Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ sáu, ngày 5 tháng 3 năm 2021
English
a A
Ngày 02/10/2020-10:02:00 AM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2020 của tỉnh Thái Bình

TÌNH HÌNH KINH TẾ

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Chín tháng đầu năm 2020, GRDP trên địa bàn tỉnh Thái Bình (giá so sánh 2010) dự kiến đạt 38.132 tỷ đồng, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2019. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 8.961 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, đóng góp 0,8 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 15.055 tỷ đồng, tăng 6,4% so với cùng kỳ, đóng góp 2,5 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng; trong đó: ngành công nghiệp tăng 5,4% (đóng góp 1,4 điểm phần trăm), ngành xây dựng tăng 8,5%. Khu vực dịch vụ ước đạt 11.790 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ và thuế sản phẩn đóng góp 1,1 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình ước 9 tháng năm 2020 (theo giá hiện hành) như sau: Ngành Nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 26,4%; ngành Công nghiệp - Xây dựng chiếm 41,1%; ngành Dịch vụ chiếm 32,5%.

Ngành nông nghiệp, lâm nông và thủy sản

Sản xuất của khu vực nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2020 gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thời tiết diễn biến bất thường, giá cả thị trường không ổn định, dịch bệnh trên vật nuôi diễn biến phức tạp. Tuy nhiên với sự chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền, sự nỗ lực khắc phục khó khăn của bà con nông dân, sản xuất nông nghiệp đã đạt được kết quả tích cực. Riêng thuỷ sản đạt mức tăng trường khá cả về nuôi trồng và khai thác.

Nông nghiệp

Trồng trọt

Sản xuất vụ đông xuân:

Diện tích gieo cấy lúa vụ đông xuân năm 2020 đạt 76.252 ha, giảm 1.337 ha, (-1,7%) so với vụ đông xuân năm 2019. Tuy diện tích lúa xuân giảm, song các địa phương đã chỉ đạo thực hiện tốt đề án sản xuất của tỉnh, cơ cấu giống được chọn lọc theo hướng tích cực, diện tích gieo cấy có hợp đồng bao tiêu sản phẩm đạt gần 30.000 ha, chiếm 39,3% diện tích. Năng suất lúa xuân đạt 70,7 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha; sản lượng đạt 539 nghìn tấn, giảm 14 nghìn tấn so với vụ xuân năm 2019.

Diện tích gieo trồng các loại cây màu vụđông xuân 2020 đạt 51.047ha, tăng 1,0% so cùng kỳ; trong đó diện tích gieo trồng cây màu vụ đông đạt 36.278 ha, tăng 0,4%; diện tích gieo trồng cây màu vụ xuân đạt 14.770ha, tăng 2,4% so với vụ xuân năm 2019. Thời tiết năm nay cơ bản thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của rau màu, vì vậy năng suất rau các loại vụ đông xuân (gồm rau ăn lá, rau lấy quả…) đạt bình quân 231tạ/ha, tăng 4,7% so cùng kỳ, sản lượng đạt 671 ngàn tấn, tăng 10,5% so với cùng kỳ.

Sản xuất vụ mùa:

Diện tích gieo trồng vụ mùa năm 2020 đạt 93.402 ha, giảm 349 ha (-0,4%) so với vụ mùa năm 2019; trong đó cây lương thực có hạt đạt 79.642 ha, giảm 0,4%; cây chất bột có củ đạt 564 ha, giảm 11%; cây có hạt chứa dầu đạt 1.193 ha, giảm 7,5%; rau, đậu, hoa các loại đạt 11.217 ha, tăng 4,6% so với cùng kỳ 2019.

Diện tích gieo cấy lúa vụ mùa đạt 77.283 ha, giảm 0,5% (-347 ha) so với vụ mùa năm trước. Mặc dù diện tích gieo cấy giảm, song cơ cấu giống lúa có sự chuyển đổi theo hướng tích cực; giống lúa ngắn ngày đạt 75.074 ha, chiếm 97,1%; giống lúa dài ngày đạt 2.209 ha, chỉ chiếm 2,9% diện tích lúa mùa. Diện tích lúa chất lượng gạo ngon các năm gần đây liên tục tăng, do đây là những giống lúa được thị trường ưa dùng, dễ bán, giá bán cao hơn so với các giống lúa thuần, lúa lai. Diện tích lúa chất lượng cao đạt 22.439 ha, chiếm 29% diện tích lúa mùa, tăng 12,2% so với vụ mùa năm 2019.

Vụ mùa năm nay, mặc dù đầu vụ thời tiết nắng nóng kéo dài khiến lúa phát triển chậm, nhưng sang tháng 8 thời tiết nhiều ngày có mưa đã giúp cây lúa sinh trưởng phát triển tốt. Đến ngày 17/9/2020 diện tích lúa mùa đã trỗ đạt 69.478 ha, chiếm90%. Nếu từ nay đến cuối vụ thời tiết thuận, công tác phòng trừ sâu bệnh tốt, dự kiến năng suất lúa vụ mùa năm nay đạt khá, đảm bảo hoàn thành kế hoạch đề ra.

Diện tích gieo trồng cây màu vụ mùa đạt 16.119 ha, tương đương vụ mùa năm trước, gồm các loại cây chủ yếu: ngô 2.309 ha, tăng 2,8%; rau các loại 9.562 ha, tăng 3,3%; đậu đỗ các loại 1.367 ha, tăng 11,2%.

Sản xuất cây lâu năm:

Diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 8.138 ha, giảm 0,7% (-60 ha) so với cùng kỳ năm 2019. Cây ăn quả là cây trồng chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 5.816 ha, chiếm 71,5% tổng diện tích, tăng 0,5% (+30 ha) so với cùng kỳ. Một số diện tích cây lâu năm già cỗi không cho hiệu quả kinh tế nhưnhãn, vải đã bị phá bỏ, một phần diện tích đã được trồng thay thế bằng những cây trồng khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn như: ổi, na, xoài, đu đủ, hồng xiêm, mít, chuối,…

Chín tháng năm 2020 thời tiếtthuận lợi cho cây lâu năm đặc biệt là các loại cây ăn quả phát triển tương đối tốt và cho năng suất cao. Uớc tính sản lượng một số cây ăn quả chính đều tăng so với cùng kỳ năm 2019 như: xoài ước đạt 2,7 nghìn tấn, tăng 3,2%; hồng xiêm 3,5 nghìn tấn, tăng 6,2%; chuối 57,4 nghìn tấn, tăng 1,5%; thanh long 3,0 nghìn tấn, tăng 17,9%; ổi 2,1 nghìn tấn, tăng 13,8%; nhãn 6,3 nghìn tấn, tăng 24,8%; vải 2,3 nghìn tấn, tăng 16,2%,… Một số mô hình trang trại trồng chuối tây Thái Lan, thanh long ruột đỏ, mít ruột đỏ,… đã cho thu hoạch với năng suất cao.

Chăn nuôi:

Chăn nuôi gia súc: Tổng đàn trâu tại thời điểm tháng 01/9/2020 ước đạt 6,1 nghìn con, tăng 0,5% so với cùng kỳ.Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tháng 9/2020 ước đạt 80 tấn, tăng 1,3%; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý III/2020ước đạt 200 tấn, giảm 0,5%; tính chung 9 tháng năm 2020 sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 612 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ.

Đàn bò phát triển khá do thuận lợi về giá cả và thị trường tiêu thụ, người chăn nuôi có lãi ổn định. Tổng đàn bò tại thời điểm 01/9/2020 ước đạt gần 50 nghìn con, tăng 3,4% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tháng 9/2020 ước đạt 394 tấn, tăng 4,2%; sản lượng thịt bòhơi xuất chuồng quý III/2020 ước đạt 2.090 tấn, tăng 19,8%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 9 tháng năm 2020 ước đạt 6.610 tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi lợn:Trong tháng 9 tình hình dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát, việc phát triển đàn lợn trong thời gian qua đã có tín hiệu tốt, quy mô đàn lợn trong quí III đã có biến động tăng mạnh, tuy nhiên quy mô tái đàn nuôi vẫn chỉ dừng lại ở các cơ sở chăn nuôi trang trại và gia trại, đảm bảo chất lượng con vật nuôi an toàn sinh học; đối với các hộ chăn nuôi nhỏ vẫn chưa phát triển nhiều do giá cả thị trường con giống vẫn ở mức cao và khan hiếm.

Ước tính tổng đàn lợn tại thời điểm 01/9/2020 đạt 647,5 nghìn con, tăng 2,3% so với tháng 8/2020 và tăng 1,2% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 9/2020 ước đạt 18,2 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý III/2020 ước đạt42,7 nghìn tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2020 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 116,6 nghìn tấn, giảm 7,1% so với cùng kỳ 2019.

Chăn nuôi gia cầm:

Số lượng đàn gia cầm hiện nay đang có chiều hướng giảm do một số trang trại nuôi gia cầm chuyển sang tái đầu tư chăn nuôi lợn. Tuy nhiên dự báo trong những tháng cuối năm, tình hình thời tiết ổn định, dịch bệnh ít xảy ra, số lượng đàn gia cầm sẽ duy trì phát triển nhất là số lượng đàn gà do các hộ chăn nuôi đang chuẩn bị gà nuôi phục vụ nhu cầu thực phẩm vào dịp cuối năm.

Ước tính tồng đàn gia cầm tại thời điểm 01/9/2020 đạt gần 14 triệu con, giảm 4,2%; trong đó đàn gà đạt 10,3 triệu con, giảm 1,3% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tháng 9/2020 ước đạt 6,9 nghìn tấn tăng 4,4% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý III/2020 ước đạt 20,1nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2020 sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 47,0 nghìn tấn, tăng 7,0% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng đạt 37,2 nghìn tấn, tăng 9,1%; sản lượng trứng gia cầm đạt 243,5 triệu quả, tăng 2,4% so với cùng kỳ 2019.

Lâm nghiệp

Trong quí III/2020 không có diện tích rừng trồng mới tập trung, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 466 m3, tăng 4,7%; sản lượng củi khai thác ước đạt 1.795 ste, tăng 1,7% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2020 đã trồng mới được 20,7 ha rừng phòng hộ, tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2019; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.351 nghìn cây, giảm 3,1%; số cây ươm giống lâm nghiệp ước đạt 1.053 nghìn cây, tăng 4,1%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.645 m3¬, giảm 0,2%; sản lượng củi khai thác ước đạt 5.910 ste, giảm 1,3% so với cùng kỳ.

Thủy sản

Trong 9 tháng đầu năm, tình hình thời tiết tương đối tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khai thác và nuôi trồng. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên nên dịch bệnh phát sinh ở mức độ nhẹ không đáng kể; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 9/2020 ước đạt 24,6 nghìn tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 9,9 nghìn tấn, tăng 7,7%; tôm đạt 1,1 nghìn tấn, tăng 32,5%; thuỷ sản khác đạt 13,6 nghìn tấn, tăng 8,1%.Tổng sản lượng thủy sản quý III/2020 ước đạt 71,2 nghìn tấn, tăng 7,9% so với cùng kỳ ; trong đó nuôi trồng đạt 49,6 nghìn tấn, tăng 7,2%; khai thác đạt 21,6 nghìn tấn, tăng 9,6%. Tính chung 9 tháng năm 2020 tổng sản lượng thủy sản ước đạt 190,6 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 76,8 nghìn tấn, tăng 6,3%; tôm đạt 4,7 nghìn tấn, tăng 12,7%; thuỷ sản khác đạt 109,1 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ.

Khai thác

Sản lượng khai thác tháng 9/2020 ước đạt 7,5 nghìn tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 5,6 nghìn tấn, tăng 9,7%; tôm đạt gần 0,2 nghìn tấn, tăng 0,2%; thủy sản khác đạt 1,7 nghìn tấn, tăng 9,1% so với cùng kỳ.Sản lượng khai thác quý III/2020 ước đạt 21,6 nghìn tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 15,7 nghìn tấn, tăng 10,0%; tôm đạt0,7 nghìn tấn, tăng 17,1%; thủy sản khác đạt 5,2 nghìn tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung9 tháng năm 2020 sản lượng khai thác ước đạt 70,7 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 46,3 nghìn tấn, tăng 7,5%; tôm đạt 1,4 nghìn tấn, tăng 3,1%; thủy sản khác đạt 23,1 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ.

Nuôi trồng

Tình hình thời tiết trong 9 tháng đầu năm tương đối thuận lợi, nhiệt độ thích hợp cho nuôi trồng thủy sản. Nuôi nước mặn (nuôi ngao)dịch bệnh diễn biến tương đối ổn định, vì vậy năng suất duy trì khá; nuôi nước lợ (tôm, cá) phát triển ổn định, đến thời điểm này tôm sú đang vào mùa thu hoạch rộ, tôm thẻ chân trắng bắt đầu nuôi thả vụ 2. Sản lượng nuôi trồng đạt mức khá, trong đó tôm thẻ chân trắng cho năng suất và sản lượng tăng cao so với cùng kỳdo các doanh nghiệp và các hộ nuôi mở rộng diện tích nuôi theo hình thức công nghệ cao. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 9/2020 ước đạt 17,1 nghìn tấn, tăng 8,7% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 4,3 nghìn tấn, tăng 5,2%; tôm đạt trên 0,9 nghìn tấn, tăng 41,6%; thủy sản khác đạt 11,9 nghìn tấn, tăng 8,0% so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng quý III/2020 ước đạt 49,6 nghìn tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 12,5 nghìn tấn,tăng 5,0%; tôm đạt2,1 nghìn tấn, tăng 9,4%; thủy sản khác đạt 35,0 nghìn tấn, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2020 sản lượng nuôi trồng ước đạt 119,9 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 30,5 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm đạt 3,3 nghìn tấn, tăng 17,3%; thủy sản khác đạt 86,1 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ.

Mô hình nuôi cá lồng trên sông tiếp tục phát triển về số lượng lồng nuôi, đối tượng nuôi ngày càng đa dạng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân trong và ngoài tỉnh. Hiện toàn tỉnh có 608 lồng tương đương với thể tích nuôi đạt 69.070m3¬, tăng 34 lồng so với cùng kỳ, tập trung tại các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Đông Hưng, Vũ Thư,… đối tượng nuôi chủ yếu gồm các loại có giá trị kinh tế cao như: cá diêu hồng, cá trắm, cá chép, cá lăng,… năng suất thu hoạch bình quân đạt 4-5 tấn/lồng. Hiện một số hộ nuôi đang thử nghiệm nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá hô, cá tra,… Sản lượng nuôi lồng bè 9 tháng năm 2020 ước đạt 1,6 nghìn tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 9/2020 ước tăng 0,1% so với tháng trước và giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng gần 4% so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2019 trong đó một số ngành tăng cao như khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên, tăng gần 8% so với tháng trước và tăng 43,2% so với cùng kỳ năm trước.

IIP quý III năm 2020 ước tăng 11,1% so quý trước và giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng tới 18,5% so với quý trước và tăng 5,7% so với cùng quý năm trước.

IIP 9 tháng đầu năm 2020 ước bằng 90,2% so với cùng kỳ năm trước do ngành công nghiệp chế biến chế tạo, giảm 7,3% so với cùng kỳ. Tuy nhiên ngành sản xuất và phân phối khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có chỉ số tăng khá mạnh 13,1%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải cũng tăng 5,4% so với cùng quý năm trước.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Tháng 9/2020, có mức tăng mạnh so với cùng kỳ như: sản phẩm phụ tùng khác của xe có động cơ ước đạt 86 nghìn cái, tăng 3,6 lần so cùng kỳ; bộ đèn sử dụng cho cây NOEL ước đạt 440 bộ, tăng hơn 2 lần; xe mô tô chưa được phân vào đâu, xe thùng ước đạt 4.275 chiếc(+91%); túi khí an toàn ước đạt 95 nghìn túi (+79,4%); khí tự nhiên và dạng khí ước đạt 3 triệu M3 (+43,2%); loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa ước đạt 3 triệu cái (+37,7%); thức ăn cho gia cầm ước đạt 9.319 tấn (+33,8%);... Bên cạnh đó trong tháng cũng có một số sản phẩm giảm như: bia dạng lon ước đạt 1.415 nghìn lít (-73,7%); bia chai ước đạt 1.239 nghìn lít,nguyên nhân giảm hai sản phẩm bia nêu trên đã phản ánh đúng thực tầm ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 khi quay trở lại lần hai, đồng thời để giảm tải áp lực và vận hành doanh nghiệp theo xu hướng, cụ thể như công ty bia Hương Sen đã chuyển một số bộ phận sang sản xuất sản phẩm khẩu trang tạm thời và với xu hướng cho thời gian tới thị trường tiêu thụ mặt hàng này sẽ giảm theo mùa vụ nên đây cũng là bức tranh phản ánh đúng hiện thực của ngành sản xuất đồ uống; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng ước đạt 2.369 tấn (-52,4%); bộ com – lê, quần áo đồng bộ, áo Jacket ước đạt 1.410nghìn cái (-40%)... Các sản phẩm trên giảm đã phản ảnh đúng thực trạng ngành sản xuất công nghiệp đã và đang phải đối phó với đại dịch Covid-19, nguyên nhân chủ yếu phần lớn do ảnh hưởng bởi yếu tố nguyên vật liệu đầu vào của các doanh nghiệp.

Trong quý III năm 2020, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng cao so với cùng kỳ như: phụ tùng khác của xe có động cơ ước đạt 238 nghìn cái, tăng hơn 3,3 lần; sản phẩm Túi khí an toàn ước đạt 274 nghìn cái (+88,2%); Nitơrat Amoni ước đạt 42.798 tấn (+33,6%); thức ăn gia cầm ước đạt 17.390 tấn (+31%)... Bên cạnh đó cũng có một số sản phẩm có tốc độ giảm so với cùng kỳ như: bia dạng lon ước đạt 7.722 nghìn lít, giảm 57,5%; tai nghe khác sản xuất ước đạt 16.708 nghìn cái (-25,1%); thép cán sản xuất ước đạt 78.334 tấn, giảm gần 20%.

Chín tháng đầu năm 2020, một số sản phẩm công nghiệp tăng như: phụ tùng khác của xe có động cơ ước đạt 526 nghìn cái, tăng gần 5lần so với cùng kỳ; túi khí an toàn ước đạt 677 nghìn cái, tăng hơn 3,2 lần; thức ăn cho gia súc ước đạt 70.068 tấn, tăng 30%; dịch vụ tráng phủ kim loại bằng cách nhúng vào kim loại ước đạt 50.735 triệu đồng, tăng 20,8%; thức ăn cho gia cầm ước đạt 51.841 tấn, tăng 19%; Nitơrat Amoni ước đạt 145.978 tấn, tăng 18,9%; điện sản xuất ước đạt 3.080 TrKwh, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước... Bên cạnh đó cũng có một số sản phẩm trong 9 tháng giảm so cùng kỳ do ảnh hưởng nặng nề trong khoảng 04 tháng đầu tâm điểm dịch Covid-19 và hai tháng gần đây khi dịch quay trở lại như: sản phẩm bia dạng lon ước đạt 24.614 nghìn lít, giảm 44,7%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng ước đạt 26.808 tấn, giảm 39,2%; bộ com – lê, quần áo đồng bộ, áo jacket ước đạt 10.574 nghìn cái, 37,5%; tàu đánh bắt thủy hải sản, các loại tàu chuyên dụng ước đạt 25 triệu đồng, giảm 30,3%; sản phẩm sứ vệ sinh ước đạt 2.382 nghìn cái, giảm 29,6% so với cùng kỳ năm 2019.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 năm 2020 giảm hơn 1,4% so với tháng trước và giảm hơn 5,6% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tồn kho ngành chế biến, chế tạo tính đến tháng 9 năm 2020 tăng hơn 4,1% so với tháng trước và tăng hơn 32,8% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2020 giảm 3,1% so với cùng thời điểm năm trước. Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm gần 6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2019.

Đầu tư – xây dựng

Đầu tư

Tháng 9/2020 vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt trên 538 tỷ đồng, tăng 13,9% so với tháng trước, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt trên 329 tỷ đồng, tăng 19% so với tháng trước và tăng 41,1% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt trên 128 tỷ đồng, tăng 11,4% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; vốn ngân sách cấp xã ước đạt trên 80,7 tỷ đồng, tăng 0,2% so với tháng trước và giảm 19,5% so với cùng kỳ.

Quý III năm 2019 vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 1.423 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 851 tỷ đồng, tăng 10,5%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 338 tỷ đồng, tăng 17,5%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 234 tỷ đồng, giảm 18,9% so với cùng quý năm 2019.

Trong 9 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 3.300 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.831,3 tỷ đồng, tăng 9,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 746,2 tỷ đồng, tăng 11,7; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt trên 722,6 tỷ đồng giảm 1,4% cùng kỳ năm 2019.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

Quý III năm 2020 vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 13.756 tỷ đồng, tăng 25% so với quý trước và tăng 7,7% so với cùng kỳ; trong đó: Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước ước đạt 1.656 tỷ đồng, có mức tăng tương ứng là 32,4% và 17%; vốn đầu tư của tư nhân và dân cư ước đạt trên 9.616 tỷ đồng, tăng 17,8% so với quý trước và giảm 3,2% so với cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 773 tỷ đồng, tăng 18,5% so với quý trước và tăng 2 lần so cùng kỳ; vốn huy động khác ước đạt 879 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so vơi quý trước tăng đồng thời tăng 3 lần so cùng kỳ năm 2019.

Tính đến đầu tháng 9 năm 2020 đã cấp 507 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, 42 chi nhánh, 18 văn phòng đại diện với số vốn đăng ký đạt trên 4.384,4 tỷ đồng. Xác nhận Doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động: 217 doanh nghiệp; doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là 47 doanh nghiệp. Trong đó thu hồi GCN ĐKKD do DN giải thể là 47 doanh nghiệp.

Tính đến tháng 9/2020 trên địa bàn tỉnh có 6 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng 4 dự án so với năm trước, với tổng vốn đầu tư gần 51 triệu USD với mục đích đầu tư là ngành công nghiệp chế biến chế tạo, dịch vụ tư vấn và thương mại dịch vụ. Hình thức đầu tư là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tới từ các nước Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan.

Xây dựng

Tình hình xây dựng thực hiện trong quý II năm 2020 như sau:

- Công trình hạ tầng khu Trái Diêm III xã Tây Giang kế hoạch 46,7 tỷ đồng thực hiện đạt 15,5 tỷ đồng do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thiết kế Phú Thăng Long thi công.

- Công trình trường Tiểu học Trần Hưng Đạo kế hoạch 13 tỷ đồng thực hiện đạt 2,8 tỷ đồng do Công ty cổ phần xây dựng Đức Tuấn thi công.

- Công trình đường từ Vũ Bình- Vũ Công kế hoạch 8,5 tỷ đồng thực hiện đạt 6,2 tỷ đồng do Công ty cổ phần Đức Tuấn thi công.

- Công trình đường 454 đi hành cung Lỗ Giang kế hoạch 30 tỷ đồng thực hiện đạt 6,3 tỷ đồng do Công ty xây dựng Đông Bắc thi công.

- Công trình sửa chữa trụ sở UBND huyện Hưng Hà kế hoạch 16,5 tỷ đồng thực hiện đạt 5,7 tỷ đồng do công ty xây dựng Xuân Trang thi công.

- Công trình đường từ ngã 6 huyện đi xã Kim Trung kế hoạch 15 tỷ đồng thực hiện đạt 4.5 tỷ đồng do Công ty TNHH xây dựng Tiến Phú thi công.

- Công trình cụm công nghiệp Đông La- Đông Huy kế hoạch 84 tỷ đồng thực hiện đạt 13 tỷ đồng do Công ty cổ phần tư vấn thiết kế đầu tư xây dựng Qúy Hà thi công.

- Công trình nhà hành chính, căng tin của Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 kế hoạch 69,6 tỷ đồng thực hiện đạt 8,3 tỷ đồng do công ty cổ phần xây lắp Hà Bắc thi công.

- Công trình hạ tầng khu dân cư Vũ Phúc kế hoạch 325 tỷ đồng thực hiện đạt 11,5 tỷ đồng do công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long thi công.

- Công trình Bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình kế hoạch 40 tỷ thực hiện đạt 10 tỷ đồng do công ty TNHH xây dựng và thương mại Nam Minh Phát thi công.

- Công trình đường ĐH 92- Thái Thụy kế hoạch 26,2 tỷ đồng thực hiện đạt 6,5 tỷ đồng do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thiết kế Phú Thăng Long thi công.

-Công trình đường Trà Giang – Nam Cao kế hoạch 32 tỷ đồng thực hiện đạt 14,8 tỷ đồng do công ty TNHH Thuận Duy thi công.

Hoạt động dịch vụ

Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid -19 bùng phát mạnh trên toàn cầu đã ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Nhiều nền kinh tế lớn đang đối mặt với tình trạng suy thoái kinh tế, thương mại toàn cầu tiếp tục suy giảm, các nước có nền kinh tế phát triển, đang phát triển như Việt Nam cũng bị ảnh hưởng không nhỏ của dịch bệnh toàn cầu.

Đối với tỉnh Thái Bình, kinh tế - xã hội không bị ảnh hưởng nhiều trong 9 tháng đầu năm 2020 nhưng cũng đã chậm lại so với kế hoạch đề ra trong giai đoạn 5 năm. Diễn biến dịch bệnh khó lường làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của hầu hết các ngành, các lĩnh vực bị chậm lại, người lao động thiếu việc làm, thu nhập của nhân dân giảm mạnh, nhiều ngành hàng như du lịch, lưu trú, ăn uống và nhiều dịch vụ khác kém phát triển.

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 9/2020 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 3.772 tỷ đồng, tăng 0,2% so với tháng trước và giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Theo ngành kinh tế: Doanh thu thương nghiệp ước đạt 3.297 tỷ đồng, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú ước đạt 8,7 tỷ đồng, giảm 0,8% so với tháng trước và giảm 35,5% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 220 tỷ đồng, giảm 1,7% so với tháng trước và giảm 20,3% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 246 tỷ đồng, tăng 10,1% so với tháng trước và tăng 0,6% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hóaước đạt 3.297 tỷ đồng, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 9 các nhóm hàng tăng so với tháng trước như: Nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước đạt 30 tỷ đồng, tăng 76,2%; nhóm phương tiện đi lại ước đạt 168 tỷ đồng, tăng 9,4%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 514 tỷ đồng, tăng 4,2%;… Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm so với tháng trước như: Nhóm xăng dầu các loại ước đạt 484 tỷ đồng, giảm 6,7%; nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 1.122 tỷ đồng, giảm 1,7%; nhóm hàng may mặc ước đạt 116 tỷ đồng, giảm 0,5%…

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụước quý III năm 2020 đạt 11.405 tỷ đồng, tăng 5,6% so với quý trước và tăng 1,7% so với cùng quý năm trước. Theo ngành kinh tế: Doanh thu thương nghiệp ước đạt 9.959 tỷ đồng, tăng 4,6% so với quý trước và tăng 3,4% so với cùng quý năm trước.; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú ước đạt 28 tỷ đồng, tăng 22,4% so với quý trước và giảm 29,1% so với cùng quý năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 698,1 tỷ đồng, tăng 23,8% so với quý trước và giảm 15,4% so với cùng quý năm trước; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 1,7 tỷ đồng, giảm 18% so với quý trước và giảm 76,1% so với cùng quý năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 718 tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý trước và tăng 1,4% so với cùng quý năm trước.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa quý IIước đạt 9.959 tỷ đồng, tăng 4,6% so với quý trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ quý năm trước. Trong quý III/2020, các nhóm hàng tăng so với cùng quý năm trước trong đó như: Nhóm đá quý, kim loại quý ước đạt 241 tỷ đồng, tăng 36,3%; nhóm hàng lương thực, thực phẩm ước đạt 3.390 tỷ đồng, tăng 17,5%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.502 tỷ đồng, tăng 7,8%;... Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm so với cùng quý năm trước như: Nhóm ô tô con ước đạt 90 tỷ đồng, giảm 36,8%; nhóm vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 67 tỷ đồng, giảm 17,6%; nhóm hàng may mặc ước đạt 353 tỷ đồng, giảm 13,6% ….

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụước 9 tháng đầu năm 2020 đạt 34.056 tỷ đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Theo ngành kinh tế: Doanh thu thương nghiệp ước đạt 29.827 tỷ đồng, tăng 4,4% so với cùng kỳ.Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 các dịch vụ khác còn lại đều giảm: doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.130 tỷ đồng, giảm 0,2% so với cùng kỳ; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú ước đạt 87,3 tỷ đồng giảm 26,2%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 2.006 tỷ đồng, giảm 18,5%; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 6,1 tỷ đồng, giảm 71,1% so với cùng kỳ.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2020 ước đạt 29.827 tỷ đồng, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tăng so với cùng kỳ năm trước trong đó như: Nhóm đá quý, kim loại quý ước đạt 680 tỷ đồng, tăng 30,4%; nhóm hàng lương thực, thực phẩm ước đạt 9.939 tỷ đồng, tăng 14,5%; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 4.944 tỷ đồng, tăng 4%; … Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ô tô con ước đạt 317 tỷ đồng, giảm 24%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước đạt 204 tỷ đồng, giảm 16,3%; nhóm hàng may mặc ước đạt 1.094 tỷ đồng, giảm 10,5%; ….

Hoạt động vận tải

Tình hình hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Thái Bình, do dịch Covid - 19 tái bùng phát các doanh nghiệp vận tải bị ảnh hưởng nhu cầu đi lại của người dân hạn chế lưu chuyển hàng hóa, luân chuyển hành khách 9 tháng năm 2020 giảm so với cùng kỳ.

Vận tải hành khách

Tháng 9/2020, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 140 tỷ đồng, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 1,9 triệu người, tăng 5,7% so với tháng trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; số lượt khách luân chuyển ước đạt 221 triệu người.km, tăng 8,3% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,6%.

Ước quý III năm 2020 doanh thu vận tải hành khách đạt 404 tỷ đồng, tăng 37% so với quý trước và giảm 0,2% so với cùng quý năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 5,5 triệu người, tăng 33,6% so với quý trước và giảm 1,3% so với cùng quý năm trước; số lượt khách luân chuyển ước đạt 629 triệu người.km so với quý trước tăng 39,4% và so với cùng quý năm trước giảm 1,1%.

Doanh thu vận tải hành khách 9 tháng năm 2020 ước đạt 1.112 tỷ đồng, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 15,2 triệu người, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 1.701 triệu người.km so với cùng kỳ năm trước giảm 7,8%.

Vận tải hàng hóa

Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 9/2020 ước đạt 370,6 tỷ đồng, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 2,2 triệu tấn, tăng 6,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt hơn 871 triệu tấn.km, tăng 6,1% so với tháng trước, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu vận tải hàng hóa quý III năm 2020 ước đạt 1.059 tỷ đồng, tăng 19,2% so với quý trước và tăng 4,6% so cùng quý năm trước. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 6,3 triệu tấn, tăng 19% so với quý trước và giảm 3,1% so với cùng quý năm trước. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt hơn 2.495 triệu tấn.km, tăng 19,2% so với quý trước và tăng 5,6 % so với cùng quý năm trước.

Doanh thu vận tải hàng hóa 9 tháng năm 2020 ước đạt 2.979 tỷ đồng, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2019. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 18 triệu tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 6.885 triệu tấn.km, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu kho bãi dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9/2020 ước đạt 5 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước.

Quý III năm 2020 doanh thu kho bãi dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 15 tỷ đồng, tăng 21% so quý trước và tăng 13% so với cùng quý năm trước.

Cộng dồn 9 tháng năm 2020 doanh thu kho bãi dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 41 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu bưu chính chuyển phát tháng 9/2020 ước đạt 0,4 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 38% so với cùng kỳ năm trước.

Quý III năm 2020 doanh thu bưu chính chuyển phát ước đạt 1,1 tỷ đồng, tăng 12% so quý trước và tăng 43,1% so với cùng quý năm trước.

Cộng dồn 9 tháng năm 2020 doanh thu bưu chính chuyển phát ước đạt 3,3 tỷ đồng, tăng 66% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất nhập khẩu hàng hoá

Tổng trị giá xuất nhập khẩu tháng 9 năm 2020 ước đạt 216 triệu USD, tăng 2,2% so với tháng trước và bằng 75,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2020 ước đạt 1.893,3 triệu USD, bằng 79,04% so với cùng kỳ năm trước

Xuất khẩu

Tháng 9/2020, trị giá xuất khẩu ước đạt 110 triệu USD, tăng 1,7% so với tháng trước và giảm 33,6% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế tư nhân ước đạt 58 triệu USD, tăng 0,8% so với tháng trước và giảm 36,3% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 52 triệu USD, tăng 2,7% so với tháng trước và giảm 30,3% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng có giá trị xuất khẩu tháng 9/2020 tăng so với tháng trước như: Xăng dầu các loại tăng 2,4 lần; hàng thủy sản (+25,5%); sản phẩm gỗ (+8,7%); xơ sợi dêt các loại (+1%);... Các mặt hàng giảm trong tháng như: Sản phẩm từ sắt thép (-3,9%); hàng dệt may (-0,3%).

Trị giá xuất khẩu 9 tháng năm 2020 ước đạt 999,7 triệu USD, giảm 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế nhà nước ước đạt 0,042 triệu USD, giảm 70,5% so với cùng kỳ năm trước. Kinh tế tư nhân ước đạt 554 triệu USD, giảm 21,3% so với cùng kỳ năm trước. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 445,7 triệu USD, giảm 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng có giá trị xuất khẩu 9 tháng năm 2020 tăng so với cùng kỳ trước như: Sản phẩm gốm sứ (+27,8%); sản phẩm gỗ (+24,6%); hàng hóa khác (+10,1%); xăng dầu các loại (+9%). Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm như: Sắt thép (-81,6%); xơ sợi dệt các loại (+41,3%); hàng dệt may (-21%);...

Nhập khẩu

Trị giá nhập khẩu tháng 9/2020 ước đạt 106 triệu USD, tăng 2,7% so với tháng trước và giảm 11,6 % so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế tư nhân trị giá nhập khẩu ước đạt 52 triệu USD, tăng 3,5% so với tháng trước và giảm 10,6% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 54 triệu USD, tăng 1,9% so với tháng trước và giảm 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu tháng 9/2020 tăng so với tháng trước như: máy vi tính, sản phẩm điện tử tăng 26 nghìn lần; chất dẻo nguyên liệu (+24,3%); hàng thủy sản(+19,6%); xăng dầu các loại (+3,4%);... Bên cạnh đó còn có mặt hàng giảm như: Hóa chất (-50,7%); xơ sợi dệt các loại (-25,9%).

Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng năm 2020 ước đạt 893,6 triệu USD, giảm 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo loại hình kinh tế: Kinh tế tư nhân trị giá nhập khẩu ước đạt 487,7 triệu USD, giảm 24,9% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 405,9 triệu USD, giảm 22% so với cùng kỳ năm trước. 9 tháng năm 2020 có hai mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước là hàng thủy sản tăng 85,4% và xăng dầu các loại tăng 3,8% còn lại tất cả các mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: hóa chất (-60%); xơ sợi dệt (-52,8%); vải các loại (-32,8%); phế liệu sắt thép (-18,4%),....

Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2020 tăng 0,07% so với tháng trước; tăng 3,46% so với cùng tháng năm trước; so tháng 12 năm trước tang 0,15%. So với tháng trước nhóm “giáo dục” có chỉ số tăng cao trên 7% do có sự điều chỉnh tăng giá học phí theo Quyết định số 16/2020/NQ-HĐND về việc quy định mức thu học phí cấp học mầm non, trung học cơ sở, trung học phổ thông… Đây cũng là xu hướng diễn ra hàng năm, khi bắt đầu vào năm học mới các trường thường có sự điều chỉnh giá học phí. Nhóm hàng “giao thông” giảm nhẹ (-0,02%) do xăng dầu được điều chỉnh giảm vào ngày 12/9 (giá xăng E5 giảm 140 đồng/lít, giá dầu 0,05 giảm 450 đồng/lít). Giá thịt lợn hơi giảm so với tháng trước cũng làm chỉ số giá nhóm “thực phẩm” giảm 0,89%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2020 tăng4,77% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có chỉ số tăng cao như: “hàng ăn và dịch vụ ăn uống” tăng 15,14%; “thuốc và dịch vụ y tế” tăng 3,59%; “giáo dục” tăng 7,55%... Bên cạnh đó còn các nhóm hàng có chỉ số giảm so với cùng kỳ: nhóm “giao thông” giảm 10,39%; nhóm “may mặc, mũ nón, giày dép” giảm 2,14%...

Thu, chi Ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước ước tính 9 tháng năm 2020 đạt trên 14.575 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa ước đạt gần 4.377 tỷ đồng, giảm 10%; thu thuế xuất nhập khẩu ước đạt 820 tỷ đồng, giảm 16,5%; trợ cấp ngân sách trung ương ước đạt 6.067 tỷ đồng tăng 15,2%...

Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 9 tháng năm 2020 ước đạt 9.905 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ; trong đó: chi phát triển kinh tế ước đạt trên 4.266 tỷ đồng, tăng 18,9%; chi tiêu dùng thường xuyên ước đạt 5.093 tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Lao động và việc làm

Chín tháng đầu năm 2020, đã cấp giấy phép lao động cho 61 lao động là người nước ngoài đến làm việc tại các doanh nghiệp ở tỉnh. 09 tháng đầu năm 2020, số lao động được tuyển sinh đào tạo nghề là 22.115 người (đạt 63% kế hoạch năm, bằng 85,6% so với cùng kỳ năm 2019), trong đó trình độ Cao đẳng nghề là 1.380 người, Trung cấp nghề là 4.335 người; sơ cấp nghề và dưới 03 tháng là 16.400 người. Duy trì công tác khám sức khoẻ định kỳ cho các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, kết quả đã khám sức khỏe cho 10.517 lao động/10 đơn vị trên địa bàn tỉnh.

Ước 9 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho khoảng 24.080 lao động (đạt 72% kế hoạch năm, bằng 83,4% so với cùng kỳ năm 2019) trong đó: việc làm tại địa phương khoảng 18.013 lao động, đi làm việc tại tỉnh ngoài khoảng 4.677 lao động và đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài khoảng 1.390 lao động.

Trợ cấp xã hội

Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh năm 2019 là 17.022 hộ, đạt tỷ lệ 2,66% (giảm 0,69% so với năm 2018); tổng số hộ cận nghèo: 18.520 hộ, tỷ lệ: 2,89% (giảm 0,27% so với năm 2018. Ước thực hiện năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 2,06% (giảm 0,6% so với năm 2019).

Sở Lao động thương binh và xã hội phối hợp với Sở Tài chính, BHXH tỉnh cấp 20.147 thẻ BHYT cho người nghèo, kinh phí trên 9,1 tỷ đồng và 31.493 thẻ BHYT cho người cận nghèo, kinh phí hỗ trợ trên 13,7 tỷ đồng; hỗ trợ mua thẻ BHYT cho hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình là 1.520 người, với tổng kinh phí hỗ trợ trên 181 triệu đồng. Hỗ trợ miễn học phí cho 3.421 lượt học sinh nghèo, với tổng kinh phí trên 538 triệu đồng; hỗ trợ giảm học phí cho 3.346 lượt học sinh cận nghèo, với tổng kinh phí trên 366,5 triệu đồng; thực hiện chính sách hỗ trợ chi phí học tập cho 4.928 lượt học sinh nghèo, cận nghèo, học sinh khuyết tật với kinh phí 1,8 đồng; số trẻ em học mẫu giáo thuộc hộ nghèo được hỗ trợ tiền ăn trưa 1.375 lượt trẻ em, với tổng kinh phí trên 717 triệu đồng.

Đến hết tháng 8/2020, đã có 549 hộ nghèo được vay vốn tín dụng với tổng kinh phí gần 24 tỷ đồng; 758 hộ cận nghèo được vay vốn tín dụng, với tổng kinh phí trên 33 tỷ đồng. Có 16.850 hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện với tổng kinh phí trên 8 tỷ đồng, các hộ nghèo được nhận kinh phí hỗ trợ tiền điện đầy đủ.

Công tác người cao tuổi:Thực hiện chính sách về thăm hỏi, tặng quà cho người cao tuổi nhân dịp Tết Nguyên đán, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Ban đại diện người cao tuổi tỉnh hướng dẫn các địa phương tổ chức chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020. Kết quả, toàn tỉnhcó 48.660 người cao tuổi được chúc thọ, mừng thọ với tổng kinh phí 20,4 tỷ đồng. Triển khai Tháng hành động vì Người cao tuổi Việt Nam và tổ chức các hoạt động hưởng ứng.

Công tác trợ giúp xã hội: Nhân dịp Tết nguyên đán Canh Tý năm 2020, trên địa bàn tỉnh đã trao 54.043 suất quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với kinh phí hơn 19 tỷ đồng, đảm bảo 100% hộ nghèo được tặng quà. Thực hiện trợ cấp đột xuất cho 5 người bị chết, hỗ với tổng kinh phí 37 triệu đồng (trong đó, ngân sách cấp huyện 27 triệu đồng, ngân sách cấp tỉnh 10 triệu đồng).

Hiện nay toàn tỉnh có 111.903 đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng, trong đó 50.967 người cao tuổi (chiếm 45,5%); 50.161 người khuyết tật (chiếm 44,8%), còn lại là các nhóm đối tượng khác.Đến nay, có 421 đối tượng đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại 2 cơ sở trợ giúp xã hội công lập và 94 đối tượng đan được chăm sóc tại 02 cơ sở ngoài công lập. Hiện tại, Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh đang quản lý và cai nghiện cho 228 học viên, trong đó 225 học viên bắt buộc; 03 học viên tự nguyện. Các huyện thành phố chưa tổ chức cai nghiện tại cộng đồng do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Lĩnh vực người có công

Trong tháng, Sở Lao động thương binh và xã hội đã tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và giải quyết chế độ chính sách cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng cho 380 trường hợp, trong đó đã giải quyết cho 271 trường hợp, còn 109 trường hợp đang trong thời hạn giải quyết. Triển khai trợ người có công và thân nhân của người có công với cách mạng gặp khó khăn đo dại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 42 của Chính phủ, đã tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh quyết định phê duyệt danh sách và cấp kinh phí hỗ trợ cho 52.292 người có công và thân nhân của người có công với cách mạng, kinh phí hỗ trợ 78,3 tỷ đồng.

Thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, theo báo cáo của UBND các huyện, thành phố, toàn tỉnh có 3.243 hộ người có công với cách mạng đề nghị hỗ trợ cải thiện nhà ở phát sinh ngoài Đề án (xây mới: 1.913 hộ, sửa chữa: 1.330 hộ), kinh phí trên 103 tỷ đồng, trong đó hộ gia đình người có công với cách mạng đang ở nhà cấp 4, nhà dột nát, nhà có tường nứt, mái nứt, có nguy cơ sập đổ cần ưu tiên hỗ trợ trước mùa mưa bão năm 2020: 888 hộ (xây mới: 556 hộ, sửa chữa: 332 hộ), kinh phí gần 29 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm

Tình hình dịch bệnh:

Những tháng đầu năm 2020, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 diễn biến phức tạp. Công tác phòng, chống dịch Covid-19 trải qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ ngày 23/01/2020 (Tính từ ngày Việt Nam phát hiện trường hợp nghi ngờ đầu tiên) đến ngày 24/7/2020; Giai đoạn 2 từ 25/7/2020 (Tính từ ngày Đà Nẵng phát hiện ca nhiễm Covid-19 mới sau 99 ngày cả nước không có ca nhiễm trong cộng đồng) đến nay chưa kết thúc. Tình hình dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng và tác động nhiều chiều lên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội. Các cấp, các ngành, đoàn thể triển khai, thực hiện Kết luận số 77-KL/TW ngày 05/6/2020 của Bộ chính trị về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch Covid-19 để phục hồi và phát triển nền kinh tế đất nước; xây dựng và thực hiện phương án tăng trưởng kinh tế; thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm an sinh xã hội trước ảnh hưởng của dịch Covid-19…

Tổng số bệnh nhân mắc Covid-19 của tỉnh Thái Bình đã phát hiện là 31 trường hợp. Trong đó: Giai đoạn 1 là 30 trường hợp đều là công dân Việt Nam từ nước ngoài về; Giai đoạn 2 là 01 trường hợp ca nhiễm trong cộng đồng đầu tiên (Bệnh nhân nam sinh năm 1959, Thôn Bùi, Hòa Tiến, Hưng Hà phát hiện ngày 01/8/2020, Mã số BN566). Đến nay, 31/31 trường hợp đều được điều trị khỏi và ra viện. Ngoài ra có 01 bệnh nhân nam sinh năm 1978 về thăm gia đình nhà vợ tại Thôn Lạc Thành Nam, Tây Ninh, Tiền Hải ngày 26 - 27/7/2020, sau đó về Hà Nội và tại Hà Nội được xét nghiệm có kết quả dương tính với Covid-19.

- Tổng số trường hợp nguy cơ được theo dõi, quản lý đến ngày 14/9/2020 là: 13612 trường hợp. Trong đó:

Giai đoạn 1 là 13.612 trường hợp (Theo dõi, quản lý tại cộng đồng 2.646 trường hợp; Theo dõi, quản lý liên quan đến khám và điều trị tại ổ dịch tại Bệnh viện Bạch Mai 1.493 trường hợp; Theo dõi, quản lý tại doanh nghiệp 727 trường hợp; Theo dõi, quản lý theo rà soát các đối tượng đến từ vùng nguy cơ khác 8.746 trường hợp). Giai đoạn 2 là 4.621 trường hợp là đối tượng từ vùng dịch Đà nẵng và các địa phương nguy cơ khác về Thái Bình.

- Tổ chức phong toả các ổ dịch tại cộng đồng đảm bảo an toàn:

Tại Thôn Bùi, Hòa Tiến, Hưng Hà từ ngày 02/8/2020 đến ngày 27/8/2020. Cách ly, theo dõi 115 trường hợp.

Tại Thôn Lạc Thành Nam, Tây Ninh, Tiền Hải từ ngày 06/8/2020 đến ngày 20/8/2020. Cách ly, theo dõi 230 trường hợp.

- Số nghi nhiễm được quản lý, theo dõi, cách ly, điều trị tại các cơ sở y tế là 700 trường hợp. Đến ngày 14/9/2020 còn 7 trường hợp nghi nhiễm đang được tiếp tục cách ly, điều trị.

- Số người được cách ly tập trung tại các trung tâm cách ly trong toàn tỉnh là 3.148 trường hợp. Trong đó: Tại Trung đoàn bộ binh 568 là 2.002 trưởng hợp, Trường Đại học Thái Bình là 350 trường hợp, Khách sạn Diệu Linh là 49 trưởng hợp, Khu Làng Việt là 176 trưởng hợp, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Thái Thuỵ là 20 trưởng hợp, Khu cách ly các huyện là 551 trưởng hợp.

- Tổng số xét nghiệm đến ngày 14/9/2020 là 8.273 mẫu. Trong đó xét nghiệm tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh 7.389 mẫu, có 31 mẫu dương tính.

Ghi nhận 40 trường hợp mắc sốt xuất huyết lâm sàng, 20 trường hợp nội sinh, không có tử vong; 25 trường hợp sốt phát ban nghi Sởi; 299 bệnh nhi mắc bệnh tay chân miệng (chủ yếu ở độ 1 và 2a); 352 trường hợp nghi mắc hội chứng cúm (chủ yếu là trẻ em) và không ghi nhận địa phương có chùm ca bệnh nghi mắc; 52 trường hợp mắc viêm não vi rút trong đó có 02 ca viêm não Nhật Bản, 39 trường hợp mắc thủy đậu.

Tình hình HIV/AIDS:

Các cơ sở điều trị thay thế nghiện chất bằng thuốc Methadone đảm bảo đủ nhân lực, thuốc; tiếp nhận và điều trị bằng thuốc Methadone cho 1.380 người nghiện tại tất cả các cơ sở điều trị và duy trì việc thực hiện các xét nghiệm định kỳ và test nhanh heroin. Điều trị ARV cho 1.282 bệnh nhân, trong đó 936 bệnh nhân (đạt tỷ lệ 73,0%) nhận thuốc ARV từ nguồn BHYT tại các phòng khám điều trị ngoại trú HIV, 155 trường hợp được tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV.

Triển khai các hoạt động nghiên cứu đánh giá kháng thuốc tại Bệnh viện đa khoa Kiến Xương; điều trị PrEP cho đối tượng nguy cơ cao tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh; giám sát, hỗ trợ kỹ thuật các cơ sở chăm sóc điều trị HIV/AIDS; cấp sinh phẩm xét nghiệm sàng lọc HIV, thuốc Cotrimoxazone, vật tư can thiệp giảm hại cho các huyện/thành phố; phối hợp với các câu lạc bộ đồng đẳng cấp phát 142.524 bao cao su, 223.200 bơm kim tiêm, 31.024 chất bôi trơn (cho người nghiện, gái mại dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới).

Tám tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh có 2.178 người nhiễm HIV/AIDS còn sống (được báo cáo) tại 240/260 xã, phường, thị trấn, trong đó: 743 người nhiễm là phụ nữ (34,11%) và 37 trẻ em (1,69%); lũy tích có 1.460 người chuyển sang AIDS, 8 tháng đầu năm đã phát hiện 58 người nhiễm HIV mới.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm:

Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức, chủ động phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; hỗ trợ, xử lý, sẵn sàng chi viện cấp cứu kịp thời khi xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người.

Ngày 17/3/2020, xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm do ăn nhầm con So biển tại nhà làm 03 người/01 gia đình mắc (xã Thái Thượng - Thái Thụy); tới ngày 20/3, cả 03 bệnh nhân đã xuất viện.

Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm.

Văn hóa - Thể thao

Sở Văn hóa thể thao và Du lịch đã tham mưu Ban Chỉ đạo tỉnh ban hành kế hoạch tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2020 và Ngày truyền thống Ngành Thể thao Việt Nam 27/3. Tổ chức tập huấn đội lặn khí tài và thường trực phòng chống thiên tai tìm kiếm cứu nạn; tập huấn và hỗ trợ trang thiết bị môn Bóng chuyền hơi cho cơ sở. Ban hành Điều lệ tổ chức giải Bóng đá các sở, ban, ngành, huyện, thành phố; giải Bóng bàn tranh Cúp Báo Thái Bình; giải Bóng đá công chức chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XX. Trung tâm Văn hóa - Thể thao các huyện, thành phố đã tích cực, chủ động tổ chức các giải: Việt dã, Vật, Cầu lông, Bóng bàn, Bóng chuyền, Cờ tướng, Cờ vua... (tiêu biểu như Vũ Thư, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương); phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện thành phố tổ chức các giải Bóng đá Thiếu niên - Nhi đồng của huyện (tiêu biểu Hưng Hà, Vũ Thư, Đông Hưng, Tiền Hải, Quỳnh Phụ)...

Chín tháng đầu năm, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao đã mở 05 lớp bơi lặn, điền kinh, võ, cầu lông tại các huyện Tiền Hải, Kiến Xương, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Vũ Thư. Tổ chức tập huấn cho các vận động viên tham gia thi đấu 12 giải quốc gia (Việt dã báo Tiền phong; Bóng chuyền A1; Bơi lặn nhóm tuổi toàn quốc; Bơi lặn trẻ toàn quốc; Cầu lông đồng đội toàn quốc; vô địch Wushu quốc gia; vô địch Kickboxing; Đua thuyền Câu lạc bộ; vòng bảng Bóng đá nhi đồng cúp Kun Siêu phàm; vô địch Vật lứa tuổi, trẻ toàn quốc; Cúp Câu lạc bộ Boxing toàn quốc; vô địch trẻ Bóng chuyền quốc gia) đạt 32 huy chương các loại gồm: 05 HCV, 12 HCB, 15 HCĐ.

Tình hình an toàn giao thông

Theo báo cáo của Ban an toàn giao thông từ ngày 15/8/2020 đến ngày 14/9/2020 trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 2 vụ so với tháng trước, làm 6 người chết và 1 người người bị thương. Tính chung 9 tháng đầu năm toàn tỉnh xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, giảm 4 vụ so với cùng kỳ năm 2019, làm39 người chết và 21 người bị thương.

Tình hình cháy nổ

Trong tháng 9/2020, trên địa bàn tỉnh Thái Bình không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Chín tháng năm 2020 xảy ra 5 vụ cháy trên toàn tỉnh, không có người chết và bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính trên 5,4 tỷ đồng./.


Cục Thống kê tỉnh Thái Bình

  • Tổng số lượt xem: 53
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.