Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 29 tháng 11 năm 2022
English
a A
Ngày 01/08/2018-16:50:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018 tỉnh Lào Cai
Báo cáo số 245/BC-UBND ngày 05/7/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai.

I. Phát triển kinh tế

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển nông thôn

a) Trồng trọt: Các địa phương triển khai thắng lợi vụ Đông; hiện nay tập trung thu hoạch lúa Xuân; triển khai sản xuất vụ Mùa. Sáu tháng đầu năm 2018 các cây trồng được triển khai đảm bảo khung thời vụ, năng suất và sản lượng đều tăng so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp ước đạt 2.738,2 tỷ đồng, bằng 107,1% so CK (theo giá so sánh 2010) ; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 111.306 tấn, bằng 35,7% KH, tăng 3,6% so CK. Kết quả cụ thể:

- Cây vụ Đông: Diện tích gieo trồng được 9.072 ha, đạt 100,8% KH và bằng 112% so CK; tổng sản lượng đạt 107.643 tấn (tăng 34,2% so CK); giá trị thu nhập trên đơn vị canh tác đạt trên 80 triệu đồng/ha, tăng hơn 20 triệu đồng/ha so với vụ Đông năm 2016.

- Cây lúa Xuân: Diện tích gieo cấy đạt 10.100 ha, bằng 100% KH và 100% so CK. Hiện đã thu hoạch 1.899 ha, năng suất ước đạt 60,4 tạ/ha, bằng 104,6% CK. Lúa Mùa: Làm đất được 11.789 ha, đạt 53% KH, tăng 15,3% so CK; cấy được 11.200 ha, đạt 50,3% KH và tăng 17,4% so CK. Cây ngô: Lũy kế diện tích thực hiện 26.051 ha, đạt 74,3% KH và bằng 100% CK . Thu hoạch được 475 ha; năng suất ngô Xuân ước 40,78 tạ/ha, bằng 102,7% so CK.

- Các cây trồng chính khác: Diện tích rau các loại đạt 9.485 ha, sản lượng 106.588 tấn, tăng 5,1% so CK (720 ha rau an toàn); Cây dược liệu 1.026,2 ha, sản lượng ước đạt 2.911,2 tấn. Diện tích cây ăn quả các loại được duy trì phát triển.

- Cây chè: Đã chuẩn bị được 7,84 triệu bầu, đảm bảo đủ giống cho trồng chè mới theo kế hoạch. Sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm ước đạt 7.680 tấn, đạt 35% KH và bằng 101,4% so CK.

- Tình hình dịch bệnh: Các đối tượng sâu, dịch bệnh trên lúa và cây lâm nghiệp xuất hiện với diện tích và mật độ thấp hơn so với CK (năm 2017 diện tích lúa nhiễm sâu bệnh gần 5.000ha). Ngành Nông nghiệp thường xuyên chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và địa phương chủ động phòng trừ, đồng thời tăng cường theo dõi để có biện pháp xử lý kịp thời không để phát sinh thành dịch.

- Trồng và bảo vệ rừng: Trong tháng 6 trồng được 129,3 ha, lũy kế trồng được 2.714,9 ha, đạt 45,2% KH và bằng 95,1% so CK . Công tác kiểm soát khai thác, chế biến, vận chuyển lâm sản, phòng chống cháy rừng được tăng cường, không để xảy ra cháy rừng; kiểm tra phát hiện và lập hồ sơ xử lý 21 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, lũy kế 102 vụ, giảm 14 vụ (12,1%) so CK.

b) Chăn nuôi:

Trong tháng 6, dịch lở mồm long móng xảy ra tại 16 hộ/02 thôn của xã Nậm Chày và Minh Lương (huyện Văn Bàn) làm 53 con trâu, bò và lợn mắc bệnh. Ngay khi phát hiện dịch bệnh, Ngành Nông nghiệp đã phối hợp với địa phương triển khai cấp bách các biện pháp khống chế, dập tắt dịch theo quy định.

Trong 6 tháng đầu năm 2018, nhìn chung hoạt động sản xuất chăn nuôi phát triển tương đối ổn định. Tổng đàn gia súc chủ yếu đạt 650,2 nghìn con, đạt 97,1% KH và bằng 100,8% so CK, tổng đàn gia cầm chủ yếu đạt 3,78 triệu con, đạt 95,6% KH và bằng 103,8% so CK; sản lượng thịt hơi các loại đạt 28.979 tấn, đạt 48,3% KH và bằng 105,7% so CK; diện tích mặt nước ao nuôi trồng thủy sản đạt 2.070 ha, bằng 100% KH và tăng 4% so CK; sản lượng ước đạt 7.000 tấn, bằng 97,5% KH và tăng 2% so CK. Giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuốitương đối thuận lợi và tăng so với cùng kỳ.

c) Phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới: Toàn tỉnh hiện có 164 HTX nông nghiệp, 64 tổ hợp tác, 486 trang trại. Về liên kết sản xuất, hiện có 24 doanh nghiệp, công ty tham gia liên kết; 17 HTX tham gia vào liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản (lúa gạo, rau, chăn nuôi, tương ớt, chè...), trong đó, có 17 chuỗi giá trị được xác nhận cung ứng sản phẩm an toàn.

Về thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, các địa phương tập trung làm đường GTNT, vệ sinh môi trường và các nhiệm vụ trọng tâm theo KH 2018 của tỉnh: Trong 6 tháng đầu năm thi công được 305 km đường GTNT, bằng so CK; xây dựng được 1.997 nhà tiêu hợp vệ sinh (tăng 46 nhà so CK), 1.102 chuồng trại gia súc hợp vệ sinh (giảm 143 chuồng so CK), 90 mô hình nhà sạch, vườn đẹp; huy động đóng góp xây dựng nông thôn mới với số tiền 2.858 triệu đồng; 126.624,6 m2 đất; 95.053,5 công lao động và nhiều hiện vật khác.

d) Tình hình thiệt hại do thiên tai: Trong tháng 6, trên địa bàn tỉnh có mưa trên diện rộng, một số địa phương có mưa to kèm theo giông lốc đã gây một số thiệt hại về tài sản của nhân dân (sạt lở đất, ngập nước, tốc mái nhà cửa; lúa ngô, ao nuôi thủy sản bị lũ cuốn, ngập nước,…), vùi lấp đường giao thông, thiệt hại một số công trình công cộng, ước tổng thiệt hại trên 50 tỷ đồng. Lũy kế thiệt hại do thiên tai 6 tháng đầu năm 2018 là trên 80 tỷ đồng (tăng khoảng 65 tỷ so CK).

2. Sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản

a) Sản xuất công nghiệp: Hoạt động sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 đạt mức tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 40,3% , ngành công nghiệp cung cấp nước và quản lý rác thải tăng 23,4%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 18,4% , ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,7%. Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 6 ước đạt 2.702 tỷ đồng, lũy kế 14.830 tỷ đồng, đạt 53,9% KH, tăng 30,4% so với CK (riêng giá trị sản xuất công nghiệp tại các khu công nghiệp đạt 9.609 tỷ đồng, tăng 15,2% so CK, chiếm 64,8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả tỉnh). Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp tăng so CK .

Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp được quan tâm, đã phát huy được tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương. Giá trị sản xuất TTCN (giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm ước đạt 1.013,3 tỷ đồng, bằng 51,2% KH, tăng 15,1% so CK.

b) Tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản:

Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2016: Giá trị giải ngân đến ngày 22/6/2018 đạt 4.725,688 tỷ đồng, bằng 99% KH.

Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2017: Giá trị giải ngân đến ngày 22/6/2018 đạt 4.242,418 tỷ đồng, bằng 92,4% KH.

Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2018: Tổng kế hoạch vốn giao 4.528,497 tỷ đồng. Giá trị giải ngân đến ngày 22/6/2018 đạt 2.017,474 tỷ đồng, bằng 45% KH (trong đó: Tổng kế hoạch vốn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao 3.170,495 tỷ đồng; giá trị giải ngân đạt 1.284,383 tỷ đồng, bằng 41% KH).

3. Thương mại, dịch vụ

a) Hoạt động kinh doanh thương mại: Ổn định, thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 6 ước đạt 1.822,7 tỷ đồng, lũy kế 10.529 tỷ đồng, bằng 50,1% KH, tăng 13,1% so CK.

b) Hoạt động xuất nhập khẩu: Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tăng cao so với cùng kỳ, đặc biệt tại các cửa khẩu quốc tế (chính ngạch). Giá trị hàng hóa XNK qua các cửa khẩu trên địa bàn trong tháng 6 ước đạt 222,7 triệu USD, lũy kế đạt 1.550 triệu USD, bằng 53,4% KH, tăng 13,5% so CK. Trong đó: Xuất khẩu đạt 92 triệu USD, lũy kế 720 triệu USD, bằng 120% KH, tăng gấp 2,5 lần so CK; nhập khẩu ước đạt 46,7 triệu USD, lũy kế 460 triệu USD, bằng 71,9% KH, tăng 42,2% so CK; giá trị hàng hóa tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu... ước đạt 84 triệu USD, lũy kế 370 triệu USD, bằng 22,3% KH, bằng 48,9% so CK.

c) Du lịch: Trong tháng 6, lượng khách du lịch đến Lào Cai ước đạt 447,9 nghìn lượt, lũy kế 2.584,5 nghìn lượt, bằng 64,6% KH, tăng 10,6% so CK . Tổng doanh thu du lịch ước đạt 1.295,9 tỷ đồng, lũy kế 7.440,6 tỷ đồng, bằng 62% KH, tăng 15,3% so CK .

d) Dịch vụ bưu chính, viễn thông: Mạng lưới dịch vụ bưu chính, viễn thông đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh, công tác quản lý và nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân. Đến cuối tháng 6 năm 2018, tổng số thuê bao điện thoại có ước đạt 724,121 nghìn thuê bao, tăng 3,7% so với CK, trong đó số thuê bao cố định đạt 13,559 nghìn thuê bao (bằng 85,27%); số thuê bao di động đạt 710.562 nghìn thuê bao (tăng 4,13%). Tổng doanh thu viễn thông 6 tháng 2018 ước đạt 430 tỷ đồng, tăng 13% so với CK.

e) Hoạt động vận tải cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa của nhân dân. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 6 ước đạt 294,1 tỷ đồng, lũy kế 1.672,7 tỷ đồng, tăng 15% so CK. Vận chuyển hành khách ước đạt 1.881,3 nghìn lượt khách, lũy kế 10.197,9 nghìn lượt, tăng 11,5% so CK; doanh thu vận tải hành khách đạt 102,2 tỷ đồng, lũy kế 568,9 tỷ đồng, tăng 14,9% so CK. Vận tải hàng hoá ước đạt 864,7 nghìn tấn, lũy kế 4.587,4 nghìn tấn, tăng 10,2% so CK; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 157,2 tỷ đồng, lũy kế 912,9 tỷ đồng, tăng 12,8% so CK.

4. Tài chính, tín dụng và giá cả thị trường

a). Thu, chi ngân sách: Thu ngân sách trên địa bàn tháng 6 ước đạt 599,2 tỷ đồng, lũy kế 3.773 tỷ đồng, bằng 66,8 dự toán Trung ương giao, 48,4% dự toán HĐND tỉnh giao điều chỉnh và tăng 27,9% so CK. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 461,1 tỷ đồng, lũy kế 2.547 tỷ đồng, bằng 45,5% dự toán điều chỉnh và tăng 28% so CK; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 136 tỷ đồng, lũy kế 1.076 tỷ đồng, bằng 59,8% dự toán sau điều chỉnh và tăng 34,5% so CK. Thu ngân sách địa phương ước đạt 2.157 tỷ đồng, lũy kế 8.401,7 tỷ đồng, bằng 59,3% dự toán điều chỉnh và tăng 30,7% so CK. Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 1.221,4 tỷ đồng, lũy kế 5.496,3 tỷ đồng, bằng 39,3% dự toán điều chỉnh và tăng 8,5% so CK.

b) Hoạt động tín dụng: Ổn định, đến thời điểm ngày 22/6/2018, tổng nguồn vốn huy động đạt 44.794 tỷ đồng, tăng 660 tỷ đồng (1,49%) so với 31/12/2017; trong đó nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 21.531 tỷ đồng, tăng 1.570 tỷ đồng (7,87%) so với 31/12/2017, chiếm 48% tổng nguồn vốn huy động. Tổng dư nợ ước đạt 42.841 tỷ đồng, tăng 137 tỷ đồng (0,32%) so với 31/12/2017; tỷ lệ nợ xấu 2,39%.

c) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Tháng 6 tăng 0,78% so với tháng trước, bình quân tăng 2,01% so với CK. Các nhóm có chỉ số tăng như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92%; Nhóm giao thông tăng 0,97%; Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,03%; Nhóm giáo dục tăng 0,02%. Các nguyên nhân chính làm CPI tháng 6 tăng là do: Giá thịt lợn tiếp tục tăng mạnh; các loại rau củ vào cuối vụ nên giá tăng cao; giá điện, nước sinh hoạt, giá gas, dầu hỏa tăng,... đã làm tăng CPI chung. Nhóm có chỉ số giảm như: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,15%.

5. Thu hút đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế:

Trong 6 tháng đầu năm, thực hiện điều chỉnh chứng nhận đầu tư cho 28 dự án; cấp mới chứng nhận đầu tư cho 10 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký là 1.926 tỷ đồng (chủ yếu là các dự án thủy điện, khai thác khoáng sản và thương mại), không có dự án FDI được cấp mới.

Tháng 6, thực hiện cấp mới đăng ký cho 26 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 117,3 tỷ đồng; tạm ngừng hoạt động 07 doanh nghiệp; giải thể 13 doanh nghiệp. Lũy kế từ đầu năm đến nay tổng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 208 doanh nghiệp, tổng vốn 1.525,4 tỷ đồng; tổng số doanh nghiệp hiện đang hoạt động trên hệ thống đăng ký doanh nghiệp quốc gia 4.219 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 62.197,3 tỷ đồng.

II. Văn hoá, xã hội

1. Hoạt động giáo dục: Trong tháng 6, ngành giáo dục thực hiện công tác tuyển sinh đầu cấp năm học 2018 – 2019 vào trường THPT Chuyên, Dân tộc nội trú, các trường THPT và THCS các huyện, thành phố; tổ chức thành công Kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018.

Kết thúc năm học 2017 – 2018, đã thực hiện sáp nhập 68 trường thành 34 trường, gộp 248 điểm trường lẻ mầm non với tiểu học, xóa 43 điểm trường, giảm 392 lớp do sắp xếp lại lớp học, đưa 10.732 học sinh ở điểm trường lẻ về trường chính học. Kết thúc năm học 2017-2018, toàn tỉnh có 339/636 trường chuẩn quốc gia, đạt 53,3% tổng số trường, đứng tốp đầu trong các tỉnh miền núi phía Bắc; 100% các cơ sở giáo dục trên địa bàn toàn tỉnh đã có nhà lớp học kiên cố tại trường chính, với diện tích đất cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập và vui chơi của học sinh; đã hoàn thành đủ nhà ở công vụ giáo viên và nhà ở học sinh bán trú. Tỷ lệ huy động trẻ đi nhà trẻ đạt 21%; mẫu giáo đạt 96,2% (riêng 5 tuổi đạt 99,9%); trẻ 6-10 tuổi đạt 99,8% (riêng 6 tuổi đạt 99,9%); 11-14 tuổi đạt 99%; học sinh hoàn thành chương trình tiểu học học lên lớp 6 đạt 98,2%; tỷ lệ học sinh chuyên cần đạt trên 98%; tỷ lệ thanh thiếu niên có bằng tốt nghiệp THCS là 90,5%; công tác xóa mù chữ cho người lớn tuổi được đẩy mạnh . Tỷ lệ học sinh xếp loại học lực khá, giỏi đạt từ 50% trở lên; năm 2018 đạt 39 giải; thi học sinh giỏi Quốc gia đứng đầu trong 11 tỉnh khu vực phía Bắc; có 04 học sinh Trường THPT Chuyên tỉnh giành được học bổng toàn phần của một số Trường Đại học Mỹ, Canada, Úc...

2. Hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao: Các hoạt động thông tin văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, tuyên truyền cổ động trên địa bàn tỉnh đã bám sát các nhiệm vụ chính trị của tỉnh; phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới mọi tầng lớp nhân dân. Hoạt động cung cấp thông tin tiếp tục được quan tâm và duy trì, trong đó cung cấp thông tin báo chí được UBND tỉnh thực hiện hằng tuần. Các hoạt động phục vụ nhân dân ở vùng sâu, vùng xa được chú trọng .

Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì tại các Câu lạc bộ, các điểm tập tại các huyện, thành phố và trường học trên địa bàn toàn tỉnh. Đã tổ chức nhiều giải thể thao cấp tỉnh và cấp cơ sở, tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lào Cai lần thứ VI . Thể thao thành tích cao: Trong 6 tháng đầu năm đã thành lập 07 đoàn VĐV tham gia thi đấu các giải khu vực và toàn quốc và đạt 26 huy chương các loại (05 HCV, 05 HCB và 16 HCĐ).

3. Y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: Trong tháng 6, đáng chú ý là xuất hiện bệnh sởi tại huyện Sa Pa, đã làm cho 219 ca mắc bệnh. Hiện nay, Đoàn Giám sát của Cục Y tế Dự phòng, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Đoàn công tác của UBND tỉnh, Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật đã làm việc với UBND, TTYT huyện để chỉ đạo và triển khai các giải pháp khống chế bệnh sởi tại huyện Sa Pa.

Công tác khám chữa bệnh được thực hiện tốt ở các tuyến. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân đạt 99%, trong đó tại bệnh viện đạt 112% . Công tác tuyên truyền phòng chống ngộ độc thực phẩm, thanh tra, kiểm tra liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm được duy trì. Trong tháng 6 xảy ra 01 vụ nhiễm độc thực phẩm tại huyện Si Ma Cai làm 40 người mắc, không có trường hợp tử vong. Lũy kế từ đầu năm xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 66 người mắc, không có trường hợp tử vong.

4. Công tác an sinh xã hội:

Công tác giới thiệu việc làm và đào tạo nghề được duy trì thường xuyên, 6 tháng đầu năm 2018 đã giải quyết việc làm cho 8.843 lao động, đạt 70,7% KH, tăng 20% so CK; các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn đã tuyển sinh và đào tạo cho 10.082 người, đạt 71,5% KH, tăng 20,6% so CK .

Thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với các gia đình chính sách, người có công, các đối tượng xã hội, các xã khó khăn, gia đình nghèo thực hiện hỗ trợ đối tượng người có công thuộc diện hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg; triển khai xây dựng Đề án xóa đói, giảm nghèo của các huyện có xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% giai đoạn 2018-2025. Thực hiện chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN đảm bảo chính xác, nhanh gọn và kịp thời cho người tham gia. Số thu BHXH, BHYT, BHTN 6 tháng đầu năm 2018 đạt 679 tỷ đồng, bằng 45% KH, tăng 3% so với CK; Số nợ BHXH, BHYT, BHTN là 108 tỷ đồng, tăng 22% so với CK

5. Hoạt động Khoa học – Công nghệ: Triển khai thực hiện tốt 34 đề tài, dự án; trong đó: 24 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, 06 dự án nông thôn miền núi, 04 dự án chính sách. Các đề tài, dự án đảm bảo đúng tiến độ và nội dung được phê duyệt.

Công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa lưu thông trên thị trường được duy trì; quản lý tốt đối với 201 sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp đã được cấp bằng bảo hộ ; thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ khoa học công nghệ (kiểm định phương tiện đo các loại; phân tích chất lượng hàng hóa...).

III. Tài nguyên và Môi trường

Công tác thống kê đất đai, lập kế hoạch sử dụng đất năm 2018 trên địa bàn các huyện, thành phố đảm bảo tiến độ. Trong 6 tháng đầu năm thực hiện đo lưới địa chính được 61 điểm, đạt 100% KH; công tác đo vẽ bản đồ địa chính được 8.377 ha, đạt 34,5% KH. Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất được đẩy nhanh và từng bước khắc phục những tồn tại và bất cập. Tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân được đẩy mạnh .

Ngành Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện, thành phố đẩy mạnh giải quyết vướng mắc liên quan đến công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ tái định cư một số dự án trên địa bàn tỉnh. Công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản được thường xuyên kiểm tra, nắm tình hình và kịp thời phát hiện, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép. Công tác bảo vệ môi trường tiếp tục được quan tâm, tập trung giải quyết các vụ việc phát sinh tại các cơ sở, nhà máy sản xuất công nghiệp, khu vực khai thác, chế biến khoáng sản (khu vực xã Bản Lầu, huyện Mường Khương, khu công nghiệp Tằng Loỏng...)

IV. An ninh và đối ngoại

1. An ninh, trật tự an toàn xã hội: An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; các lực lượng chức năng, các địa phương triển khai tốt kế hoạch phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự trên địa bàn toàn tỉnh. Các vụ việc vi phạm và tội phạm xảy ra trong tháng 6/2018 giảm so với tháng 5, cụ thể:

Các cơ quan chức năng phát hiện và lập hồ sơ quản lý 90 trường hợp xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê, giảm 655 trường hợp so với tháng trước; trao trả Trung Quốc 03 trường hợp nhập cảnh, cư trú trái phép trên lãnh thổ Việt Nam; tiếp nhận 06 trường hợp nạn nhân mua bán người, 35 công dân Việt Nam nhập cảnh, cư trú trái phép trên lãnh thổ Trung Quốc do cơ quan chức năng huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc trao trả. Phụ nữ đi khỏi địa phương 02 trường hợp (Bát Xát, Bắc Hà mỗi nơi 01 người).

Xảy ra 86 vụ vi phạm pháp luật được phát hiện, xử lý, giảm 20 vụ so tháng 5. Tai, tệ nạn xảy ra 12 vụ, giảm 09 vụ so với tháng trước, làm chết 09 người. Cụ thể: Tự tử 01 vụ (Bát Xát), làm chết 01 người; tai nạn rủi ro 08 vụ (thành phố Lào Cai 02; Bảo Yên 02, Văn Bàn 02; Bắc Hà, Bát Xát mỗi nơi 01 vụ), làm chết 08 người (do đuối nước, sốc ma túy, điện giật...); cháy nhà 01 vụ (Bảo Yên), gây thiệt hại về tài sản khoảng 200 triệu đồng.

Các vụ việc xảy ra trong tháng 6 đã làm chết 9 người, bị thương 08 người (không tính số người chết và bị thương do tai nạn giao thông). Cơ quan chức năng đã khởi tố 30 vụ/44 bị can để điều tra, các vụ việc khác đang tiến hành xác minh, làm rõ.

Tai nạn giao thông, trong tháng 6 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ, bằng so tháng 5, làm 07 người bị thương, không có người chết; lũy kế 6 tháng đầu năm xảy ra 37 vụ, giảm 24 vụ (39%) so CK, làm 18 người chết, giảm 09 người (33%) so CK; 39 người bị thương, giảm 52 người (57%) so CK. Các lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm TTATGT đối với 1.190 trường hợp.

2. Hoạt động đối ngoại: Trong tháng 6, tỉnh đã tiếp đón và làm việc với Đoàn Đại biểu cấp cao Quốc hội Liên bang Micronesia; tổ chức Đoàn công tác làm việc tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); Đoàn công tác thăm và làm việc tại Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Vương quốc Anh;…

Trong 6 tháng đầu năm 2018, các hoạt động giao lưu hữu nghị, hợp tác với các đối tác truyền thống được duy trì, mở rộng quan hệ với Đại sứ quán các nước, các tổ chức quốc tế.

V. Cải cách hành chính, xây dựng chính quyền, thực hành tiết kiệm chống lãng phí và tham nhũng

Tập trung đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đã thực hiện cắt giảm tối thiểu 30% thời gian giải quyết 477 thủ tục hành chính (theo Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 10/01/2018 của UBND tỉnh). Áp dụng một cửa, một cửa liên thông điện tử tại 18/19 sở, ngành cấp tỉnh ; 9/9 huyện, thành phố; 164/164 xã, phường, thị trấn . Tiếp tục duy trì, cải thiện các chỉ số: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI; Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI); Chỉ số cải cách hành chính (Par Index); Chỉ số sẵn sàng về ứng dụng công nghệ thông tin của tỉnh (ICT – Index); Chỉ số đánh giá năng lực điều hành cấp huyện, thành phố (DCI);...

Công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí luôn được quan tâm, trong đó việc huy động vốn cũng như sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được tỉnh quan tâm, chỉ đạo; hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương cũng được công khai, minh bạch bằng nhiều hình thức, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, nhân dân giám sát và tham gia quản lý; các cơ quan, đơn vị đã nghiêm túc tổ chức kê khai tài sản, thu nhập và thực hiện rà soát báo cáo theo đúng quy định.

Công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được các cấp, các ngành chú trọng giải quyết theo quy định của pháp luật, không để xảy ra điểm nóng, phức tạp trên địa bàn. Trong tháng 6, toàn ngành thành tra tỉnh đã triển khai thực hiện 43 cuộc thanh tra hành chính; qua thanh tra phát hiện, xử lý hành chính 07 tổ chức vi phạm, kiến nghị thu hồi 619,8 triệu đồng. Thực hiện 51 cuộc thanh tra chuyên ngành, đã phát hiện 96 tổ chức và 77 cá nhân có vi phạm, xử phạt hành chính gần 712 triệu đồng, thu hồi số tiền 587 triệu đồng. Thực hiện tiếp công dân 240 lượt = 402 người đến kiến nghị, phản ánh, khiếu nại và tố cáo tăng 16 lượt so tháng 5 (số đoàn đông người là 11 đoàn = 179 người, tăng 8 đoàn so tháng 5), nội dung chủ yếu khiếu nại về tranh chấp đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, chính sách và một số kiến nghị khác. Tiếp nhận và xử lý theo quy định 377 đơn khiếu nại, tố cáo, tăng 51 đơn so tháng 5; các vụ việc khiếu nại, tố cáo tại các đơn nêu trên đều được giải quyết theo đúng thời hạn luật định./.


Website UBND tỉnh Lào Cai

  • Tổng số lượt xem: 1939
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.