Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ sáu, ngày 24 tháng 9 năm 2021
English
a A
Ngày 14/09/2021-11:00:00 AM
Vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du và miền núi Bắc Bộ quyết tâm thực hiện mục tiêu kiểm soát được dịch bệnh, phục hồi, phát triển kinh tế
(MPI) - Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội nghị trực tuyến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư công năm 2022 Vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du và miền núi Bắc Bộ diễn ra ngày 14/9/2021, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong Vùng nên mặc dù tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng dự kiến tình hình kinh tế - xã hội của 8 tháng đầu năm 2021 cơ bản ổn định, kinh tế có bước tăng trưởng nhẹ so với cả nước, các lĩnh vực văn hóa xã hội được duy trì, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ Hoàng Văn Vịnh trình bày báo cáo. Ảnh: MPI

Quyết tâm phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn vùng 8 tháng đầu năm đạt 7,67%, cao hơn mức bình quân của cả nước (5,64%); trong đó vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB) đạt 7,78%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của một số địa phương trong vùng 8 tháng tăng cao, đặc biệt là các ngành chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành. Tổng thu NSNN trên địa bàn 8 tháng đạt 356 nghìn tỷ đồng chiếm 33,5% tổng số thu cả nước (1.063 nghìn tỷ đồng) đạt gần 74% dự toán. Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đạt 72 tỷ USD tăng 15,7% so với cùng kỳ, chiếm gần 34% cả nước (215,55 tỷ USD). Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký trong 8 tháng của vùng đạt 5,8 tỷ USD (chiếm 30% cả nước), với 1.245 dự án (chiếm 27,7% cả nước). Số doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng của vùng là 26.289 doanh nghiệp, đứng thứ 2 sau vùng Đông Nam Bộ, chiếm 32,2% số doanh nghiệp cả nước và số vốn đăng ký 353.552 tỷ đồng, chiếm 31,2% cả nước...

Do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, dự kiến nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của vùng ĐBSH không đạt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, một số địa phương trong Vùng vẫn quyết tâm phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao, đạt và vượt kế hoạch đề ra như Quảng Ninh 10,5%, Bắc Ninh 6,45%, Hà Nam 9,3%, Nam Định 8,5%, Ninh Bình 8%. Thu NSNN dự kiến đạt 508,04 nghìn tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra (501,91 nghìn tỷ); thu nội địa 394,2 nghìn tỷ đồng (KH 391,54 nghìn tỷ đồng). Phấn đấu lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 kịp tiến độ đề ra. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

Nhìn chung, một số địa phương trong Vùng vẫn quyết tâm phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao như Bắc Giang 6,2%; Thái Nguyên 7%; Lào Cai 8%, Tuyên Quang 8,1%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 11,7%; Số xã đạt chuẩn NTM 112 xã; Tỷ lệ lao động qua đào tạọ ước đạt 53,5%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 54%. Về quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, Bắc Giang là tỉnh đầu tiên đã được Hội đồng thẩm định quy hoạch tỉnh thẩm định và đang hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Mục tiêu tổng quát về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 của vùng TDMNPB và ĐBSH là tập trung thực hiện bằng được mục tiêu kiểm soát được dịch bệnh, đồng thời vừa phục hồi, phát triển kinh tế; Quyết tâm phấn đấu tiêm vắc xin để đạt miễn dịch cộng đồng vào đầu năm 2022. Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo định hướng phát triển 03 trụ cột chủ yếu tại vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và của vùng ĐBSH: công nghiệp công nghệ cao, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại. Tập trung khắc phục, tháo gỡ khó khăn về sản xuất kinh doanh; vận dụng, tận dụng cơ hội thu hút các nguồn lực; xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm nâng cao năng lực nội tại và sức cạnh tranh. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp.

Đẩy mạnh việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách để huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực tạo chuyển biến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phát triển đô thị, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Duy trì, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao hơn bình quân chung cả nước. Đầu tư mạnh mẽ hơn nữa cho hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, trọng tâm là hệ thống giao thông kết nối nội và liên vùng phục vụ phát triển kinh tế, an ninh-quốc phòng để bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới. Từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của người dân trong vùng so với mức bình quân chung cả nước.

Xác định việc thực hiện kế hoạch đầu tư công là nhiệm vụ quan trọng

Về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công vùng ĐBSH và TDMNPB, cơ bản các địa phương đều xác định việc thực hiện kế hoạch đầu tư công (KHĐTC) là nhiệm vụ quan trọng và đã tập trung ưu tiên các nguồn lực để thực hiện dự án. Việc giao vốn KHĐTC năm 2021 được thực hiện theo đúng các nguyên tắc phân bổ vốn quy định tại Luật Đầu tư công năm 2019 và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo không gây nợ đọng XDCB.

Quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng để bàn giao mặt bằng sạch cho các dự án kịp thời triển khai theo đúng tiến độ đã phê duyệt. Thường xuyên theo dõi, kiểm điểm tiến độ thực hiện kế hoạch đầu tư công hàng tháng, kịp thời báo cáo vướng mắc khó khăn và đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính về giải ngân 8 tháng năm 2021 (so với số Thủ tướng Chính phủ giao), vùng ĐBSH tỷ lệ ước đạt 52,9% (cả nước 42,92%), trong đó vốn cân đối NSĐP đạt 58,9%; vốn ngân sách trung ương đạt 25,3%, gồm: vốn trong nước: 53,9%; Vốn nước ngoài (ODA): 3,6%. Một số địa phương có tỷ lệ giải ngân trong nhóm cao nhất nước là Quảng Ninh 102,4%, Hải Phòng 91,68%, Thái Bình 85,8%, Hà Nam 85,75%,...

Vùng TDMNPB tỷ lệ ước đạt 41,96% (cả nước 42,92%), trong đó: vốn cân đối NSĐP đạt 60,65%; vốn ngân sách trung ương: đạt 23,9%, gồm: vốn trong nước: 31,13%; Vốn nước ngoài (ODA): 7,32%. Một số địa phương giải ngân cao như: Thái Nguyên 67,01%, Yên Bái 59,96%, Lào Cai 57,93%,...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những khó khăn như do năm 2021 là năm đầu tiên của kỳ KHĐTCTH giai đoạn 2021-2025, nhiều dự án khởi công mới chưa đủ căn cứ để bố trí vốn trong năm 2021. Hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn có sự chồng chéo chưa thống nhất. Đặc biệt năm 2021, pháp luật về xây dựng có sự thay đổi nhiều nội dung, việc xử lý chuyển tiếp khá phức tạp nên các cơ quan, đơn vị của chủ đầu tư chưa kịp thời cập nhật, còn lúng túng trong việc triển khai thực hiện, kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư. Công tác GPMB luôn gặp nhiều khó khăn, làm chậm tiến độ.

Về một số giải pháp triển khai kế hoạch 2021 trong thời gian tới, các địa phương cần xác định việc đẩy mạnh thực hiện kế hoạch đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm năm 2021 của các cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bản tinh, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Chủ động có kế hoạch để có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.

Tiếp tục thực hiện nghiêm các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thanh toán ngay với Kho bạc Nhà nước khi có khối lượng nghiệm thu, không để dồn thanh toán vào cuối năm và không gây nợ xây dựng cơ bản. Thường xuyên rà soát, kiểm tra, đôn đốc không để xảy ra tình trạng tồn đọng vốn, tồn đọng hồ sơ giải quyết các thủ tục đầu tư, đẩy nhanh công tác nghiệm thu, quyết toán, không để đồn vào cuối năm. Chủ động rà soát tiến độ giải ngân của từng dự án để kịp thời có phương án xử lý cụ thể, kiên quyết cắt giảm, điều chuyển vốn từ các dự án chậm giải ngân sang các dự án có khả năng giải ngân tốt hơn, bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư. Rà soát Kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021, đề xuất điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021 không có khả năng giải ngân kế hoạch vốn được giao cho các nhiệm vụ khác.

Thực hiện bồi thường - GPMB đáp ứmg yêu cầu tiến độ của dự án; tháo gỡ khó khăn vướng mắc về BT, GPMB, tái định cư. Xử lý nghiêm khắc các chủ đầu tư, chủ dự án, tổ chức, cá nhân cố tỉnh gây khó khăn, cản trở, làm chậm tiến độ giao, thực hiện và giải ngân kế hoạch vông đầu tư công. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, xử lý các dự án chậm tiến độ… Kết quả giải ngân dự án đầu tư công là một trong nhữmg căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ năm 2021 của tổ chức, cá nhân được phân công theo dõi. Đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu; chịu trách nhiệm toàn diện trước UBND tỉnh khi để xảy ra chậm trễ, không đạt mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công năm 2021 ở cơ quan, đơn vị mình.

Về kế hoạch đầu tư công năm 2022, cơ bản các địa phương đã xây dựng nhu cầu vốn đầu tư công năm 2022 với các danh mục chi tiết gắn với ngành, lĩnh vực cụ thể và với từng nguồn vốn đầu tư công và được gắn với kế hoạch đầu tư 2021-2025 theo thứ tự ưu tiên đầu tư về ngành, lĩnh vực, chương trình trọng tâm và các khâu đột phá. Tổng nhu cầu kế hoạch năm 2022 của các vùng đều tăng cao hơn so với kế hoạch năm 2021 đã được Thủ tướng Chính phủ giao. Danh mục dự án dự kiến bố trí vốn NSNN năm 2022 thuộc danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 trình cấp thẩm quyền phê duyệt. Phân bổ vốn đầu tư tập trung, không phân tán, dàn trải. Tuy nhiên số vốn NSTW trong nước dự kiến cao gấp gần 2 lần kế hoạch 2021 là chưa phù hợp với khả năng cân đối vốn đầu tư trong kế hoạch tài chính và tiến độ triển khai thực hiện, giải ngân của từng dự án trong năm 2022. Thứ tự ưu tiên phân bổ vốn đầu tư công năm 2022 được thực hiện cơ bản theo đúng quy định tại văn bản số 5877/TTr-BKHĐT ngày 01/9/2021 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã báo cáo Chính phủ.

Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: MPI

Công tác khai thực hiện Luật Quy hoạch và tiến độ lập quy hoạch vùng và quy hoạch cấp tỉnh

Theo báo cáo, công tác chỉ đạo lập quy hoạch theo Luật quy hoạch được các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền các địa phương quan tâm, sát sao và kịp thời; tạo mọi điều kiện thuận lợi để triển khai kịp tiến độ, chất lượng và hiệu quả, phát huy tính sáng tạo, chủ động trong công tác quy hoạch.

Công tác phối hợp giữa các đơn vị, cơ quan ban ngành của các địa phương được triển khai tích cực, kịp thời, cùng phối hợp, chia sẻ thông tin để đảm bảo sự đồng bộ của quy hoạch được lập theo phương pháp tích hợp, đa ngành. Luật quy hoạch và các văn bản quy định và hướng dẫn về triển khai lập quy hoạch cho thời kỳ 2021-2030 đã được các cấp có thẩm quyền ban hành góp phần thay đổi phương thức quản lý nhà nước về quy hoạch, tạo khung pháp lý thống nhất trong chỉ đạo điều hành để địa phương triển khai công tác quy hoạch đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả thiết thực.

Tuy nhiên, tiến độ lập quy hoạch thời kỳ 2021-2030 chưa đạt được yêu cầu đã đề ra tại Nghị quyết số 11/NQ-CP. Việc triển khai lập quy hoạch theo phương pháp tích hợp với nội dung cơ bản là lập thống nhất chỉ một bản quy hoạch trên một địa bàn tỉnh (thay thế cho khoảng 50 loại quy hoạch ngành, lĩnh vực trước đây ), cùng với việc tiếp cận tổng hợp và phối hợp đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực còn có cách hiểu khác nhau, dẫn đến triển khai chậm và lúng túng.

Việc phối hợp và chia sẻ thông tin liên ngành, liên cấp giữa các Bộ, ngành và địa phương chậm và còn nhiều hạn chế; chưa thúc đẩy tính liên kết vùng, còn tư duy cục bộ trong quản lý và phát triển; tính linh hoạt, sáng tạo còn yếu. Xác định nguồn vốn cho các quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành còn chưa thống nhất, chưa bảo đảm nguồn lực cho công tác quy hoạch do các quy hoạch này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quy hoạch.

Đến nay, toàn Vùng có 10/11 tỉnh đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch (trừ Hà Nội), trong đó 10/11 tỉnh đã lựa xong tư vấn lập QH đang tiến hành xây dựng đề cương; 02 tỉnh (Quảng Ninh và Hà Nam) dự kiến trình duyệt cuối năm 2021; các địa phương còn lại dự kiến trình duyệt trong năm 2022

Vùng TDMNPB có 14/14 tỉnh đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch, trong đó: 01 tỉnh đã hoàn thành lập, thẩm định hiệ đang hoàn thiện (tỉnh Bắc Giang); 02 tỉnh đã hoàn thành lập, đang xin ý kiến (Lào Cai, Lai Châu); các tỉnh còn lại đang sơ bộ hoang thành dự thảo, xây dựng đề cương.

Trong thời gian tới, các địa phương cần bám sát quan điểm chung là quyết tâm tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định, phê duyệt, công bố và triển khai thực hiện các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia và các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành khác; bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật.

Đẩy mạnh hơn nữa công tác chỉ đạo, phối hợp gắn với nhiệm vụ “vướng mắc ở cấp, ngành nào thì cấp, ngành đó chủ động, tích cực sửa đổi, hoàn thiện” đã được Quốc hội thông qua, góp phần tích cực trong việc cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030. Việc tổ chức lập đồng thời các quy hoạch là cơ hội lớn để xác định tầm nhìn, mục tiêu phát triển, sắp xếp, phân bổ không gian phát triển đất nước một cách bài bản, khoa học nhằm khai thông và tận dụng tối đa các nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu./.

Minh Trang
Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Tổng số lượt xem: 386
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.