 0,8 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ.
Chăn nuôi:
Chăn nuôi gia súc: Chăn nuôi trâu bò phát triển ổn định và đạt khá. Tổng đàn trâu, bò tại thời điểm tháng 3/2020 ước đạt 56,1 nghìn con, tăng 2,6% so với cùng kỳ; trong đó đàn trâu ước đạt 6,4 nghìn con, tăng 1,0%; đàn bò ước đạt 49,7 nghìn con, tăng 2,8% so với cùng kỳ.
Sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng tháng 3/2020 ước đạt 816 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng quý I/2020 ước đạt 2.492 tấn, giảm 5,0% so với quý IV/2019 nhưng tăng 8,4% so với cùng kỳ. Riêng doanh nghiệp Bò Hòa Phát trong quý I/2020 xuất bán gần 8 nghìn con, chênh lệch sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 440 tấn, tăng 14,1% so với cùng kỳ.
Chăn nuôi lợn: Trong quý, tình hình dịch tả lợn Châu Phi đã ổn định, giá thịt lơn hơi tháng 3 tăng cao hơn so với tháng 2 từ 6.000 – 15.000 đồng/kg, người chăn nuôi phấn khởi có lãi. Tuy nhiên, quy mô đầu tư từng bước phục hồi do các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ tái đàn không nhiều do giá cả con giống biến động tăng mạnh và tâm lý thận trọng.
Tổng đàn lợn tại thời điểm tháng 3/2020 ước đạt 785,1 nghìn con, giảm 19,7% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 3/2020 ước đạt 13,0 nghìn tấn, giảm 4,3% so cùng kỳ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I/2020 ước đạt 38,0 nghìn tấn, giảm 6,9% so với quý IV/2019 và giảm 3,8% so với cùng kỳ.
Chăn nuôi gia cầm
Chăn nuôi gia cầm đang phát triển ở mức cao nhất từ trước đến nay, tuy nhiên từ ngày 18/02/2020 đã xuất hiện 01 ổ dịch cúm gia cầm A/H5/N6 tại xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng với số lượng tiêu hủy 1.806 con, đến thời điểm này dịch đã ổn định chưa thấy xuất hiện trở lại.
Ước tính số lượng đàn gia cầm tại thời điểm tháng 3/2020 đạt 14,2 triệu con, giảm 1,3% so với tháng trước nhưng tăng 5,6% so với cùng kỳ; trong đó, số lượng đàn gà đạt 10,1 triệu con, tăng 2,8% so với cùng kỳ.
Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tháng 3/2020 ước đạt 5,3 nghìn tấn, tăng 6,8%; trong đó sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng ước đạt 3,7 nghìn tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I/2020 ước đạt 15,3 nghìn tấn, giảm 16,9% so với quý IV/2019 nhưng tăng 4,0% so với cùng kỳ. Sản lượng trứng gia cầm quý I/2020 ước đạt 81,3 triệu quả, giảm 1,3% so với quý IV/2019, nhưng tăng 2,9% so với cùng kỳ.
Tình hình giá gia cầm có hiện tượng giảm mạnh, nhiều cơ sở chăn nuôi có tâm lý, duy trì đàn thận trọng trong bối cảnh vừa lo ngại dịch bệnh và đặc biệt lo ngại về nguồn cung bão hòa, thậm chí dư thừa khiến giá cả sụt giảm mạnh; bên cạnh đó xu hướng phục hồi đàn lợn cũng làm giảm nhu cầu sản phẩm gia cầm. Trong bối cảnh đó, các ngành chức năng cân nhắc việc khuyến cáo giữ ổn định hoặc duy trì tổng đàn, thậm trí giảm số lượng tổng đàn (tránh trường hợp có kế hoạch tăng đàn không hợp lý dẫn đến hiện tượng “giải cứu” không đáng có). Vậy nếu chưa đánh giá kỹ cung cầu thị trường, đầu mối tiêu thụ và chế biến thì cân nhắc thận trọng việc xây dựng kế hoạch tăng đàn gia cầm trong năm 2020.

b) Lâm nghiệp
Trong 3 tháng đầu năm 2020 chưa có diện tích trồng rừng mới bổ sung. Sản lượng gỗ khai thác tháng 3/2020 ước đạt 136 m3­, giảm 0,7%; sản lượng củi khai thác ước đạt 489 ste, giảm 27,6% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2020 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 408 m3 , tăng 6,0% so với quý IV/2019 nhưng giảm 13,0% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác ước đạt 1.685 ste, tăng hơn 2 lần so với quý IV/2019 nhưng giảm 16,7% so với cùng kỳ.. Trong quý I/2020 tỉnh tiếp tục chỉ đạo các xã ven biển tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn ven biển.
c) Thủy sản
Tổng sản lượng thủy sản tháng 3/2020 ước đạt 19,9 nghìn tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thủy sản quý I/2020 ước đạt 60,2 nghìn tấn, giảm 7,7% so với quý IV/2019 nhưng tăng 6,8% so với cùng kỳ; trong đó, cá đạt 24,2 nghìn tấn, giảm 9,7% so với quý IV/2019 nhưng tăng 6,2% so với cùng kỳ; tôm đạt 0,6 nghìn tấn, giảm 76,4% so với quý IV/2019 nhưng tăng 11,3% so với cùng kỳ; thủy sản khác đạt 35,4 nghìn tấn, giảm 1,2% so với quý IV/2019 nhưng tăng 7,2% so với cùng kỳ.
Khai thác
Trong những tháng đầu năm 2020 tình hình thời tiết thuận lợi, một số sản phẩm giá trị không cao như tép moi, sứa,… hiện đang vào vụ khai thác song sản lượng không nhiều, giá cả giảm do thị trường tiêu thụ hạn chế, do vậy một số tàu khai thác sứa chuyến sang khai thác cá, tôm; các phương tiện vẫn bám ngư trường để khai thác.
Sản lượng khai thác tháng 3/2020 ước đạt 8,3 nghìn tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 5,2 nghìn tấn, tăng 7,6%; tôm đạt 0,1 nghìn tấn, tăng 3,8%; thủy sản khác đạt 3,0 nghìn tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác quý I/2020 ước đạt 24,8 nghìn tấn, tăng 28,2% so với quý IV/2019 và tăng 7,6% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 15,3 nghìn tấn, tăng 5,7% so với quý IV/2019 và tăng 7,4% so với cùng kỳ; tôm đạt trên 0,3 nghìn tấn, giảm 51,2% so với quý IV/2019 nhưng tăng 3,7% so với cùng kỳ; thủy sản khác đạt 9,2 nghìn tấn, tăng hơn 2 lần so với quý IV/2019 và tăng 8,0% so với cùng kỳ.
Nuôi trồng
Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 3/2020 ước đạt 11,6 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ; trong đó, cá đạt 2,8 nghìn tấn, tăng 2,4%; tôm đạt trên 0,1 nghìn tấn, tăng 22,0%; thủy sản khác đạt 8,7 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng quý I/2020 ước đạt 35,4 nghìn tấn, giảm 22,8% so với quý IV/2019 nhưng tăng 6,3% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 8,9 nghìn tấn, giảm 27,7% so với quý IV/2019 nhưng tăng 4,2% so với cùng kỳ; tôm đạt gần 0,3 nghìn tấn, đạt 14,7% so với quý IV/2019 nhưng tăng 21,7% so với cùng kỳ; thủy sản khác đạt 26,2 nghìn tấn, giảm 17,1% so với quý IV/2019 nhưng tăng 6,9% so với cùng kỳ (riêng sản lượng ngao đạt 25,3 nghìn tấn, chiếm 71,5% sản lượng nuôi trồng, tăng 7,0% so với cùng kỳ).

3. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2020 ước tăng 7,2% so với tháng trước và giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công khai khoáng tăng hơn 17,2% so cùng kỳ năm 2019 trong đó một số ngành tăng cao như khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên, tăng 29%; khai khoáng khác tăng 17%.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) quý I năm 2020 ước bằng 72% so quý trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành sản xuất và phân phối khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có chỉ số tăng khá mạnh 19,2%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo và cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải đều tăng.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Tháng 3/2020, có mức tăng mạnh so với cùng kỳ như: loa đã hoặc chưa lắp đặt vào hộp loa ước đạt 3triệu cái, tăng 4,8 lần so cùng kỳ; Dịch vụ tráng phủ kim loại bằng cách nhúng vào kim loại ước đạt 4.471 triệu đồng, tăng 95,7%; thức ăn cho gia súc ước đạt 8.942 tấn, tăng 87,9%; sản phẩm cần gạt nước, sương, tuyết trên kính chắn ước đạt 520 nghìn cái, tăng 57,7%; Polyaxetal, polyete và nhựa epoxy dạng nguyên ước đạt 2.902 tấn, tăng 40,3% so cùng kỳ. Bên cạnh đó cũng còn một số sản phẩm giảm trong tháng như: bia dạng lon ước đạt 351 nghìn lít, giảm hơn 92%; bia chai ước đạt 415 nghìn lít, giảm 69,3%, nguyên nhân do ảnh hưởng trực tiếp của dịch covid 19 và cùng với Nghị định 100 ban hành trước đó; cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại ước đạt 520 tấn, giảm 58,8% so với cùng kỳ năm 2019.
Trong quý I năm 2020, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng cao so với cùng kỳ như: sản phẩm loa đã hoặc chưa lắp đặt vào hộp loa ước đạt gần 6.819 nghìn cái, tăng 52,7%; thức ăn gia súc ước đạt 25.588 tấn, tăng 46,7%; điện sản xuất ước đạt 688 triệu KWh, tăng 22,6%; sản phẩm Nitơrat Amoni ước đạt 50.769 tấn, tăng 21,7%; tai nghe khác ước đạt 25.157 nghìn cái, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2019; Bên cạnh đó cũng có một số sản phẩm có tốc độ giảm so với cùng kỳ như: sản phẩm bộ đèn sử dụng cho cây thông noel ước đạt 25.181 bộ, giảm 61,5%; sứ vệ sinh ước đạt 801 nghìn cái giảm 52,2%; bia đón lon ước đạt 7.036 nghìn lít, giảm 51% so với cùng kỳ năm 2019.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3 năm 2020 tăng 4,2% so với tháng trước và giảm hơn 4,4% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số tồn kho ngành chế biến, chế tạo tính đến tháng 3 năm 2020 tăng gần 8,4% so với tháng trước và tăng hơn 24,4% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2020 tăng 6,9% so với cùng thời điểm năm trước. Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm nhẹ 0,8%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2019.

4. Hoạt động của doanh nghiệp
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Tính đến đầu tháng 3 năm 2020 đã cấp 107 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, 1chi nhánh, 11 văn phòng đại diện với số vốn đăng ký đạt trên 1.060 tỷ đồng. Xác nhận Doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động: 96 doanh nghiệp; doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là 16 doanh nghiệp. Trong đó thu hồi GCN ĐKKD do DN giải thể là 16 doanh nghiệp.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I năm 2020 cho thấy: Xu hướng sản xuất kinh doanh quý I năm 2020 so với quý IV năm 2019: giữ nguyên chiếm 54,6%, khó khăn chiếm 33,13%, tốt lên chỉ đạt 12,27%, chia theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước tình hình sản xuất kinh doanh giữ nguyên chiếm 83,33%, khó khăn hơn chiếm 16,67%. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh giữ nguyên chiếm 46,72%, khó khăn hơn chiếm 40,16%, và tốt hơn chỉ chiếm 13,11%. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tình hình sản xuất giữ nguyên chiếm 77,14%, khó khăn hơn chiếm 11,43%, và tốt lên cũng chiếm 11,43%. So sánh xu hướng sản xuất kinh doanh quý I năm 2020 so với quý II năm 2020: tốt lên chiếm tỷ lệ 77,3%, giữ nguyên chiếm 18,4% và khó khăn hơn giảm nhiều chỉ còn 4,29%: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tốt lên chiếm tỷ lệ 97,14%, doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ 83,33%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ 71,31%. Tình hình sản xuất giữ nguyên doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 22,95%, doanh nghiệp nhà nước chiếm 16,67%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ 2,86%.

5. Hoạt động dịch vụ
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Thị trường hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong quý I năm 2020 chịu sự ảnh hưởng từ dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 gây ra, do phải tập trung phòng chống dịch bệnh nên nhu cầu và tâm lý sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành giảm. Học sinh tất cả các trường nghỉ học nhằm đảm bảo sức khỏe chung cộng đồng, phòng chống dịch; người dân đã hạn chế đi lại ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành dịch vụ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tháng 03/2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 3.888 tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Theo ngành kinh tế: Doanh thu thương nghiệp ước đạt 3.422 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú ước đạt 11 tỷ đồng, giảm 16,3% so với tháng trước và giảm 16,2% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 227 tỷ đồng, giảm 3% so với tháng trước và giảm 17,3% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,04 tỷ đồng giảm 97% so với tháng trước và giảm 98,5% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 229 tỷ đồng, giảm 1,7% so với tháng trước và giảm 5% so với cùng kỳ. Trong tháng, tất cả các nhóm hàng bán lẻ đều tăng so với tháng trước như: Nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước đạt 73 tỷ đồng (+3,9%); nhóm đồ dùng dụng cụ gia đình ước đạt 428 tỷ đồng (+2,3%); nhóm lương thực thực phẩm ước đạt 1.079 tỷ đồng (+1,4%);... Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm so với tháng trước như: Nhóm ô tô con ước đạt 44 tỷ đồng (-9,6%); nhóm vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 25 tỷ đồng (-4,3%); nhóm phương tiện đi lại ước đạt 210 tỷ đồng (-0,5%)…
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước quý I năm 2020 đạt 11.852 tỷ đồng, giảm 0,1% so với quý trước và tăng 6,3% so với cùng quý năm trước. Theo ngành kinh tế: Doanh thu thương nghiệp ước đạt 10.350 tỷ đồng, tăng 1,2% so với quý trước và tăng 8% so với cùng quý năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú ước đạt 37 tỷ đồng, giảm 6,2% so với quý trước và giảm 7,4% so với cùng quý năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 746 tỷ đồng; giảm 11,6% so với quý trước và giảm 6,7% so với cùng quý năm trước; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2,3 tỷ đồng, giảm 60,4% so với quý trước và giảm 61% so với cùng quý năm trước; doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 717 tỷ đồng, giảm 4% so với quý trước và tăng 0,8% so với cùng quý năm trước. Trong quý I/2020, các nhóm hàng tăng so với cùng quý năm trước trong đó như: Nhóm đá quý, kim loại quý ước đạt 212 tỷ đồng, tăng 26%; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 1.823 tỷ đồng ,tăng 16%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.442 tỷ đồng, tăng 14%; nhóm hàng lương thực, thực phẩm ước đạt 3.248 tỷ đồng, tăng 11%… Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm so với cùng quý năm trước như: Nhóm vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 81 tỷ đồng, giảm 11%; nhóm ô tô con ước đạt 139 tỷ đồng, giảm 4,7%; nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 1.281 tỷ đồng, giảm 1,2% ….

b) Vận tải
Vận tải hành khách
Tháng 03/2020, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 129 tỷ đồng, giảm 0,09% so với tháng trước và giảm 2,1% so với cùng kỳ; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt hơn 1,79 triệu người tăng 0,5% so với tháng trước và giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước; số lượt khách luân chuyển ước đạt hơn 190 triệu người.km, tăng 1,2% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 4,5%.
Ước quý I năm 2020 doanh thu vận tải hành khách đạt 413 tỷ đồng, giảm 5% so với quý trước và tăng 4,2% so với cùng quý năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 5,6 triệu người, giảm 4,7% so với quý quý trước và tăng 5,1% so với cùng quý năm trước; số lượt khách luân chuyển ước đạt 609 triệu người.km so với quý trước giảm 10,7% và so với cùng quý năm trước tăng 4,5%.
Vận tải hàng hoá
Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 03/2020 ước đạt 323 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2019. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt hơn 2,2 triệu tấn, tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 732 triệu tấn.km, tăng 2,7% so với tháng trước, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu vận tải hàng hóa quý I năm 2020 ước đạt 1.032 tỷ đồng, giảm 9% so với quý trước và tăng 6,8% so cùng quý năm trước. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 6,8 triệu tấn, tăng 0,7% so với quý trước và tăng 11,5% so với cùng quý năm trước. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt hơn 2.373 triệu tấn.km, giảm 12,1% so với quý trước và tăng 9,3% so với cùng quý năm trước.
Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 03/2020 ước đạt 5,3 tỷ đồng, tăng 31,5% so với tháng trước và tăng 63,2% so với cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2020 doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 14,2 tỷ đồng, tăng 1,6% so quý trước và tăng 35,3% so với cùng quý năm trước.

6. Đầu tư xây dựng
Đầu tư
Tháng 3/2020 vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt trên 304 tỷ đồng, tăng 13,8% so với tháng trước, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt trên 159 tỷ đồng, tăng 18,7% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt trên 65 tỷ đồng, tăng 9,6% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ; vốn ngân sách cấp xã ước đạt trên 79 tỷ đồng, tăng 8,3% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ.
Trong quý I năm 2020, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt trên 821 tỷ đồng, bằng 56% so với quý trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 419 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt trên 180 tỷ đồng, tăng 10,7 so so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt trên 221 tỷ đồng tăng 10% cùng kỳ năm 2019.
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Quý I năm 2020 vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 10.085 tỷ đồng, bằng 64,4% so với quý trước và tăng 9,2% so với cùng kỳ; trong đó: Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước ước đạt 821 tỷ đồng, giảm 3,8%; vốn đầu tư của tư nhân và dân cư ước đạt trên 6,1 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 623 tỷ đồng, tăng 15%; vốn huy động khác ước đạt 285 tỷ đồng, tăng 7,5% so cùng kỳ năm 2019.
Trong tháng 3 năm 2020 số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới không phát sinh. Tính đến thời điểm này có 3 dự án với tổng vốn đầu tư trên 23 triệuUSD, với mục đích đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Hình thức đầu tư là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài từ các nước Hàn Quốc và Hồng Kông.
Tình hình xây dựng thực hiện trong quý I năm 2020 như sau:
Công trình nhà hành chính, căng tin của Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 kế hoạch 69,6 tỷ đồng thực hiện đạt 5,9 tỷ đồng. Công trình căn cứ hậu cần Bộ Chỉ huy quân sự Tỉnh kế hoạch 10,5 tỷ đồng thực hiện đạt 2 tỷ đồng. Công trình đường ĐH 92- Thái Thụy kế hoạch 26,2 tỷ đồng thực hiện đạt 4,3 tỷ đồng. Công trình cầu Vĩnh Trà kế hoạch 21 tỷ đồng thực hiện đạt 1,3 tỷ đồng. Công trình trung tâm kỹ thuật trường Cao Đẳng Y kế hoạch 38 tỷ đồng thực hiện đạt 6,8 tỷ đồng. Công trình đường 217 giai đoạn 2 kế hoạch 218 tỷ đồng thực hiện đạt 9 tỷ đồng. Công trình đường ĐH 64 kế hoạch 58,4 tỷ đồng thực hiện đạt 7 tỷ đồng. Công trình bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình kế hoạch 27,3 tỷ đồng, thực hiện đạt 7 tỷ đồng. Công trình hạ tầng khu đô thị Quang Trung - Thị trấn Thanh Nê kế hoạch 34 tỷ đồng thực hiện đạt 17 tỷ đồng.

7. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước ước tính quý I năm 2020 đạt gần 6.094 tỷ đồng, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa ước đạt 1.612 tỷ đồng, tăng 10,8%; thu thuế xuất nhập khẩu ước đạt hơn 207 tỷ đồng, giảm 24%; trợ cấp ngân sách trung ương ước đạt 2.824 tỷ đồng tăng 40,8%...
Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện quý I năm 2020 ước đạt trên 4.032 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ; trong đó: chi phát triển kinh tế ước đạt 1.640 tỷ đồng, tăng 13,2%; chi tiêu dùng thường xuyên ước đạt trên 1.875 tỷ đồng, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước.
8. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2020 ước đạt 592 triệu USD, bằng 84,3% so với cùng quý năm trước.
Xuất khẩu:
Tháng 03/2020, trị giá xuất khẩu ước đạt 90 triệu USD, giảm 2,7% so với tháng trước và giảm 20,7 % so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: kinh tế tư nhân ước đạt 59 triệu USD, giảm 1,7% so với tháng trước và giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 31triệu USD, giảm 4,5% so với tháng trước và giảm 32% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng có giá trị xuất khẩu tháng 03/2020 tăng so với tháng trước như: Xăng dầu các loại (+71%); máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện (+7,5%) giấy và các sản phẩm từ giấy (+2%);… Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm: Hàng thủy sản (-30,6%); sản phẩm từ sắt thép(-10,6%); hàng dệt may (-6%);...
Quý I năm 2020, trị giá xuất khẩu ước đạt 313 triệu USD, giảm 9,3% so với cùng quý năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế tư nhân trị giá xuất khẩu ước đạt 184 triệu USD, giảm 5,4% so với cùng quý năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 129 triệu USD, giảm 14,4% so với cùng quý năm trước. Mặt hàng có giá trị xuất khẩu quý I năm 2020 tăng so với cùng quý trước như: Hàng thủy sản(+8,4%); gốm sứ(+9,5%); hàng dệt may(+1,6%). Các ngành sản xuất đang chịu tác động lớn từ dịch bệnh Covid-19, hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn hầu hết các mặt hàng đều giảm hoặc không xuất khẩu trong quý I năm 2020 như: sản phẩm mây tre (-75,5%); sản phẩm từ sắt thép (-57,5%); xơ, sợi dệt các loại (33,7%)…
Nhập khẩu:
Kim ngạch nhập khẩu tháng 03/2020 ước đạt 73 triệu USD, giảm 30,5% so với tháng trước và giảm 38,3 % so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế tư nhân trị giá nhập khẩu ước đạt 42 triệu USD, giảm 36,8% so với tháng trước và giảm 43% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 32 triệu USD, giảm 19,8% so với tháng trước và giảm 31% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu tháng 03/2020 tăng so với tháng trước như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử tăng gấp 2,7 lần; hàng thủy sản (+46,4%); vải các loại(+10,2%);... Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm: phế liệu sắt thép (-39,3%); bông các loại(-28%); xăng dầu(-64%);…
Kim ngạch nhập khẩu quý I năm 2020 ước đạt 280triệu USD, giảm 21,8% so với cùng quý năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế tư nhân trị giá nhập khẩu ước đạt 161 triệu USD, giảm 21,7% so với cùng quý năm trước; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 118 triệu USD, giảm 22% so với cùng quý năm trước. Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu quý I năm 2020 tăng so với cùng quý năm trước như: Hàng thủy sản tăng gấp 4 lần; sắt thép các loại tăng gấp 2 lần; phế liệu sắt thép (+17%); ... Bên cạnh đó mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: bông các loại (-40,5%); nguyên phụ liệu dệt may (-23,3%); vải các loại (-32,5)…

5. Chỉ số giá tiêu dùng
Trong tháng 3/2020 tình hình dịch bệnh Covid 19 vẫn diễn biến phức tạp, giá xăng, dầu giảm mạnh đã tác động đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 giảm 0,56% so với tháng trước (khu vực thành thị giảm 0,1%; khu vực nông thôn giảm 0,62%); tăng 0,87% so với tháng 12 năm 2019 và tăng 6,28% so với cùng tháng năm trước.
Do ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh Covid 19 nên nhiều hộ gia đình mua tích trữ các loại lương thực, đồ khô như gạo, mỳ ăn liền... nên chỉ số giá lương thực tăng 1,76% so với tháng trước và tăng gần 5% so với cùng kỳ. Trong tháng có 2 đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 01/3 và 16/3 làm giá xăng 95 giảm 2.570 đồng/lít, giá xăng E5 giảm 2.450 đồng/lít, giá dầu 0,05 giảm 2.140 đồng/lít do nhu cầu tiêu dùng xăng dầu giảm sâu do ảnh hưởng của dịch Covid 19 cùng với đó là cuộc chiến giá dầu giữa Nga và Ả Rập Xê Út chưa có hồi kết nên đã làm chỉ số nhóm “Giao thông” giảm 4,91% so với tháng trước và ảnh hưởng chung vào chỉ số giá tiêu dùng chung của toàn tỉnh.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng năm 2020 tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có chỉ số tăng cao như: “hàng ăn và dịch vụ ăn uống” tăng 15,5%; “thuốc và dịch vụ y tế” tăng 4,55%; “giáo dục” tăng gần 7,8%... Chỉ riêng nhóm “may mặc, mũ nón, giày dép” giảm 1,8%.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Ngay từ đầu năm 2020, Sở Lao động thương binh và xã hội đã chủ động phối hợp cùng Ban Quản lý các khu công nghiệp, UBND các huyện, thành phố nắm tình hình biến động lao động - việc làm, an toàn lao động sau Tết Nguyên đán Canh Tý. Chủ động triển khai các Công điện và văn bản chỉ đạo của Bộ và của tỉnh hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid 19. Phối hợp hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động nước ngoài báo cáo số lượng lao động nước ngoài đang sử dụng (trong đó báo cáo đầy đủ số lao động về nước đã trở lại làm việc, đặc biệt là lao động Trung Quốc) để phối hợp thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid 19. Trong thời gian Việt Nam công bố dịch, thường xuyên cập nhật tình hình biến động lao động nước ngoài và thực hiện chế độ báo cáo hàng ngày với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân tỉnh và Cơ quan Thường trực BCĐ tỉnh.
Quý I/2020, tiếp nhận thông báo của 3 doanh nghiệp đăng ký tuyển lao động của tỉnh đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; cấp giấy phép lao động cho 47 lao động (37 trường hợp cấp mới, 10 trường hợp cấp lại) là người nước ngoài đến làm việc tại các doanh nghiệp ở tỉnh. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 819 trường hợp lao động thất nghiệp.
Ước 3 tháng đầu năm, toàn tỉnh tạo việc làm mới cho 6.540 người (tương đương với cùng kỳ năm trước), trong đó giải quyết việc làm tại địa phương 5.000 người, đi làm việc tại tỉnh ngoài 1.310 người và đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 230 người.
2. Lĩnh vực người có công
Nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020, Sở Lao động thương binh và xã hội đã tham mưu triển khai tặng quà cho người có công với 83.256 suất quà của Chủ tịch nước với tổng kinh phí trên 17 tỷ đồng; 92.200 suất quà của tỉnh với kinh phí trên 41 tỷ đồng. Các huyện đã huy động nguồn ngân sách huyện để tặng trên 91.000 suất quà của cấp huyện với kinh phí gần 18 tỷ đồng; quà của cấp xã và xã hội hóa trên 2.300 suất với tổng kinh phí trên 600 triệu đồng. Tổ chức các đoàn đại biểu của tỉnh đi thăm, tặng quà người có công tiêu biểu trên địa bàn tỉnh; thăm, tặng quà cho thương, bệnh binh nặng của tỉnh Thái Bình đang được nuôi dưỡng tại 05 Trung tâm ngoài tỉnh, người có công với cách mạng đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại 02 trung tâm trong tỉnh. Tổng kinh phí thăm hỏi, tặng quà cho đối tượng chính sách người có công từ ngân sách Trung ương, của tỉnh, của huyện và xã hội hóa nhân dịp Tết nguyên đán Canh Tý năm 2020 với tổng kinh phí khoảng 77 tỷ đồng.
Các đơn vị chức năng đã hoàn thành Đề án hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với người có công với cách mạng theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ theo Kế hoạch. Đến 31/12/2019 đã phê duyệt hỗ trợ là 17.774 hộ (xây mới: 11.371 hộ, sửa chữa: 6.403 hộ); đã hoàn thành giải ngân 17.114 hộ (xây mới: 10.955 hộ, sửa chữa: 6.159 hộ), kinh phí là: 588.540 triệu đồng đạt 96,29% số hộ đã phê duyệt. Số hộ không còn nhu cầu hỗ trợ, đã chuyển đến nơi khác không thực hiện Đề án là 8.056 hộ.
Thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách theo quy định đối với người có công và thân nhân, cụ thể: giải quyết mai táng phí, trợ cấp một lần khi người có công với cách mạng từ trần 609 trường hợp; chế độ ưu đãi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học 3 trường hợp; giải quyết chế độ đối với thân nhân liệt sỹ 03 trường hợp; giải quyết trợ cấp tuất hàng tháng cho thân nhân khi người có công với cách mạng từ trần 19 trường hợp. Tiếp nhận 28 đơn thư; đã giải quyết 10 đơn thư, còn lại đang trong thời gian giải quyết.
3. Công tác giảm nghèo
Năm 2019, tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 17.022 hộ, tỷ lệ 2,66% (giảm 0,69% so với năm 2018); hộ cận nghèo 18.520 hộ, tỷ lệ 2,89% (giảm 0,27% so với năm 2018.
Quý I/2020, Sở Lao động thương binh và xã hội đã phối hợp với Sở Tài chính, Bảo hiểm xã hội tỉnh tham mưu UBND tỉnh cấp thẻ BHYTcho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2020, trong đó, thẻ BHYT người nghèo 19.678 thẻ; thẻ BHYT cho người cận nghèo 31.370 thẻ.
Nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020, Sở đã phối hợp với phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện, thành phố, các đơn vị, các nhà hảo tâm thăm và tặng quà các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 54.043 suất quà với kinh phí hơn 19 tỷ đồng, đảm bảo 100% hộ nghèo được tặng quà.
4. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm
Công tác phòng chống dịch
- Ngành Y tế tăng cườngcông tác giám sát, báo cáo hàng ngày về tình hình dịch, phòng chống dịch bệnh theo các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế về phòng chống dịch bệnh nguy hiểm, bệnh dịch theo mùa đặc biệt là vi rút Covid 19, tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức của người dân, chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh chủ động trong việc thu dung, điều trị người bệnh, đặt cơ sở cách ly tại trường Quân sự tỉnh tại huyện Đông Hưng và tổ chức triển khai hoạt động cách ly tập trung cho đối tượng có nguy cơ đi từ vùng dịch về; ngành y tế đã thành lập Tổ chỉ đạo chuyên môn y tế tại Khu cách ly y tế tập trung - Trường quân sự tỉnh và cử cán bộ y tế tham gia phòng chống dịch tại khu cách ly - Trung đoàn 568; đảm bảo trang bị trang thiết bị, thuốc, vật tư tiêu hao cho đơn vị cách ly điều trị bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid 19; kịp thời tham mưu đề xuất dự trù kinh phí vật tư hóa chất phòng chống dịch; triển khai tích cực các hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
- Phối hợp Ban quản lý khu công nghiệp, Sở Lao động thương binh và xã hội, Cục xuất nhập cảnh quản lý các đối tượng người nước ngoài, người lao động về nước đến từ vùng dịch và vùng có nguy cơ vào địa bàn tỉnh. Tổ chức phun hóa chất khử trùng tại các trường học, bệnh viện, cơ quan, nơi tập trung đông người.
- Ngành Y tế đã triển khai kế hoạch kiểm tra cơ sở kinh doanh thuốc, trong đó tập trung kiểm tra việc kinh doanh thuốc, khẩu trang, vật tư, thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch viêm đường hô hấp do vi rút corona mới gây ra theo chỉ đạo của Bộ Y tế, UBND tỉnh; chỉ đạo Phòng Y tế huyện, thành phố phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra các cơ sở kinh doanh trên địa bàn quản lý.
Tình hình HIV/AIDS:
Trên địa bàn tỉnh đang tiếp nhận và điều trị bằng thuốc Methadone cho 1.299 người nghiện ma túy tại tất cả các cơ sở điều trị Điều trị ARV cho 1.256 bệnh nhân, 33 trường hợp được tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV.
Trong quý I, toàn tỉnh có 2.136 người nhiễm HIV/AIDS còn sống (được báo cáo) tại 253/286 xã, phường, thị trấn có người nhiễm HIV, trong đó: 729 phụ nữ (34,2%), lũy tích 1.460 bệnh nhân AIDS. Trong tháng phát hiện 10 người nhiễm mới.
5. Văn hoá - Thể thao
Văn hóa
Sở Văn hóa thể thao và du lịch đã chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị trực thuộc, Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa - Thể thao các huyện, thành phố tuyên truyền, vận động nhân dân tổ chức đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, tích cực thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh, giữ vững kỷ cương, an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai rộng khắp, việc tổ chức đăng ký các danh hiệu văn hóa thực hiện kịp thời, đảm bảo đúng quy định.
Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh tổ chức biên tập, trưng bày, giới thiệu sách, báo, tạp chí chào mừng kỷ niệm 89 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng xuân Canh Tý, tổ chức 4 điểm xe Thư viện lưu động, phục vụ trên 3.000 lượt học sinh và nhân dân tham gia. Trong quý I, Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh đã cấp 75 thẻ bạn đọc, phục vụ 213 lượt bạn đọc với 7.859 lượt tài liệu; tặng 100 bản báo xuân.
Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức tuần phim chuyên đề kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và kỷ niệm ngày Điện ảnh Việt Nam được trình chiếu tại rạp thống nhất. Trong quý I, Trung tâm văn hóa tỉnh đã tổ chức được 40 buổi chiếu phim lưu động cùng với Nhà hát chèo Thái Bình đã tổ chức được 10 buổi biểu diễn trước, trong và sau tết với chủ đề mừng Đảng, mừng xuân phục vụ nhân dân tại cơ sở.
Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Bộ, của tỉnh về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, buôn bán, tàng trữ, sử dụng pháo, đốt và thả đèn trời; về tổ chức lễ hội, việc thực hiện nếp sống văn hóa trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền công tác lãnh đạo chỉ đạo đảm bảo an ninh trật tự và tổ chức các hoạt động trong dịp tết.
Thể dục, thể thao
Các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trong tỉnh. Sở đã ban hành các điều lệ tổ chức hội thi thả Diều; hội thi bơi trải; Vật tự do nam, nữ mở rộng chào mừng kỷ niệm 130 năm Ngày thành lập tỉnh và Ngày hội Văn hóa, Thể thao và du lịch tỉnh Thái Bình.
Trong quý I, Trung tâm Huấn luyện thể dục thể thao tổ chức tập huấn cho các vận động viên chuẩn bị tham gia thi đấu các giải: Việt giã Báo Tiền Phong, Cúp Vật cổ điển - tự do toàn quốc, Vô địch bơi lặn bể 25m quốc gia; Cúp đua thuyền Canoing, vô địch đội cầu lông toàn quốc, vô địch Whushu quốc gia.
6. Tình hình an toàn giao thông
Theo báo cáo của Ban an toàn giao thông từ ngày 15/02/2020 đến ngày 14/3/2020 trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 3 người chết và không có người bị thương.
7.Tình hình cháy nổ
Trong quý I năm 2020, trên địa bàn tỉnh Thái Bình xảy ra 4 vụ cháy không có người chết người chết, và không có người bị thương thiệt hại về tài sản ước tính gần 22 tỷ đồng./.


Cục Thống kê Thái Bình

    Tổng số lượt xem: 114
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.