Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 26 tháng 10 năm 2021
English
a A
Ngày 05/09/2021-22:40:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2021 của tỉnh Đồng Nai

Tháng 8/2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn biến phức tạp, chưa có dấu hiệu giảm, nguy cơ bùng phát dịch cao. Trên địa bàn Đồng Nai, tính đến ngày 20/8/2021, toàn tỉnh ghi nhận hơn 16.000 ca dương tính với SARS-CoV-2. Để đạt được mục tiêu cơ bản kiểm soát dịch bệnh trước ngày 01/9/2021, tỉnh Đồng Nai đang quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp như: triển khai chiến dịch xét nghiệm diện rộng cho khoảng 2,1 triệu người; đẩy nhanh tốc độ tiêm vaccine phòng Covid-19; nâng cao công suất xét nghiệm, mở rộng các khu cách ly, theo dõi bệnh nhân Covid-19 không có triệu chứng; khẩn trương hoàn thiện và đưa vào sử dụng các Trung tâm hồi sức tích cực để điều trị bệnh nhân nặng. Song song đó, toàn tỉnh tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 và Chỉ thị số 15/CT-UBND ngày 08/7/2021 của UBND tỉnh về quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến hết ngày 31/8/2021 theo nguyên tắc người cách ly với người, gia đình cách ly với gia đình, ấp/ khu phố cách ly với ấp/ khu phố, xã/ phường cách ly với xã/phường, huyện/ thành phố cách ly với huyện/ thành phố; tiếp tục thực hiện nghiêm khuyến cáo người dân không ra đường từ 18 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Đối với các doanh nghiệp, tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo 1 trong 3 phương án: “3 tại chỗ”, “01 cung đường, 02 địa điểm” hoặc áp dụng linh động 2 phương án trên.

Tuy nhiên, việc thực hiện giãn cách xã hội và đẩy mạnh thực hiện các biện pháp phòng chống dịch đã khiến các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, các ngành sản xuất kinh doanh đều giảm so tháng trước và so cùng kỳ. Tình hình KT-XH trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tháng 8 và 8 tháng năm 2021 từng lĩnh vực như sau.

1. Sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục gặp khó khăn, do tình hình dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu giảm, dịch lây lan vào các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, nên nhiều doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất từ 15 đến 30 ngày hoặc có thể dài hơn. Theo báo cáo của Ban quản lý các KCN tỉnh tính đến ngày 18/8/2021 trong các khu công nghiệp của tỉnh có trên 1.163 DN đăng ký thực hiện, với tổng số lao động lưu trú là134.229/326.612 người “3 tại chỗ”; Có 06 doanh nghiệp thực hiện phương án “01 cung đường, 02 địa điểm”, với tổng số lao động lưu trú là 1.641/3.572 người. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, có 56 doanh nghiệp đề nghị ngừng thực hiện phương án “03 tại chỗ” và 216 doanh nghiệp đề nghị giảm lao động Do các nguyên nhân như các doanh nghiệp khó duy trì sản xuất do thời gian giãn cách xã hội kéo dài nhiều ngày; thiếu nguyên liệu đầu vào, đầu ra tạm thời cũng bị hạn chế; không đủ nguồn lao động để duy trì sản xuất; các chi phí để thực hiện lưu trú lao động tại nhà máy quá nhiều. Qua ra soát của BQL các khu công nghiệp tỉnh có 1.129 DN đủ điều kiện hoạt động, trong đó “3 tại chỗ” là 1.114 DN, “01cung đường, 02 địa điểm” là 05 DN, áp dụng 02 phương án trên là 10 doanh nghiệp.

- Đối với các doanh nghiệp ngoài Khu công nghiệp (số liệu cập nhật đến 16 giờ 30 ngày 19/8/2021): Có 13 doanh nghiệp trong Cụm công nghiệp thực hiện phương án “3 tại chỗ” (tổng số lao động lưu trú là 1.234 người); Có 100 doanh nghiệp ngoài khu, cụm công nghiệp thực hiện phương án “3 tại chỗ” (tổng số lao động lưu trú là 8.561 người); Có 53 doanh nghiệp thực hiện phương án “1 cung đường, 2 địa điểm” (tổng số lao động lưu trú là 4.662 người); Có 03 doanh nghiệp áp dụng cùng lúc 02 phương án (tổng số lao động lưu trú là 659 người).

Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Một số doanh nghiệp có số lượng công nhân lớn thuộc ngành giày da, dệt, may mặc tạm thời cho công nhân nghỉ một thời gian để phòng chống dịch, mặc khác do giãn cách xã hội, một số địa bàn buộc phải phong tỏa, cách ly nên người lao động không đến doanh nghiệp để làm việc, một số doanh nghiệp thực hiện phương án “3 tại chỗ” nhưng không đảm bảo điều kiện phải ngừng sản xuất, một số doanh nghiệp công nhân nghỉ về quê tránh dịch; Mặt khác số doanh nghiệp khó khăn trong việc cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.

Dự ước chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8/2021 giảm 17,3% so tháng trước và giảm 13,22% so tháng cùng kỳ năm 2020, trong tháng 8 có 24/27 ngành sản xuất giảm, cụ thể một số ngành giảm mạnh như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 13,33%; dệt giảm 20,72%; sản xuất trang phục, giảm 26,63%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 30%; sản xuất thiết bị điện tử và sản phẩm quang học giảm 10,76%; sản xuất gường tủ, bàn ghế giảm 17,79%, nguyên nhân giảm do thiếu nguyên liệu đầu vào, đầu ra tạm thời cũng bị gián đoạn, hạn chế; không đủ nguồn lao động để duy trì sản xuất; các chi phí để thực hiện “3 tại chỗ”, “01 cung đường, 02 địa điểm” lưu trú lao động tại các doanh nghiệp quá nhiều, tác động mạnh đến tình hình sản xuất.

Tính chung 8 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 4,41% so với cùng kỳ, đặc biết là Đồng Nai đang phải chống chọi làn sóng lây nhiễm dịch Covid-19 lần thứ 4, cộng thêm một số nước trên Thế giới là khách hàng, thị trường, đối tác quan trọng vẫn đang phải vật lộn với đại dịch Covid-19, khiến cho nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ cho sản xuất bị thiếu hụt và thị trường tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,17%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,21%; sản xuất và phân phối điện giảm 9,83%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,72%. Như vậy do ảnh hưởng của tháng 7 và tháng 8 nên chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đạt thấp (6 tháng tăng 7,54%; 7 tháng tăng 7,12%; 8 tháng tăng 4,41%)

Toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,21% thì có 16/22 ngành sản xuất 8 tháng đầu năm có mức tăng so cùng kỳ; trong đó: Sản xuất đồ uống tăng 2,63%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 4,75%, dệt tăng 5,91%, sản xuất trang phục tăng 7,06%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,61%; sản xuất giấy, sản phẩm từ giấy tăng 6,05%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 5,02%; sản xuất sản phẩm kim loại đúc sẵn tăng 10,66%; Sản xuất thiết bị điện tăng 2,55%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 7,72%... nguyên nhân tăng nhờ có sự quyết liệt, tích cực trong công tác quản lý, điều hành và chỉ đạo của Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai thực hiện nghiêm túc theo chủ trương Chính phủ vừa tập trung kiểm soát khống chế lây lan và kiểm soát dịch bệnh Covid-19, vừa ổn định phát triển kinh tế trong đó chú trọng đến việc tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh không bị đứt gãy; Mặc khác nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, nhất là các đơn hàng xuất khẩu các sản phẩm này tiếp tục được các doanh nghiệp duy trì sản xuất, nên sản lượng sản xuất đạt khá, cụ thể như: ngành dệt, sản xuất trang phục, giầy da, sản phẩm cao su, sản phẩm giường tủ, bàn ghế; Mặc dù trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên cả nước, nhất là các tỉnh phía Nam, đã ảnh hưởng đến mọi mặt hoạt động xã hội, trong đó hoạt động sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên với đà diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 hiện nay của các tỉnh phía Nam, cũng như trên địa bàn tỉnh vẫn không được ngăn chặn sớm, những tháng tiếp theo sẽ ảnh hưởng nhiều đến sản xuất công nghiệp.

Tuy nhiên cũng có một số ngành sản xuất chỉ số 8 tháng giảm so cùng kỳ đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 1,31%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 6,23%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính giảm 21,64% (đây là ngành có mức giảm mạnh nhất, do tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn từ đầu năm đến nay). Sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 2% so cùng kỳ, nguyên nhân giảm do tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn, sản phẩm tồn kho nhiều, thị trường tiêu thụ và hợp đồng sản xuất bị gián đoạn và hạn chế do đại dịch Covid-19, nên ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các ngành này..

- Sản phẩm sản xuất công nghiệp dự ước tháng 8 năm 2021 có 19/25 sản phẩm công nghiệp chủ yếu có sản lượng sản xuất giảm so với tháng cùng kỳ như: Cà phê các loại đạt 37,2 tấn, giảm 1,82%; thức ăn giá súc đạt 295 ngàn tấn, giảm 23,48%; thuốc lá sợi đạt 2.144 tấn, giảm 14,65%; Sợi các loại đạt 117 ngàn tấn, giảm 3%, vải các loại đạt 48,7 triệu m2, giảm 16,64%; quần áo các loại đạt 16,8 triệu cái, giảm 16,36%; giày dép các loại đạt 41,2 triệu đôi giảm 30,12%, giường tủ, bàn ghế 1.172,5 ngàn chiếc, giảm 22,64%, nguyên nhân sản lượng giảm vì các doanh nghiệp phải giảm lao động để đảm bảo 3 tại chỗ, một số doanh nghiệp tạm ngưng khi áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 và Chỉ thị số 15/CT-UBND ngày 08/7/2021 của UBND tỉnh. Ngoài ra, thị trường tiêu thụ xuất khẩu qua các nước đối tác quan trọng như Trung Quốc, Mỹ và một số nước đối tác khác vẫn đang gặp khó khăn, nhiều đơn hàng bị hủy và chưa có những đơn hàng mới do chịu ảnh hưởng của dịch Covid 19....Riêng có 6/25 sản phẩm có sản lượng tăng đó là nước ngọt, ván ép, gỗ lạng, bao bì các loại, xe mô tô gắn máy và điện sản xuất, tuy nhiên mức tăng không cao.

Lũy kế 8 tháng đầu năm có 17/25 sản phẩm công nghiệp chủ yếu có sản lượng tăng so cùng kỳ đó là: Cà phê các loại 330 ngàn tấn, tăng 12,12%; thuốc lá sợi đạt 17.885 tấn, tăng 4,49%; vải các loại 452,3 triệu m2, tăng 6,6%; quần áo các loại đạt 163,3 triệu cái, tăng 8,6%; giày dép các loại đạt 415,2 triệu đôi tăng 5,83%; bao bì các loại đạt 59,4 ngàn tấn, tăng 26,91%; Sơn các loại đạt 98,4 ngàn tấn, tăng 10,19%; Mạch điện, tủ điện đạt 1.510 triệu chiếc, tăng 18,53%; giường tủ, bàn ghế 11.800 ngàn chiếc, tăng 11,57%.

- Chỉ số tiêu thụ: Do sản xuất trong tháng 8 đã làm ảnh hưởng đến chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp trong tháng 8 giảm 21,24% so với tháng 7/2021 và giảm 21,49% so với tháng cùng kỳ.

Lũy kế 8 tháng đầu năm chỉ số tiêu thụ tăng 2,97% so cùng kỳ, trong đó có 4 ngành có chỉ số tăng đó là: Sản xuất giấy, sản phẩm từ giấy tăng 28,44%; sản phẩm kim loại tăng 4,9%, giường tủ bàn, ghế tăng 3,6%... Một số ngành sản xuất chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất sản phẩm điện tử giảm 39,26%; sản xuất xe có động cơ giảm 27,94%; sản xuất máy móc thiết bị giảm 13,17%; sản xuất thiết bị điện giảm 13% so cùng kỳ, nguyên nhân giảm do thị trường tiêu thụ xã hội và xuất khẩu các sản phẩm này chậm, trong khi giá một số vật tư đầu vào tăng, làm tác động đến chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng chậm so cùng kỳ.

- Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8/2021 dự ước tăng 6,58% so với tháng 7/2021 và tăng 1,93% so tháng cùng kỳ năm trước. Một số ngành chỉ số tồn kho tăng so tháng trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm (+17%); sản xuất đồ uống (+13,16%); sản xuất sản phẩm thuốc lá (+19,12%); ngành dệt (+7,7%); sản xuất hoá chất (+10,1%); sản xuất kim loại (+2,21%); sản xuất thiết bị điện (+11,08%); sản xuất phương tiện vận tải khác (+57,76%); Nguyên nhân chỉ số tồn kho tăng là do thị trường tiêu thụ trong tháng 8/2021 chậm do ảnh hưởng của dịch Covid -19, nhiều ngành sản xuất gặp khó khăn nhất định, đặc biệt là sản phẩm thực phẩm chế biến sẵn, đồ uống, sợi và thiết bị điện …tiêu thụ khá chậm do giãn cách xã hội, nên việc đưa hàng hoá ra lưu thông trên thị trường bị gián đoạn.

- Chỉ số sử dụng lao động Tình hình lao động làm việc tại các doanh nghiệp, trước sự ảnh hưởng nặng của dịch Covid-19, trong tháng 8 tiếp tục áp dụng chỉ thị iếp tục áp dụng các biện pháp cách ly xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ, nhiều doanh nghiệp phải ngừng thực hiện phương án “03 tại chỗ” và giảm lao động, đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho lực lượng lao động làm việc trong ngành công nghiệp trong tháng giảm đáng kể so với tháng trước cũng như tháng cùng kỳ. Ước tính lực lượng lao động giảm 9,71% so với tháng trước, giảm 7,65% so với tháng cùng kỳ; Cộng dồn 8 tháng giảm 1,33% so với cùng kỳ. Đa số các ngành đều có chỉ số lao động giảm so với cùng kỳ như: Ngành khai khoáng giảm 20,14%; Công nghiệp chế biến chế tạo giảm 1,35%; sản xuất và phân phối điệm giả 2,42% so cùng kỳ.

2. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp: Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn hiện nay hiện giãn cách xã hội, để thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến hết ngày 31/8/2021 đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân, đặc biệt là những lao động đang làm việc tự do, lao động hợp đồng thời vụ; những nhà vườn, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến ngày càng phức tạp, đây là một trong những vấn đề nan giải. Thực trạng này đòi hỏi ngành nông nghiệp và các cơ quan, đơn vị có liên quan cần tập trung hỗ trợ, tiêu thụ nhóm nông sản chủ lực của tỉnh, thuộc các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, cụ thể đó là: Nhóm sản phẩm trồng trọt đang vào vụ thu hoạch hoặc sắp vào vụ thu hoạch gồm: bưởi, chôm chôm, chuối già Nam Mỹ, thanh long. Nhóm sản phẩm từ chăn nuôi, gồm: thịt lợn, thịt gà và thịt bò. Nhóm sản phẩm từ thủy sản, như cá lóc, rô phi, diêu hồng, cá trắm, cá chép…

Cây hàng năm: Tình hình sản xuất cây hàng năm trong tháng 8/2021 thời tiết thuận lợi cho cây trồng phát triển, hiện nay đang thu hoạch vụ Hè thu và gieo trồng vụ Mùa. Tình hình sâu bệnh trên cây trồng hàng năm phát sinh ở mức độ nhẹ, không ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Công tác chuẩn bị phân bón, thuốc trừ sâu được chú trọng ngay từ đầu các vụ.

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đến ngày 15/8/2021 là 139.890,3 ha, giảm 3.137,6 ha (-2,19%) so với cùng kỳ, trong đó: Cây lúa là giảm 2,02%, cây bắp giảm 1,09%; cây khoai lang giảm 21,77%, cây mía giảm 10,15%, rau các loại tăng 3,16% và đậu các loại giảm 10,82%; Hầu hết diện tích gieo trồng đều giảm do quy hoạch các dự án và các công trình xây dựng cơ bản, phát triển đô thị như cầu đường, trường học, đồng thời hiện nay đang tiến hành rà soát và điều chỉnh kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng và giống cây trồng, cơ cấu lại các vùng sản xuất và diện tích sản xuất các loại cây trồng, đảm bảo lợi thế cạnh tranh về điều kiện thổ nhưỡng cho từng loại cây trồng, đáp ứng nhu cầu thị trường và phát triển vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến nông sản; chuyển đổi linh hoạt giữa trồng cây lương thực và cây thực phẩm, giữa cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái để đáp ứng nhu cầu của thị trường và phục vụ du lịch; tập trung chuyển đổi đất lúa một vụ, đất ngập úng cục bộ, đang trồng cây hàng năm, đất cao su sang các mô hình sản xuất mang lại hiệu quả cao (trồng cây ăn quả, rau, trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản).

- Tình hình gieo cấy vụ Mùa: Đến thời điểm này toàn tỉnh đã gieo trồng được 38.199 ha, tăng 0,92% (+347,6 ha), trong đó: lúa đạt 18.448 ha, tăng 0,4% (+73 ha); bắp đạt 10.418 ha; tăng 0,15% (+16 ha); Mía đạt 1.127 ha, giảm 0,35% (-4 ha); đậu tương đạt 74 ha, tăng 1,37% (-1 ha); Rau các loại 4.001 ha, tăng 2,62% (+102 ha); đậu các loại 1.199 ha, tăng 8,8% (+97 ha)… Một số diện tích người dân đang chuẩn bị làm đất chưa tiến hành gieo cấy vụ mùa.

- Ước năng suất: Dự ước năng suất lúa đạt 59,6 tạ/ha, tăng 0,81 tạ/ha; ngô đạt 81,31 tạ/ha, tăng 0,56 tạ/ha; khoai lang đạt 111,04 tạ/ha, giảm 0,16 tạ/ha; mía đạt 697,63 tạ/ha, giảm 10,04 tạ/ha; đậu nành đạt 17,97 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha; rau các loại đạt 162,4 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha, đậu các loại đạt 13,78 tạ/ha, tăng 1,35 tạ/ha, nguyên nhân năng suất một số cây trồng chính tăng là do, người dân từng bước cải thiện được việc đầu tư, chăm sóc cây trồng, áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật, thay đổi các loại giống cây trồng hợp với khí hậu thổ nhưỡng, chủ động được nguồn nước từ ao, hồ và giếng khoan, đảm bảo cho cây trồng phát triển.

- Ước tính sản lượng: Dự ước sản lượng thu hoạch cây hàng năm 8 tháng đầu năm 2021 so cùng kỳ như sau: Lúa đạt 209.553 tấn, giảm 5.288 tấn (-2,46%); Bắp đạt 189.978,8 tấn, giảm 2.077 tấn (-1,08%); Mỳ đạt 351.560,4 tấn, giảm 15.188 tấn (-4,14%); Mía đạt 259.904 tấn, giảm 38.895,7 tấn (- 12,87%); Rau các loại đạt 188.242,2 tấn, tăng 7.282 tấn (+4,02%); Đậu các loại đạt 2.932,4 tấn, giảm 463 tấn (-23,65%) so cùng kỳ, nguyên nhân sản lượng lúa, bắp, khoai mỳ, mía và đậu các loại giảm là do diện tích gieo trồng bị thu hẹp; Riêng sản lượng rau các loại tăng so cùng kỳ một phần là diện tích gieo trồng tăng và thời tiết khá thuận lợi, dịch bệnh không phát sinh kết hợp với cách gieo trồng, chăm sóc và giá cả tương đối ổn định, nên người dân chủ động khâu làm đất để gieo trồng, góp phần sản lượng tăng khá. Tuy nhiên do tình hình dịch Covid-19 nên sản lượng nông sản tiêu thụ tại chợ đầu mối giảm; hệ thống chợ truyền thống đóng cửa, sản phẩm không xuất khẩu được sản phẩm; Một số chợ đầu mối vẫn tiếp nhận và phân phối nhưng sản lượng giảm khoảng 50% so với trước khi xảy ra dịch bệnh.

- Cây lâu năm: Trong tháng 8 năm 2021, hiện nay đang là mùa mưa, sản xuất cây lâu năm chủ yếu chăm sóc, làm cỏ, bón phân, phun thuốc trừ sâu cho cây trồng và tiếp tục xuống giống một số cây trồng như: thơm, cam, bưởi, chuối, xoài, chôm chôm, mãng cầu xiêm, bơ, sầu riêng và một cây ăn quả khác…Một số sản phẩm hàng nông sản, đặc biệt là mặt hàng trái cây đang vào mùa thu hoạch như cam, bưởi, chôm chôm...., do ko có người thu hoạch, gặp nhiều khó khăn, áp lực về thị trường tiêu thụ, nhất là xuất khẩu do ảnh hưởng của dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp; giá bán một số mặt hàng giảm mạnh như: chôm chôm nhãn đồng giá 9.000đ/kg, chôm chôm thường chỉ 3.000đ/kg nhưng khó bán; bưởi khoảng 15 đến 20 ngàn đồng/kg, chuối, mít giá thấp mà không có thương lái đến mua...

Tổng diện tích hiện có là 170.103,3 ha, tăng 29,96 ha (+0,02%) so cùng kỳ. Trong đó: Diện tích cây ăn quả đạt 69.937,41 ha, tăng 41,32 ha (+0,06%) so cùng kỳ và chiếm 41,11% tổng diện tích cây lâu năm, nguyên nhân diện tích tăng là do một số diện tích cây hàng năm hiệu quả canh tác thấp nên người dân chuyển sang trồng cam, bưởi và xoài phù hợp với thổ nhưỡng đất.

- Cây công nghiệp lâu năm là 98.812,3 ha, chiếm 58,09% tổng diện tích cây lâu năm và giảm 0,01% hay giảm 9,64 ha so cùng kỳ, nguyên nhân diện tích giảm là do một số diện tích đất cẵn cỗi nên người dân chuyển sang các loại cây trồng khác như cây ăn quả hoặc làm chuồng trại chăn nuôi gà thả vườn, diện tích giảm chủ yếu trên địa bàn TP. Long Khánh, huyện Định Quán, Tân Phú, Xuân Lộc, Thống Nhất và Trảng Bom.

Sản lượng: Do chủ động được nguồn nước và các hộ sản xuất thực hiện tốt khâu chăm bón, phòng chống dịch bệnh, thúc đẩy cơ giới hóa đồng bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng các chuỗi giá trị gắn với hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, nên hầu hết các loại cây trồng lâu năm có sản lượng cộng dồn 8 tháng tăng nhẹ so cùng kỳ như sau: Xoài đạt 70.213,88 tấn, tăng1.504,73 tấn (+2,19%); Chuối đạt 84.965,43 tấn, tăng 1.073,81 tấn (+1,28%); Thanh long đạt 7.308,69 tấn, tăng 314,2 tấn (+4,49%); Cam đạt 6.238,5 tấn, tăng 97,69 tấn (+1,59%); Bưởi đạt 37.629,19 tấn, tăng 1.081,8 tấn (+2,96%); Chôm chôm đạt 166.242,34 tấn, tăng 4.057,54 tấn (+2,5%); Dừa đạt 2.206,05 tấn, tăng 52,86 tấn (+2,45%) so cùng kỳ.

Tình hình sâu, dịch bệnh: Trong tháng 8/2021 tình hình sâu, dịch bệnh trên cây trồng tuy có phát sinh nhưng ở thể nhẹ, không gây hại nhiều tới cây trồng và không phát sinh thành dịch. Trên cây lúa: Tình hình sinh vật gây hại trên cây lúa ở mức nhẹ như: Bạc lá, bọ trĩ, chuột, đạo ôn, ốc bươu vàng, rầy nâu, sâu cuốn lá; Cây bắp Sâu xám, sâu đục thân, sâu cắn lá, rỉ sắt; Cây lâu năm: Chôm chôm: rệp sáp, sâu đục cành, cháy là, thối trái, phấn trắng; Cây Xoài xuất hiện rệp sáp, sâu đục ngọc, cành, thối trái; Cây sầu riêng: rầy phấn, sâu đục trái, chảy mủ, thối trái; Cây cà phê: rệp sáp, sâu đục thân, rỉ sắt, khô cành; Cây cao su: nấm hồng, phấn trắng, héo đen đầu lá; Cây Điều: bọ xít muỗi đỏ, sâu đục thân, rễ, thán thư; Cây tiêu: rếp sáp, tuyến trùng, thán thư....

b. Chăn nuôi

Đồng Nai là một trong những địa phương có ngành chăn nuôi lớn nhất cả nước, với tổng đàn heo khoảng 2,4 triệu con, tổng đàn gà khoảng 23,7 triệu con, đủ để cung cấp cho nhu cầu trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu… tổng tiêu thụ heo từ tỉnh xuất đi các tỉnh, thành phố khác trung bình là 51.300 con heo, dao động khoảng 44.000 - 60.000 con heo/tuần tùy thời điểm, chiếm hơn 80% tổng lượng tiêu thụ đàn heo của cả tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên do dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp khiến thị trường tiêu thụ chững lại, các thương lái nhập heo đang tạm ngưng, khiến đàn heo hàng triệu con ở Đồng Nai đang không tiêu thụ được; Các trang trại, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ tư nhân vì không tìm được đầu ra nên bị thiệt hại nặng nề nhất vì không được bao tiêu đầu ra như các trại chăn nuôi gia công. Trong khi đó, giá bán thịt heo tăng do các chợ đầu mối TP. HCM tạm dừng hoạt động. Điều này, tạo nên sự mất cân bằng khi rớt giá tại nơi sản xuất.

Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 8/2021 là 2.492.104 con, tăng 28.633 con (+1,16%) so cùng kỳ. Trong đó: Trâu đạt 3.812 con, tăng 118 con (+3,19%) so cùng kỳ; Bò đạt 84.808 con, tăng 7 con (+0,01%) so cùng kỳ; Heo đạt 2.403.484 con (Không tính heo con chưa tách mẹ), tăng 28.508 con (+1,2%) so cùng kỳ. Giá heo hơi đến ngày 15/8/2021 dao động trong khoảng 52.000- 53.000 đồng/kg. Thời gian qua, hàng loạt chợ đầu mối, chợ truyền thống đồng loạt tạm ngưng hoạt động để đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19 nên đa số các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gặp nhiều khó khăn về kênh tiêu thụ hoặc buộc phải bán với giá rẻ hơn so với mặt bằng chung ngoài thị trường, thường ở mức trên dưới 50 ngàn đồng/kg. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi theo chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, cung cấp cho các kênh phân phối như siêu thị, hệ thống cửa hàng bán lẻ hiện đại vẫn tiêu thụ tốt, giá bán được bao tiêu với mức ổn định.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 8/2021 là 25.328,12 ngàn con, tăng 2,39% so cùng kỳ. Trong đó gà đạt 23.780,8 ngàn con, tăng 2,64% so cùng kỳ và chiếm 93,89% tổng đàn gia cầm, nguyên nhân đàn gà tăng là do thị trường tiêu thụ xã hội ổn định, nên các trang trại đã chủ động tăng đàn, so với các loại vật nuôi khác, chăn nuôi gà có lợi thế về hiệu quả kinh tế do vòng quay ngắn, hệ số nhân đàn nhanh.

- Sản lượng sản phẩm: Dự ước sản lượng sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm toàn tỉnh trong tháng 8/2021 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Sản lượng thịt trâu dự ước 18,58 tấn, giảm 19,36%; thịt bò dự ước 526,73 tấn, tăng 3,83%; thịt heo 22.745,58 tấn, tăng 1,71%; thịt gia cầm 13.545,63 tấn, tăng 7,57%; Sản lượng trứng gia cầm đạt 104.464,99 ngàn quả, tăng 9,57% so tháng cùng kỳ.

Lũy kế 8 tháng sản lượng thịt trâu ước đạt 156,9 tấn, tăng 1,68%; thịt bò đạt 3.089,6 tấn, tăng 3,61%; thịt heo đạt 267.875,1 tấn, tăng 1,43%; thịt gia cầm đạt 112.656,7 tấn, tăng 11,17%; Sản lượng trứng gia cầm đạt 823.808,8 ngàn quả, tăng 13,71% so cùng kỳ, do dịch Covid-19 bùng phát nên sản lượng chăn nuôi tăng thấp cùng kỳ, do hiện nay, hoạt động mua bán, kinh doanh mặt hàng thịt heo. Hoạt động thu mua heo tại nhiều địa phương hầu như đình trệ, chủ yếu là các công ty chế biến thực phẩm đóng trên địa bàn thu mua để chế biến thức ăn đông lạnh và cung cấp cho người dân trên địa bàn tỉnh đang thực hiện giãn cách xã hội do dịch bệnh.

- Tình hình dịch bệnh: Trong tháng phát hiện 02 hộ và 01 trại có heo mắc bệnh DTHCP tại huyện Tân Phú (xã Tà Lài 02 hộ), huyện Cẩm Mỹ (xã Long Giao 01 trại), tiêu hủy 27 con heo bệnh, chết/447 con tổng đàn, với trọng lượng tiêu hủy khoảng 1.090 kg.

Bệnh viêm da nổi cục (VDNC) trên trâu bò: Trong tháng bệnh VDNC phát hiện thêm 07 xã trên địa bàn các huyện Xuân Lộc (xã Suối Cát), Hiện Tân Phú (xã Đăk Lua), Định Quán (xã: Gia Canh, Ngọc Định, Phú Tân), Cẩm Mỹ (xã Xuân Tây); Long Thành (xã Long Phước). Số hộ phát bệnh 60 hộ, số bò bệnh 126 con, số bò chết tiêu hủy 37 con. Lũy kế tính từ ngày 28/5- 16/08/2021 trên địa bàn tỉnh bệnh VDNC trâu, bò xảy ra tại ở 218 hộ, với 493 con bò bệnh, 65 con bò bệnh chết phải tiêu hủy, tại 19 xã, phường của 6 huyện, thành phố.

Hiện nay ngành chăn nuôi tuyên truyền các giải pháp phòng, chống bệnh VDNC trên trâu, bò; thực hiện vệ sinh tiêu độc khử trùng định kỳ: chợ, khu vực bán gia súc, gia cầm, sản phẩm gia súc, gia cầm và khẩn cấp vắc xin phòng, chống bệnh VDNC trên trâu, bò.

- Công tác tiêm phòng bổ sung trong tháng 8/2021: Tổng số liều Vacxin tiêm phòng bổ sung 387.458 liều. Trong đó: Bệnh LMLM 7.382 liều; Dịch tả heo 17.718 liều; Tụ huyết trùng 6.988 liều; Phó thương hàn 6.340 liều; Tai Xanh 2.966 liều; Cúm gia cầm 119.845 liều; Newcastle 160.478 liều Dịch tả vịt 20.900 liều; Gumboro 143.600 liều; Dại chó, mèo 1.241 liều (giảm 40,2% so với tháng 7/2021, giảm 43% so với cùng kỳ năm 2020).

2.2) Lâm nghiệp

- Công tác trồng và chăm sóc, nuôi dưỡng rừng: Trong tháng 8 đã có nhiều cơn mưa với lượng mưa tương đối nên các đơn vị lâm nghiệp tích cực xuống giống trồng rừng trên phần diện tích đất trống. Ước diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 8 đạt 738,34 ha, tăng 1,78% so với tháng cùng kỳ; luỹ kế 8 tháng đầu năm 2021 diện tích rừng trồng mới ước đạt được 3.419,82 ha (bao gồm rừng thân gỗ, thân tré, nứa), tăng 1,63% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là do các chủ rừng tiến hành trồng mới trên những diện tích đã thu hoạch để đảm bảo nguồn cung của thị trường.

- Khai thác gỗ và lâm sản: Trong tháng 8/2021 sản lượng khai thác gỗ ước đạt 26.010 m3, giảm 0,52% so với tháng cùng kỳ; Luỹ kế 8 tháng ước đạt được 189.040m5 m3, tăng 0,73% so với cùng kỳ, nguyên nhân tăng là do gỗ tràm và các giống keo loại gỗ nguyên liệu giấy đã đến thời kỳ khai thác nên tăng khá so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác tháng 8 ước đạt 162 ste, giảm 1,16% so tháng cùng kỳ. Luỹ kế 8 tháng ước đạt 1.525,8 ste, tăng 2,76% (+40,94 ster) so với cùng kỳ.

- Công tác PCCCR và quản lý bảo vệ rừng: Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp địa phương quản lý chặt chẽ nguồn gốc lâm sản, giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục tập trung triển khai xây dựng một số đề án, dự án về sử dụng và phát triển rừng như: Dự án giao khoán rừng, đất lâm nghiệp; Dự án thí điểm mô hình trồng rừng thích ứng với biến đổi khí hậu; Dự án định giá rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất trên địa bàn tỉnh.

Qua kiểm tra trong tháng 8/2021 lực lượng Kiểm lâm đã phát hiện 7 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, giảm 6 vụ so với tháng trước, gồm: 01 vụ phá rừng trái pháp luật; 03 vụ khai thác rừng trái pháp luật; 03 vụ vi phạm các thủ tục hành chính trong quản lý, sử dụng rừng. Xử lý hành chính 03 vụ, đang xác minh xử lý 01 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật; tịch thu tang vật vi phạm hành chính 5,44 m3 gỗ xẻ các loại.

2.3) Thủy sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản tháng 8 trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định, không phát sinh dịch bệnh; Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch COVID-19 lây lan rộng khiến chuỗi cung ứng nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ thủy sản đang gặp nhiều khó khăn cung ứng sản phẩm cho tiêu thụ nội địa và cả các đơn hàng xuất khẩu, khó khăn lớn nhất hiện này là vấn đề thu hoạch, vận chuyển, duy trì hoạt động chế biến trong điều kiện phòng chống dịch nghiêm ngặt.

- Sản lượng thuỷ sản khai thác: Sản lượng khai thác tháng 8 ước đạt 325,3 tấn, giảm 1,73% so với tháng cùng kỳ; Luỹ kế 8 tháng đạt 4.513 tấn,giảm 1% so với cùng kỳ, trong đó: Cá đạt 3.894,7 tấn, giảm 0,96%; Tôm đạt 293 tấn, giảm 0,84%; thủy sản khác đạt 325,4 tấn, giảm 1,39% so với cùng kỳ, nguyên nhân giảm là do nguồn thủy sản tự nhiên cạn dần; Mặt khác hiện nay tình hình dịch Covid -19 đang phức tạp, người đang thực hiện giãn cách xã hội, nên hạn chế việc khai thác và đánh bắt.

- Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng: Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng trong tháng 8 ước đạt 5.579,4 tấn, tăng 1,94% so với tháng cùng kỳ, trong đó: Cá tăng 2,27%, tôm giảm 0,95% và thuỷ sản khác giảm 0,29% so với tháng cùng kỳ. Luỹ kế 8 tháng sản lượng nuôi trồng ước đạt 41.296 tấn, tăng 5,17% so với cùng kỳ, trong đó: Cá đạt 36.266,6 tấn, tăng 5,36%; Tôm đạt 4.538,3 tấn, tăng 4,08%; thủy sản khác đạt 491,22 tấn, tăng 1,51% so với cùng kỳ, nguyên nhân tăng do hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản chủ động mở rộng diện tích nuôi trồng ao hồ, bể bồn và lồng bè, ngoài ra nhiều hộ gia đình chủ động chuyển đổi phương thức nuôi trồng thâm canh, bán thâm canh, quảng canh và quảng canh cải tiến nhằm tăng sản lượng nuôi trồng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của của xã hội; áp dụng khoa học kỹ thuật trong việc nuôi trồng, chăm sóc con giống, vật nuôi, tăng cường phòng chống dịch nhằm hạn chế dịch bệnh phát sinh, nên sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng khá so cùng kỳ.

3. Thương mại dịch vụ, giá cả, vận tải và du lịch

Tháng 8 năm 2021 tình hình dịch bệnh Covid -19 trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp. Toàn tỉnh áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh đến hết ngày 31/8/2021. Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn. Nhiều chợ phải tạm ngưng hoạt động để thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch. UBND tỉnh giao Sở Công Thương phối hợp các Doanh nghiệp và các địa phương, các Siêu thị, chuỗi cửa hàng, điểm bán nhu yếu phẩm, điểm tập kết … tiếp tục tăng cường nguồn hàng hóa, để cung cấp, đáp ứng cho nhu cầu của người dân trong thời gian phòng, chống dịch.

Các điểm bán hàng này giúp cho người dân có thêm nhiều địa chỉ mua các mặt hàng thiết yếu với giá cả hợp lý, giảm tải cho các Siêu thị, cửa hàng tiện lợi, tuy nhiên hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn cũng bị ảnh hưởng đáng kể. Hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, các mặt hàng thiết yếu vẫn được phép hoạt động nhưng nhiều cửa hàng, tiệm tạp hóa đã chủ động cắt giảm thời lượng bán hàng, hạn chế nhập hàng, tạm ngừng hoạt động vì lo ngại dịch bệnh,...Tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ, vận tải trong tháng như sau:

a) Thương mại dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 8 năm 2021 ước đạt 12.645,57 tỷ đồng, giảm 14,13% so với tháng trước và giảm 15,61% so tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước tính đạt 124.421,07 tỷ đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 0,67%). Trong đó kinh tế nhà nước ước đạt 7.002,9 tỷ đồng, giảm 3,59%, kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 114.766,88 tỷ đồng, tăng 3,61%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.651,29 tỷ đồng, giảm 1,43% so với cùng kỳ.

Xét theo nhóm ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 8 ước tính 11.409,81 tỷ đồng, giảm 9,39% so tháng trước. Hầu hết các nhóm hàng hoá kinh doanh chính giảm so cùng kỳ. Trong đó: Hàng may mặc giảm 33,14%; Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 20,17%; Vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 25,38%; Gỗ và vật liệu xây dựng giảm 21,03%... Riêng Lương thực, thực phẩm tăng 8,27% và Xăng, dầu các loại tăng 1,94%.

Tính chung 8 tháng doanh thu bán lẻ ước đạt 101.199,82 tỷ đồng, chiếm 81,34% và tăng 6,43% so với cùng kỳ. Tháng 8 năm 2021 do Đồng Nai thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CP-TTg đến hết ngày 31/8/2021, đã ảnh hưởng nhiều tới hoạt động của chuỗi cung ứng, bán lẻ trong thời gian qua, nhất là đối với các kênh bán lẻ truyền thống. Tính đến ngày 20/8, toàn tỉnh có 72/148 chợ đang tạm ngưng hoạt động để thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19. Để thay thế các chợ tạm ngừng hoạt động, Sở Công Thương và nhiều địa phương, đã triển khai các kênh bán hàng thay thế, điểm trung chuyển, tập kết hàng hóa nhằm tránh đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ người dân. Có 553 điểm bán hàng thiết yếu và 162 điểm tập kết, trung chuyển hàng hóa.… với giá bình ổn, được niêm yết giá rõ ràng. Ngoài ra các doanh nghiệp đã triển khai 30 điểm bán hàng nhu yếu phẩm bình ổn giá nhằm hỗ trợ người dân trong mùa dịch. Trong đó: Công ty CP Tổng công ty Tín Nghĩa triển khai 8 điểm ở TP. Biên Hòa và 4 điểm tại H. Nhơn Trạch. Tổng công ty CP Phát triển khu công nghiệp (Sonadezi) triển khai 13 điểm ở TP.Biên Hòa; Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai (Dofico) hiện đã triển khai 5 điểm ở TP. Biên Hòa… Các điểm bán hàng này giúp cho người dân có thêm nhiều địa chỉ mua các mặt hàng thiết yếu với giá cả hợp lý, tuy nhiên hoạt động hoạt động kinh doanh trong tháng khó khăn, tăng thấp so cung kỳ.

Các hoạt động khách sạn, nhà hàng, du lịch đều chịu ảnh hưởng, do thực hiện các biện pháp phòng chống dịch, giảm mạnh so với tháng 7, cụ thể như sau:

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 8 ước tính đạt 317,34 tỷ đồng, giảm 56,7% so tháng trước. Ước 8 tháng đạt 8.418,69 tỷ đồng, giảm 13,46% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú 123,35 tỷ đồng, giảm 15,63%, Dịch vụ ăn uống 8.295,34 tỷ đồng, giảm 13,42% so cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành 8 tháng đạt 17,96 tỷ đồng, giảm 39,79% so với cùng kỳ. Đây là hoạt động gặp khó khăn nhất từ năm 2020 đến nay, dịch bệnh Covid -19 bùng phát trở lại làm cho ngành này gặp khó khăn hơn. Trong tháng 8 các cơ sở lưu trú, lữ hành phải tạm đóng cửa nên doanh thu giảm mạnh so cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 8 ước tính đạt 918,42 tỷ đồng, giảm 34,38% so tháng trước. Ước 8 tháng đạt 14.748,61 tỷ đồng, giảm 6,85% so với cùng kỳ.

b) Giá cả thị trường

Tháng 8 năm 2021 trước diễn biến phức tạp dịch Covid -19 tỉnh Đồng Nai đã áp dụng các biện pháp cách ly xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi toàn tỉnh đến hết ngày 31/8/2021. Theo đó một số cửa hàng, dịch vụ bị đóng cửa, các chợ tạm và một số chợ truyền thống tạm ngưng hoạt động.Do việc thực hiện các biện pháp phòng chống dịch theo Chỉ thị 16/CT-TTg nên nguồn hàng hóa cung cấp trên thị trường cũng bị hạn chế nhất là các mặt hàng rau, củ, quả trong khi đó nhu cầu mua hàng hóa thiết yếu của người dân để tiêu dùng và tích trữ lại tăng. Để giảm bớt sự thiếu hụt và thay thế các chợ tạm ngừng hoạt động, Sở Công Thương và nhiều địa phương, đã triển khai các kênh bán hàng thay thế, điểm trung chuyển, tập kết hàng hóa nhằm tránh đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ người dân. Trong đó có 553 điểm bán hàng thiết yếu và 162 điểm tập kết, trung chuyển hàng hóa.… với giá bình ổn, được niêm yết giá rõ ràng…nên hiện nay lượng hàng hóa vẫn được đảm bảo, giá nhiều mặt hàng đã ổn định trở lại; các mặt hàng thiết yếu và nhu yếu phẩm cần thiết vẫn được bảo đảm để cung cấp cho người dân.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 so với tháng trước tăng 0,37%. Trong 11 nhóm hàng chính thì có 04 nhóm hàng có chỉ số giá tăng như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,47%; Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,52%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,02% và có 06 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm như: nhóm Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và VLXD giảm 0,43%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%; Nhóm giao thông giảm 0,19%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,14%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,03%; Hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,24%.

Cụ thể một số nhóm hàng chính sau:

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống so với tháng trước tăng 1,47%; so với cùng tháng năm trước tăng 1,85%. Trong đó: Lương thực tăng 2,1%, nguyên nhân chính do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhu cầu mua lương thực dự trữ của người dân tăng, cũng như để trợ giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách tăng làm cho giá gạo trong tháng tăng nhẹ so với tháng trước; như gạo tẻ thường tăng 2,33%; gạo tẻ ngon tăng 0,67%; giá các mặt hàng bột mì và ngũ cốc khác tăng 5,63%; các mặt hàng lương thực chế biến tăng 1,57%; nguyên nhân là do các mặt hàng này hiện nay nhu cầu tăng cao trong khi nguồn cung giảm vì việc vận chuyển gặp khó khăn nhiều cửa hàng tạm thời đóng cửa.

Nhóm hàng thực phẩm tăng 1,99% so với tháng trước. Do nguồn cung thực phẩm bị hạn chế nhất là các mặt hàng rau, củ, quả phải vận chuyển từ các tỉnh khác về, bị gián đoạn. Trong khi khâu vận chuyển gặp khó khăn nên các mặt hàng này trong tháng tăng như bắp cải tăng 17,29%; su hào tăng 16,31%; cà chua tăng 16,63%...

Giá các mặt hàng thịt heo, thịt bò, thịt gà trong kỳ 3 tháng 8 có xu hướng tăng nguyên nhân là do hiện nay tỉnh đang siết chặt việc vận chuyển hàng hóa nhằm làm giảm nguy cơ lây lan bệnh trong cộng đồng. Giá thịt heo ở khu vực thành thị tăng 2,21%, khu vực nông thôn giảm 1,32% do ảnh hưởng của dịch bệnh nên nguồn cung cấp thịt heo từ khu vực nông thôn bị hạn chế trong khi nhiều hộ cá thể chăn nuôi được nên sản lượng dồi dào, mặt khác do các chợ đầu mối, chợ truyền thống, chợ tạm tạm ngừng hoạt động để chống dịch nên thị trường tiêu thụ mặt hàng này giảm dẫn đến giá thịt heo ở khu vực nông thôn giảm; thịt bò tăng 0,4%, các mặt hàng trứng gia cầm vẫn tăng 11,09% so với tháng trước; thủy sản tươi sống tăng 1%.

Ăn uống ngoài gia đình tăng nhẹ 0,03% so với tháng trước; Các nhóm hàng thực phẩm công nghiệp như bánh, mứt, kẹo, chè, cà phê giá ổn định so với tháng trước. Riêng giá các mặt hàng sữa tăng nhẹ do nhu cầu tiêu dùng tăng.

+ Nhóm Giao thông: Chỉ số giá nhóm này so với tháng trước giảm 0,19%; so với cùng tháng năm trước tăng 15,28%. Trong đó giá các mặt hàng phương tiện và phụ tùng có xu hướng giảm; giá các mặt hàng xăng, dầu do có sự hỗ trợ của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam Petrolimex đối với những tỉnh áp dụng thực hiện Chỉ thị 16/CP nên trong tháng 8 giá xăng dầu của tỉnh giảm như; giá xăng các loại được chiều chỉnh giảm 0,41%, giá dầu diezel được điều chỉnh giảm 2,62% so với tháng trước.

- Chỉ số giá tháng 8 so với tháng 12/2020 tăng 2,39% (tức là chỉ số giá 8 tháng năm 2021). Trong đó có 9/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng đó là: Nhóm giao thông tăng cao nhất với 12,98%; nhóm văn hóa, giải trí, du lịch giảm nhiều nhất giảm 0,52%.

- Chỉ số giá bình quân 8 tháng so cùng kỳ tăng 2,4%. Trong đó: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,4%); Đồ uống và thuốc lá (+0,41%); May mặc, mũ nón và giày dép (+0,39%); Nhà ở và vật liệu xây dựng (+3,66%); Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,5%); Thuốc và dịch vụ y tế (+0,22%); Giao thông (+8,51%); Giáo dục (+4,35%); Đồ dùng và dịch vụ khác (+1,68%). Có 2 nhóm có chỉ số giảm đó là bưu chính viễn giảm 0,42% và văn hóa, giái trí và du lịch giảm 0,52%.

- Giá vàng trong nước biến động theo với giá vàng thế giới; Chỉ số giá vàng tháng 8/2021 giảm 0,6% so với tháng trước; giảm0,19% so với tháng cùng kỳ năm trước; bình quân 8 tháng năm 2021 tăng 12,47% so cùng kỳ.

- Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 8/2021 giảm 0,24% so tháng trước; so với cùng tháng năm trước giảm 0,08%; bình quân 8 tháng tăng 0,34%.

c) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Trong bối cảnh dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp, Đồng Nai và các tỉnh thành phía Nam tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ khiến cho gián đoạn quá trình lưu thông, vận chuyển hàng hóa; việc thiếu container và giá cước vận chuyển tăng cao, sản xuất nhiều doanh nghiệp áp dụng phương án “3 tại chỗ” (sản xuất tại chỗ, ăn uống tại chỗ, nghỉ ngơi tại chỗ) nhằm tránh sự lây lan của dịch bệnh; một số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động để ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh và đảm bảo sức khoẻ người lao động…. đã ảnh hưởng hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn; hầu hết các nhóm ngành xuất, nhập khẩu chủ yếu giảm so tháng trước. Tình hình cụ thể như sau:

Kim ngạch xuất khẩu tháng 8 năm 2021 ước tính 1.547,43 triệu USD, giảm 19,7% so tháng trước và giảm 3,91% so tháng cùng kỳ năm trước. Hầu hết các các mặt hàng xuất khẩu giảm so tháng trước, trong đó: Sản phẩm gỗ giảm 18,38%; hàng dệt may giảm 19,83%; giày dép các loại giảm 21,34%; Máy tính, linh kiện điện tử giảm 19,66%; Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng giảm 20,23%; Xơ, sợi dệt các loại giảm 14,42%...nguyên nhân giảm là do một số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ lực tạ ngưng hoạt động và giảm năng lực sản xuất để phòng dịch, mặt khác thị trường tiêu thụ xuất khẩu qua các nước đối tác quan trọng như Trung Quốc, Mỹ và một số nước đối tác khác vẫn đang gặp khó khăn, nhiều đơn hàng bị hủy và chưa có những đơn hàng mới do chịu ảnh hưởng của dịch Covid 19.

Tính chung 8 tháng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 15.198 triệu USD, tăng 28,91% so cùng kỳ (Mức tăng này chủ yếu là 6 tháng đầu năm 2021 xuất khẩu tăng cao). Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 361,94 triệu USD, tăng 13,67%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.873,06 triệu USD, tăng 21,17%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11.963 triệu USD, tăng 31,46%. Hầu hết mặt hàng, nhóm hàng 8 tháng đầu năm đầu đạt mức tăng trưởng khá. Trong đó: Sản phẩm gỗ tăng 46,98%; hàng dệt may tăng 4,19%; giày dép các loại tăng 7,7%, Máy tính, sản phẩm, linh kiện điện tử tăng 55,2%, Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng tăng 33,02%... so cùng kỳ. Tuy nhiên đà tăng trưởng này đang có phần chậm lại do dịch Covid-19 đang ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong thời gian tới, tăng trưởng xuất nhập khẩu sẽ phụ thuộc rất lớn vào tình hình kiểm soát dịch bệnh trên địa bàn tỉnh cũng như các địa phương lân cận nếu dịch Covid-19 tiếp tục kéo dài đến những tháng cuối năm thì xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng lớn do sản xuất bị gián đoạn.

Về thị trường xuất khẩu 8 tháng tập trung chủ yếu: Hoa Kỳ ước đạt 4.739,72 triệu USD, chiếm 31,19% tổng kim ngạch xuất khẩu; Trung Quốc ước đạt 1.632,84 triệu USD, chiếm 10,74%; Nhật Bản ước đạt 1.400,3 triệu USD, chiếm 9,21%, Hàn Quốc ước đạt 790,07 triệu USD, chiếm 5,2%, các thị trường khác: Đài Loan, Bỉ, Đức; Nga... chiếm 1% - 5% tổng kim ngạch.

- Ước kim ngạch nhập khẩu tháng 8 đạt 1.556,99 triệu USD, giảm 12,51% so với tháng trước. Hoạt động nhập khẩu trong tháng khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19 làm cho các nhóm ngành nhập khẩu giảm so tháng trước. Trong đó: Thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 12,87%, Hóa chất giảm 13,08%, Chất dẻo (Plastic) nguyên liệu giảm 12,73%, Xơ, sợi dệt các loại giảm 12,35%, Vải các loại giảm 12,57%, Nguyên phụ liệu dệt, may, da giày giảm 13,52%, Sắt thép các loại giảm 15,09%...

Tính chung 8 tháng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 13.022,36 triệu USD, tăng 42,35% so cùng kỳ (tăng do 6 tháng đầu năm tăng cao, mặt khác xuất khẩu 8 tháng năm 2020 kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh). Trong đó: Kinh tế nhà nước ước đạt 187,25 triệu USD, giảm 5%; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.2436,63 triệu USD, tăng 25,75%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 10.398,48 triệu USD, tăng 48,27% so cùng kỳ. Một số mặt hàng nhập khẩu 8 tháng tăng khá so cùng kỳ: Thức ăn gia súc và nguyên liệu 825,14 triệu USD (+27,26%); Hóa chất 1.182,94 triệu USD (+90,87%); Chất dẻo (Plastic) nguyên liệu 1.240,95 triệu USD (+62,52%); Xơ, sợi dệt các loại 335,43 triệu USD (+51,27%); Vải các loại 577,69 triệu USD (+19,09%); Nguyên phụ liệu dệt, may, da giày 534,37 triệu USD (+12,34%) Máy vi tính, SP điện tử và linh kiện 776,29 triệu USD (+77,36%); Máy móc thiết bị, DCPT khác 1.136,14 triệu USD (+13,1%)…

Thị trường nhập khẩu chủ yếu: Trung Quốc ước đạt 3.341,55 triệu USD, chiếm 25,66% tổng kim ngạch nhập khẩu; Hàn Quốc 1.748,6 triệu USD, chiếm 13,43%; Hoa Kỳ 979,26 triệu USD, chiếm 7,52%; Nhật Bản 884,51 triệu USD, chiếm 6,79%;các thị trường khác như: Thái Lan, Brazil, Indonesia… chiếm tỷ trọng từ 2% - 6% tổng kim ngạch nhập khẩu.

d) Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 8 giảm mạnh so với tháng trước, do toàn tỉnh thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, các đơn vị vận chuyển hành khách nội tỉnh và ngoại tỉnh tạm ngưng hoạt động, chỉ loại trừ một số phương tiện đưa đón lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng chống dịch; phương tiện đưa đón công nhân tại các doanh nghiệp đang thực hiện phương án “1 cung đường, 2 địa điểm”làm cho hoạt động vận tải hành khách giảm cả về doanh thu và sản lượng so với tháng trước và so với tháng cùng kỳ; đối với hoạt động vận chuyển hàng hóa và hoạt động vận chuyển lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của người dân trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ,Sở Giao thông vận tải tỉnh đã có văn bản hướng dẫn các đơn vị vận tải đểnhằm tạo thuận lợi trong việc lưu thông, vận chuyển hàng hóavừa thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch Covid-19. Tình hình cụ thể như sau:

Sản lượng vận tải hành khách tháng 8 ước đạt 726,5 nghìn lượt khách, giảm 79,03% so tháng trước; luân chuyển hàng hóa ước đạt 32.816,8 nghìn lượt khách.km, giảm 81,49%. Tính chung 8 tháng sản lượng hành khách ước đạt 37,24 triệu lượt khách, giảm 9,29% so cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 2.141,5 triệu lượt khách.km, giảm 8,32% so cùng kỳ. Trong đó: Khối lượng vận chuyển đường bộ ước đạt 36,64 triệu lượt khách, giảm 9,16%; luân chuyển đạt 2.141,18 triệu lượt khách.km, giảm 8,32% so cùng kỳ.

Sản lượng vận tải hàng hóa tháng 8 ước đạt 2,47 triệu tấn, giảm 29,74% so tháng trước; luân chuyển hàng hóa ước đạt 203,71 triệu tấn.km, giảm 29,95%. Tính chung 8 tháng sản lượng hàng hóa ước đạt 34,03 triệu tấn, giảm 2,46%; luân chuyển ước đạt 2.891,87 triệu tấn.km, giảm 1,37% so cùng kỳ. Trong đó: Khối lượng vận chuyển đường bộ ước đạt 33,1 triệu tấn, giảm 2,39%; luân chuyển đạt 2.731,9 triệu tấn.km, giảm 1,15% so cùng kỳ.

Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8 ước tính 762,3 tỷ đồng, giảm 32,68% so tháng trước; giảm 43,5% so tháng cùng kỳ. Tính chung 8 tháng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tính 11.391,6 tỷ đồng, giảm 0,35% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước tính 1.354,87 tỷ đồng, giảm 6,8%, doanh thu vận tải hàng hóa 6.709 tỷ đồng, tăng 1,89%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải 3.327,7 tỷ đồng, giảm 1,91% so cùng kỳ.

e) Bưu chính, chuyển phát

Do trong tháng 8 thực hiện nghiêm các biện pháp phòng chống dịch nên việc mua hàng hóa online không phải là các mặt hàng thiết yếu giảm, mặt khác do tâm lý sợ bị lây nhiễm từ nhân viên giao hàng nên người dân cũng hạn chế đặt mua hàng online, do đó doanh thu của ngành bưu chính và chuyển phát giảm so tháng trước. Dự tính doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 8 ước đạt 10,3 tỷ đồng, giảm 17,67% so với tháng trước và giảm 3,26% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng doanh thu ước đạt 102,01 tỷ đồng, tăng 14,96% so với cùng kỳ.

4. Tình hình thực hiện vốn đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước

Trong đặc biệt 2 tháng gần đây, tình hình thực hiện vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai gặp nhiều khó khăn do sự bùng phát trở lại lần thứ 4 của dịch bệnh covid-19 xẩy ra rất phức tạp và nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và một số tỉnh, thành phố khu vực phía Nam. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai trong công tác phòng chống dịch bệnh toàn tỉnh không ngừng nổ lực thực hiện tốt mục tiêu kép vừa phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và vừa phát triển kinh tế. Tuy nhiên trong tình hình dịch bệnh covid-19 hiện nay, xẩy ra có tính chất phức tạp, bùng phát ở cả cộng đồng dân cư, lây lan vào các khu công nghiệp tập trung hàng chục ngàn công nhân lao động. Khiến hầu hết các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… phải tạm thời ngừng hoạt động sản xuất, ngừng kinh doanh. Do đó tình hình thực hiện vốn đầu tư, nhất là đầu tư công gặp nhiều khó khăn, tiến độ giải ngân chậm. Ước tính đến cuối tháng 8 năm 2021 tình hình giải ngân vốn đầu tư công đạt 1.657 tỷ đồng, bằng 31,37% so kế hoạch năm.

Dự ước thực hiện vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách Nhà Nước do địa phương quản lý tháng 8 năm 2021 thực hiện 415,2 tỷ đồng, giảm 19,96% so với tháng 7 năm 2021, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh giảm 19,65% và chiếm 74,46%, vốn ngân sách nhà nước cấp huyện giảm 20,87% và chiếm 17,59%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã giảm 20,78% và chiếm 7,95%, vốn đầu tư trong hai tháng nay đều giảm liên tục, nguyên nhân giảm là do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, với mức độ lây lan nhanh trong cộng đồng dân cư, nên trên địa bàn tỉnh nhiều hạng mục công trình bị gián đoạn, thi công chậm, do thiếu lực lao động, vì hầu hết đây là nguồn lao động lao động tự do. Đặc biệt hiện nay đang trong vùng phong toả, cách ly, thực hiện giãn cách xã hội... ảnh hưởng đến việc thi công các công trình. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2021 thực hiện 3.480,5 tỷ đồng, tăng 8,97% so cùng kỳ và bằng 38,37% so kế hoạch năm 2021, mức tăng này chủ yếu là do 6 tháng đầu năm 2021 kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19, nên các công trình trình chuyển tiếp từ năm 2020 được chú trọng đẩy nhanh tiến độ, nhưng từ tháng 7 đến nay việc thi công công trình, dự án bị gián đoán, ngắt quãng, nhiều công trình tạm ngưng thi công. Cụ thể các nguồn vồn như sau:

a) Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh quản lý

Ước tháng 8 năm 2021 thực hiện 309,5 tỷ đồng, giảm 19,65% so với tháng 7/2021. Ước 8 tháng đầu năm 2021 thực hiện 2.348,8 tỷ đồng, tăng 9,33% so cùng kỳ và bằng 40,29% so với kế hoạch năm, nguyên nhân 8 tháng đầu năm 2021 có tỷ lệ tăng khá so cùng kỳ là do tốc độ tăng trưởng của 6 tháng đầu năm 2021 khá cao và ổn định, trong đó: Dự án đầu tư xây dựng đường Hương Lộ 2 nối dài, dự ước tháng 8/2021 là 8,9 tỷ đồng; Dự án cải tạo nâng cấp đường ĐT 768 đoạn từ cầu Vượt Thủ Biên đến giao với đường ĐT767 (H. Vĩnh Cửu), dự ước tháng 8/2021 là 9,8 tỷ đồng; Dự án nâng cấp đường ĐT 763 đoạn từ Km0+000 đến Km29+500 (H. Định Quán, Xuân Lộc), dự ước thực hiện trong tháng 8/2021 là 8,1 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng cầu Thanh Sơn và tuyến đường Cao Cang (H. Định Quán), dự ước thực hiện trong tháng 8/2021 là 2,3 tỷ đồng; Dự án xây dựng cầu Vàm Cái Sứt trên đường Hương lộ 2 nối dài (TP. Biên Hòa); Dự ước thực hiện là 5,1 tỷ đồng. Một số dự án dở dang các chủ đầu tư đang tập trung thi công theo kế hoạch.

b) Nguồn vốn ngân sách nhà nước do cấp huyện quản lý

Dự ước tháng 8 năm 2021 thực hiện 73,2 tỷ đồng, giảm 20,87% so với tháng 7/2021. Ước 8 tháng đầu năm 2021 thực hiện 857,6 tỷ đồng, tăng 8,95% so cùng kỳ và bằng 34,2% so kế hoạch năm 2021, cụ thể các công trình như sau: Dự án chống ngập úng khu vực Suối Cải; dự án nâng cấp, mở rộng hệ thống cấp nước tập trung xã Hàng Gòn; Dự án nâng cấp, mở rộng Hồ chứa nước Suối Tre (TP. Long Khánh) dự ước tháng 8/2021 thực hiện 8,7 tỷ đồng; Dự án Trung tâm tổ chức sự kiện (H. Tân Phú) tháng 8/2021 thực hiện 1 tỷ đồng; Dự án Trạm bơm ấp 7 Phú Tân (H. Định Quán) tháng 8/2021 thực hiện 3 tỷ đồng.

c) Nguồn vốn ngân sách Nhà Nước do cấp xã quản lý.

Dự ước tháng 8 năm 2021 thực hiện 32,3 tỷ đồng, giảm 20,78% so tháng 7/2021. Ước 8 tháng đầu năm 2021 thực hiện 255,4 tỷ đồng, tăng 5,85% so với cùng kỳ và bằng 37,57% so kế hoạch.

Nhìn chung tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 8 giảm, Luỹ kế 8 tháng có mức tăng trưởng khá, mặc dù vẫn còn một số tồn tại đó là: Do ảnh hưởng dịch Covid -19 diễn biến phức tạp, tiến độ do công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn chậm, công tác giải ngân chưa kịp thời. Với sự quyết tâm của Lãnh đạo tỉnh Ðồng Nai chỉ đạo quyết liệt, tập trung mọi nguồn lực để thực hiện đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, trong đó khâu giải ngân, giải phóng mặt bằng là quan trọng nhất với mục tiêu bàn giao mặt bằng đúng tiến độ, tập trung công tác giải ngân kịp thời; đồng thời lên các phương án rà soát, tháo gỡ khó khăn vướng mắc và giám sát về tiến độ thi công.

5. Tình hình thực hiện Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng Hàng không quốc tế Long Thành

1. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không Quốc tế Long Thành:

- Đối với đất của các tổ chức: Đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng, trình UBND tỉnh ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 17/18 tổ chức với diện tích 1.899,18 ha và tổng số tiền đã bồi thường là 944,9 tỷ đồng.

- Đối với đất của các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư: UBND huyện Long Thành đã phê duyệt và công khai phương án bồi thường cho 4.325 trường hợp/1.781,44 ha/8.552,78 tỷ đồng (bao gồm kinh phí thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ).

1.1. Công tác xây dựng hạ tầng các khu tái định cư

- Dự án thành phần 1: Các nhà thầu đều đã tăng cường nhân công, thiết bị để duy trì thi công theo kế hoạch tiến độ, các nhà thầu cũng đã lập kế hoạch và triển khai nhân lực; Đến nay, các nhà thầu đã cơ bản hoàn thành 02 tuyến đường N23 và N39; hoàn thành mặt đường nhựa 02 tuyến đường D1 và D18; tiếp tục hoàn thiện khối lượng vỉ hè còn lại; Gói thầu hạ tầng Khu 5, 10 và 11: Nhà thầu đã cơ bản hoàn thành thi công; chuẩn bị triển khai công tác sơn đường theo yêu cầu của Ban QLDA; Các gói thầu thi công hạ tầng Khu 1, 2, 7, 8, 9 và 12: Nhà thầu đã thi công xong toàn bộ kết cấu đường, đang tiếp tục thi công kết cấu vỉa hè; Khu 3: Nhà thầu đã hoàn thành thảm lớp bê tông nhựa nóng C19 của 11/11 tuyến đường; đã thảm xong lớp bê tông nhựa nóng C12.5 của 09/11 tuyến đường, thi công vỉa hè đạt 65%; Khu 6: Nhà thầu đã hoàn thành thảm lớp bê tông nhựa nóng C19 và C12.5 của 08/10 tuyến đường. Riêng gói thầu cấp điện: Nhà thầu đã thi công hoàn thành các loại ống phục vụ luồn cáp, hố cáp (phần ngầm), đang tổ chức thi công kéo cáp để ưu tiên cấp điện cho các khu, theo thứ tự khu 7, 9, 5, 10 và khu 11, tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh Covid-19 nên nhiều hạng mục chưa thể tổ chức triển khai.

- Dự án thành phần 2: Tiếp tục tổ chức thi công 09 tiểu dự án gồm các dự án Trường học, trụ sở ủy ban, trung tâm văn hóa...nhà thầu đang triển khai thi công, gia công lắp dựng cốp pha, cốt thép, thi công bê tông đà kiềng, nắp bể nước ngầm. Thi công xây trụ cột hàng rào và một số hạng mục của dự án.

- Dự án thành phần 3: Ban QLDA đầu tư xây dựng tỉnh có văn bản số 522/BQLDAĐTXD-CTN gửi Sở Tài nguyên và Môi trường về việc hoàn thành phê duyệt các dự án có cấu phần xây dựng hai khu tái định cư thuộc Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng HKQT Long Thành.

- Dự án thành phần 4: Các công trình xã hội Khu dân cư, tái định cư tại xã Bình Sơn hiện nay đãng thực hiện thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

- Dự thành phần 5: Đến nay UBND huyện Long Thành đã khởi công 10/10 gói thầu với tổng chi phí xây lắp 320,2 tỷ đồng; các Nhà thầu đã hoàn thành thi công móng, cột tầng trệt, dầm sàn tầng trệt, cổng tường rào.... Còn lại gói thầu Hệ thống lưới trung điện - hạ thế đang tiế hành thực hiện.

1.2. Công tác giải ngân vốn

Theo kế hoạch được giao là 22.850.035 triệu đồng trong giai đoạn 2018-2021 để triển khai thực hiện dự án; UBND tỉnh đã giao chi tiết kế hoạch vốn cho 04 đơn vị được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chủ đầu tư. Trong tháng 6 năm 2021 các đơn đã tiến hành giải ngân tiền bồi thường, hỗ trợ xây dựng tái định cư là 1.059.305 triệu đồng, trong đó UDND Huyện Long Thành là 880.152 triệu đồng, Ban QLDA đầu tư xây dựng tỉnh là 179.153 triệu đồng.

2. Dự án đầu tư xây dựng Cảng HKQT Long Thành giai đoạn 1

- Đối với đầu tư 02 tuyến giao thông kết nối: Tuyến số 01 đang điều chỉnh bản đồ thu hồi đất, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, cắm mốc để có cơ sở phê duyệt Kế hoạch thu hồi đất; Tuyến số 2 hiện nay đã hoàn thành bản đồ thu hồi đất và danh sách các thửa đất nằm trong dự án của tuyến đường, bàn giao mốc ngoài thực địa (506 mốc và 73 vạch sơn). Đến nay, Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam đã cung cấp hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi hệ thống giao thông kết nối, đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát giải phóng mặt bằng của 02 tuyến giao thông.

- Đối với triển khai các hạng mục, công trình: Sau khi tiếp nhận mặt bằng, ACV đã tổ chức Lễ khởi công xây dựng Dự án thành phần 3 Dự án đầu tư xây dựng Cảng HKQT Long Thành giai đoạn 1. Hiện đang triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng chung (tường rào, rà phá bom mìn vật nổ, san nền thoát nước…), nhà ga hành khách, các công trình phụ trợ… một cách đồng bộ. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, Ban QLDA Cảng HKQT Long Thành đã bố trí và phân công nhân sự thực hiện công việc đảm bảo tuân thủ chỉ thị và tiến độ thực hiện Dự án.

6. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

- Tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) đến ngày 20/8/2021 đạt 963,88 triệu USD, tăng 26% so cùng kỳ. Trong đó: Cấp mới 41 dự án, giảm 18% với vốn đăng ký 313,24 triệu USD, tăng 50,1% so cùng kỳ; điều chỉnh tăng vốn 82 dự án với vốn bổ sung 650,64 triệu USD, tăng 16,9% so cùng kỳ.

- Tổng vốn đầu tư trong nước đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư và điều chỉnh tăng vốn đến ngày 20/8/2021 là 13.379,06 tỷ đồng, giảm 46,9% so cùng kỳ. Trong đó: Cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 23 dự án với số vốn là 10.487,31 tỷ đồng, giảm 50,5%; điều chỉnh tăng vốn 10 dự án với số vốn là 2.891,75 tỷ đồng, giảm 27,8% so cùng kỳ.

Tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2021 có 2.124 doanh nghiệp thành lập mới, bằng 86,8% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký khoảng 45.487,4 tỷ đồng, tăng 59,3% so với cùng kỳ và 560 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 24.355 tỷ đồng, tăng 151,6% so cùng kỳ.

- Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2021 có 240 doanh nghiệp giải thể và 248 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động; 630 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh.

7. Hoạt động Ngân hàng

Tháng 8 năm 2021 Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Đồng Nai tiếp tục triển khai các chủ trương, chính sách mới về tiền tệ, ngân hàng đến các Tổ chức tín dụng trên địa bàn. Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động của các TCTD trên địa bàn đảm bảo thanh khoản và an toàn hệ thống nhằm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và thị trường vàng; thực hiện tốt công tác thanh toán, tăng cường công tác thanh toán không dùng tiền mặt; đáp ứng kịp thời và đầy đủ lượng tiền mặt và cơ cấu các loại tiền phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Kết quả hoạt động ngân hàng như sau:

Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn ước đến 31/8/2021 đạt 267.813 tỷ đồng, tăng 9,24% so với 31/12/2020. Trong đó: Tiền gửi bằng đồng Việt Nam ước đạt 250.390 tỷ đồng, tăng 9,31% so với 31/12/2020; Tiền gửi bằng ngoại tệ ước đạt 14.840 tỷ đồng, tăng 2,93% so cuối năm 2020. Mặt bằng lãi suất tiếp tục xu hướng giảm, hiện lãi suất huy động tiền gửi bằng VND phổ biến ở mức 0,1- 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,1 - 3,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0 - 5,9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 5,6 - 6,7%/năm. Lãi suất huy động tiền gửi ngoại tệ là 0%.

Tổng dư nợ cấp tín dụng trên địa bàn ước đến 31/8/2021 ước đạt 272.011 tỷ đồng, tăng 11,34% so với 31/12/2020 (trong đó nợ xấu ước chiếm 0,46% trên tổng dư nợ cho vay). Trong đó: Tổng dư nợ cho vay ước đạt: 270.912 tỷ đồng, tăng 11,61% so với 31/12/2020, bao gồm: Dư nợ ngắn hạn ước đạt 144.202 tỷ đồng, tăng 13,77% so 31/12/2020. Dư nợ trung, dài hạn ước đạt 126.710 tỷ đồng, tăng 9,26% so cuối năm 2020.

+ Phân theo loại tiền: Dư nợ bằng đồng Việt Nam ước đạt 227.567 tỷ đồng, tăng 10,34% so 31/12/2020; dư nợ bằng ngoại tệ ước đạt 43.345 tỷ đồng, tăng 18,82% so cuối năm 2020. Hiện lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,5%/năm; lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3% - 6%/năm.

Tình hình dư nợ một số chương trình tín dụng:

+ Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: Đến 31/8/2021 dư nợ ước đạt 76.800 tỷ đồng, tăng 17,49% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 28,35% so với tổng dư nợ cho vay.

+ Dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới đối với các xã trên địa bàn ước đạt 75.700 tỷ đồng, tăng 13,46% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 27,94% so với tổng dư nợ cho vay.

+ Dư nợ cho vay xuất nhập khẩu: Đến 31/8/2021 ước đạt 37.625 tỷ đồng, tăng 0,81 % so với 31/12/2020, chiếm tỷ trọng 13,88 % so với tổng dư nợ cho vay trên địa bàn. Trong đó, cho vay xuất khẩu ước đạt 20.196 tỷ đồng, giảm 5,04% so cuối năm trước, chiếm 7,45% so với tổng dư nợ cho vay.

+ Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa : Đến 31/8/2021 ước đạt 60.169 tỷ đồng, tăng 6,47% so với 31/12/2020, chiếm tỷ trọng 22,2% so với tổng dư nợ cho vay.

* Kết quả tháo gỡ khó khăn đối với khách hàng bị ảnh hưởng dịch Covid-19:

Tính đến ngày 30/6/2021, có 949 khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay với dư nợ là 1.605 tỷ đồng. Trong đó, các Tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 753 khách hàng với dư nợ (gốc, lãi) là 316 tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho 196 khách hàng với dư nợ 1.289 tỷ đồng. Cho vay mới với lãi suất thấp hơn so với trước dịch từ 0,5% đến 2% với doanh số lũy kế đạt 157.590 tỷ đồng, đến cuối tháng 6/2021, dư nợ cho vay mới đạt 42.565 tỷ đồng của 20.522 khách hàng. Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Đồng Nai tiếp tục theo dõi diễn biến tình hình trên địa bàn, triển khai mạnh mẽ các biện pháp phòng, chống dịch và có các biện pháp chỉ đạo các Tổ chức tín dụng kịp thời hỗ trợ cho khách hàng bị ảnh hưởng do dịch nhằm góp phần giảm thiểu thiệt hại do tác động của dịch Covid-19 gây ra.

8. Một số tình hình xã hội

a) Văn hóa thông tin

Tháng 8 năm 2021, toàn ngành VHTTDL tập trung tuyên truyền cổ động trực quan các sự kiện: Kỷ niệm 76 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2021); Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911-25/8/2021) và Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (02/9/1945-02/9/2021). Thực hiện trang trí phục vụ Kỳ họp thứ 2, HĐND tỉnh khóa X, nhiệm kỳ 2021-2026. Tuyên truyền các hoạt động hưởng ứng Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người (30/7), tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19; Xây dựng kế hoạch tập luyện chương trình tuyên truyền lưu động bằng hình thức onlinedo diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19.

- Hoạt động Thư viện: Do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp; Thư viện tỉnh Đồng Nai đã xây dựng 10 clip giới thiệu sách trên Youtube để tuyên truyền và phục vụ bạn đọc. Bên cạnh đó còn tích cực thông tin tuyên truyền phòng chống Covid–19 với 20 tin bài và thực hiện 08 bài viết về các ngày kỷ niệm trong tháng đăng tải trên trang thông tin điện tử.

b) Thể thao

Trong tháng 8, đơn vị đã tổ chức 02 giải thi đấu trực tuyến, gồm: Giải vô địch các Câu lạc bộ Yoga trực tuyến tỉnh Đồng Nai năm 2021 (có 65 vận động viên ở 04 nhóm tuổi tham gia thi đấu) và Giải vô địch các Câu lạc bộ Cờ vua trực tuyến tỉnh Đồng Nai năm 2021, có 41 vận động viên của 06 huyện, thành phố thuộc tỉnh tham gia Hệ phong trào và 90 vận động viên thuộc 15 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham gia Hệ mở rộng

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục Thể thao Đồng Nai tăng cường triển khai thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 tại đơn vị, đảm bảo duy trì việc tập luyện của các đội tuyển; theo dõi chặt chẽ diễn biến dịch bệnh để triển khai kế hoạch hoạt động chuyên môn. Ban huấn luyện các đội tuyển triển khai kế hoạch tập luyện online phù hợp cho vận động viên; đối với một số vận động viên ngoài tỉnh hoặc địa phương đang có dịch, hiện nội trú tại Trung tâm và khu vực Sân vận động tỉnh, vẫn được duy trì chế độ tập luyện nhằm đảm bảo thể lực, kỹ thuật, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng để tham gia thi đấu giải trong năm 2021.

c) Giáo dục - Đào tạo

Năm học mới 2021-2022 theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT đã ban hành theo khung kế hoạch thời gian năm học 2021-2022 đối với bậc giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó, đối với học sinh lớp 1 sẽ tựu trường sớm nhất từ ngày 23/8. Thời gian tổ chức khai giảng vào ngày 5/9 như các năm trước đây. Trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, toàn tỉnh đã có trên 200 cơ sở giáo dục được trưng dụng làm nơi cách ly y tế, bệnh viện dã chiến điều trị bệnh nhân Covid-19. Riêng TP. Biên Hòa, hiện đã có trên 70 cơ sở giáo dục công lập và tư thục được trưng dụng làm khu cách ly y tế, như vậy Đồng Nai sẽ không thể khai giảng năm học mới vào dịp 5/9 sắp tới, Tuy nhiên theo Lãnh đạo Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh sẽ có sự chuẩn bị chu đáo để khi học sinh trở lại trường. Thời điểm học sinh chính thức trở lại trường còn tùy thuộc vào diễn biến của tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh, vì mục tiêu cao nhất là an toàn cho học sinh và giáo viên.

Hiện tại Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2859/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh về khung kế hoạch thời gian năm học 2021-2022 cụ thể: Khai giảng đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông là ngày 12/9/2021; giáo dục thường xuyên là ngày 18/9/2021.

Công tác chuẩn bị đội ngũ giáo viên cho năm học mới: Năm học 2021-2022, học sinh lớp 1, lớp 2 (bậc tiểu học) và lớp 6 (bậc THCS) sẽ học chương trình giáo dục phổ thông mới và sách giáo khoa mới. Hiện sở đang tiếp tục triển khai tập huấn sách giáo khoa mới cho giáo viên các trường đảm bảo kịp thời khi năm học mới bắt đầu.

d) Y tế

Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, lây lan nhanh trong cộng đồng và tại các doanh nghiệp. Để tiếp tục thực hiện mục tiêu bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết và trước hết, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, sớm kiểm soát dịch bệnh, UBND tỉnh yêu cầu tiếp tục áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đến hết ngày 31/8/2021. Các lực lượng chức năng đang khẩn trương thực hiện chiến dịch xét nghiệm Covid-19 diện rộng cho 2,1 triệu người dân trong tỉnh để phát hiện sớm, bóc tách F0 trong cộng đồng... Tính từ ngày (15/7-15/8/2021) ghi nhận 13.019 trường hợp mắc bệnh trên địa bàn tỉnh. Luỹ kế từ lúc dịch xuất hiện đến ngày 23/8/2021, đã ghi nhận 19.340 trường hợp mắc Covid-19 (7.686 trường hợp đã điều trị khỏi bệnh; 11.514 trường hợp đang điều trị; 140 trường hợp tử vong). Số trường F1 hợp đang cách ly tập trung theo dõi: 4.706 trường hợp; cách ly tại nhà, nơi lưu trú 9.514 trường hợp; đang theo dõi sức khoẻ tại nhà, nơi lưu trú: 3.189 trường hợp.

Một số dịch bệnh phát sinh tháng 8 và 8 tháng như sau:

- Sốt xuất huyết: Có 1.137 trường hợp (trong đó số trường hợp trẻ ≤ 15 tuổi là 601, chiếm tỷ lệ 52,86%), tăng 28,18% so với tháng trước (887 trường hợp) và tăng 208% so với tháng cùng kỳ 2020. Số trường hợp mắc sốt xuất huyết cộng dồn đến tháng 8/2021 là 4.486 (trong đó số trường hợp trẻ ≤ 15 tuổi là 2.850, chiếm tỷ lệ 63,53%), tăng 119,26% so với cùng kỳ (2046 trường hợp). Ghi nhận 01 trường hợp tử vong.

Hoạt động xử lý ổ dịch:Số ổ dịch được phát hiện trong tháng là 135 ổ dịch, tăng 365,51% so với cùng kỳ. Tỷ lệ ổ dịch xử lý trong toàn tỉnh đạt 98,84% (855 ổ dịch được xử lý/865 ổ dịch phát hiện).

- Sởi: Trong tháng không ghi nhận trường hợp mắc sởi. Tổng số ca mắc cộng dồn đến tháng 8/2021 là 08 trường hợp, giảm 93,85% so với cùng kỳ. Không ghi nhận trường hợp tử vong.

- Hội chứng tay chân miệng: Số trường hợp mắc trong tháng là 13, giảm 82,43% so với tháng trước và giảm 98,16% so với tháng cùng kỳ năm 2020. Số trường hợp mắc tay chân miệng cộng dồn đến tháng 8/2021 là 2.876, tăng 1,42 lần so với cùng kỳ năm 2020. Không ghi nhận trường hợp tử vong.

Hoạt động xử lý ổ dịch:Số ổ dịch được phát hiện trong tháng là 135 ổ dịch, tăng 365,51% so với cùng kỳ. Tỷ lệ ổ dịch xử lý trong toàn tỉnh đạt 98,84% (855 ổ dịch được xử lý/865 ổ dịch phát hiện).

Hoạt động phòng, chống dịch: Trước tình hình dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nguy cơ lan rộng trong cộng đồng, nhất là thành phố Biên Hoà và huyện Thống Nhất... Sở Y tế chủ động tham mưu các cấp thẩm quyền; chỉ đạo các Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và các Trung tâm Y tế huyện, thành phố triển khai đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh như:Xây dựng các khu cách ly, bệnh viện dã chiến và tăng cường xét nghiệm nhanh tầm soát diện rộng, Tăng cường xét nghiệm tầm soát ở các khu vực nguy cơ cao như các chợ, khu nhà trọ công nhân, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong và ngoài khu công nghiệp trên địa bàn được đánh giá nguy cơ cao và nguy cơ rất cao. Yêu cầu các doanh nghiệp trên địa bàn 7 huyện, thành phố thực hiện xét nghiệm cho tất cả người lao động.

Thường xuyên triển khai các giải pháp khống chế dịch Sốt xuất huyết, Sởi, Tay chân miệng. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch bệnh tại các đơn vị trực thuộc. Chuẩn bị đầy đủ cơ số cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc và hóa chất sẵn đáp ứng kịp thời cho công tác phòng, chống dịch, nhất là dịch bệnh Covid-19 và các dịch bệnh khác.

Phối hợp tốt với Sở Thông tin và truyền thông, các địa phương, báo, đài phát thanh, truyền hình…tăng cường công tác tuyền truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh trong việc chủ động thực hiện các giải pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19, nhất là tại khu vực có yếu nguy cơ như nơi các bệnh nhân dương tính lưu trú, làm việc và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các khu vực đông dân cư trên địa bàn tỉnh.

Công tác tiêm chủng: - Tiêm chủng vắc xin Covid-19: Tiếp nhận vắc xin phòng bệnh Covid-19 đợt 2 được phân bổ từ Bộ Y tế với 29.300 liều và xây dựng danh sách phân bổ các đối tượng ưu tiên theo Nghị quyết số: 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vaccine phòng COVID-19. Triển khai thực hiện tiêm cho các đối tượng từ 22/4/2021, cụ thể: Cơ quan thuộc Bộ Y tế đóng trên địa bàn tỉnh: 400 liều; các đơn vị ưu tiên của của tỉnh: 28.900 liều (đã bao gồm Công an tỉnh: 900 liều)”, đến nay đã hoàn thành. Tiếp nhận vắc xin phòng bệnh Covid-19 đợt 3 với 21.000 mũi từ Bộ Y tế để thực hiện tiêm mũi 2 cho các đối tượng đã tiêm mũi 1 đợt 1 và tiêm mũi 1 cho các đối tượng ưu tiên; Kết quả tiêm chủng vắc xin ngừa Coid-19 như sau:

- Đợt 1- đợt 3 (Từ 22/4 đến 15/7/2021): Số vắc xin đã tiêm là 77.332 liều (Trong đó có 58.469 mũi 1; 19.863 mũi 2).

- Đợt 4 (Từ 29/7/2021): Số vắc xin đã tiêm là 79.025 liều (Trong đó có 75.499 mũi 1; 3.526 mũi 2).

- Đợt 5 (Từ 16/8/2021): Số vắc xin đã tiêm là 15.537 liều (Trong đó có 15.431 mũi 1; 100 mũi 2).

- Đợt 6 (Từ 21/8/2021): Số vắc xin đã tiêm là 14.998 liều (Trong đó có 14.997 mũi 1; 01 mũi 2).

Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh đã có 514.384 người được tiêm vắc xin Covid-19 (Chiếm 22,8% đối tượng trên 18 tuổi), trong đó có 47.225 người đã tiêm đủ liều.

- Tiêm chủng mở rộng: Tiếp nhận vắc xin tiêm chủng mở rộng được từ Viện Pasteur và thực hiện cấp phát vắc xin, vật tư tiêm chủng mở rộng cho các Trung tâm Y tế huyện và thành phố Biên Hòa, Long Khánh. Theo dõi thực hiện Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia. Hướng dẫn sử dụng Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia cho các Phòng tiêm chủng tư nhân.

- Tình hình vệ sinh thực phẩm: Trong tháng 8/2021 thực hiện công tác kiểm tra, giám sát (02 đoàn kiểm tra liên ngành) và tổ chức 201 lượt thanh tra, kiểm tra cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, dịch vụ ăn uống và kinh doanh tiêu dùng thực phẩm/15.419 tổng số cơ sở, trong đó: 179 cơ sở đạt (chiếm 89,05%), số cơ sở vi phạm là 22, nhắc nhở 22 cơ sở. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm.

e) Giải quyết việc làm

Trong tháng, tiếp nhận 2.650 hồ sơ đề nghị hưởng BHTN, ban hành 5.382 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp (trong đó có 09 hồ sơ chuyển đến và 2.723 hồ sơ đề nghị hưởng BHTN tồn) với tổng số tiền là 137.162,91 triệu đồng. Tư vấn và giới thiệu việc làm cho số lao động thất nghiệp 3.520 lượt người, hỗ trợ học nghề cho 81 người.

Tình hình quan hệ lao động tại các doanh nghiệp: Tính từ ngày 01/01/2021 đến ngày 13/8/2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tranh chấp lao động tập thể dẫn đến đình công tại 15 doanh nghiệp với sự tham gia của 8.807/11.555 lao động, trong đó có 10 vụ xảy ra tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 04 vụ xảy ra tại doanh nghiệp có vốn trong nước và 01 vụ của doanh nghiệp liên doanh Đài Loan - Pháp (giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm 2020).

f) Đào tạo nghề

Trong tháng 8 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhận hồ sơ tuyển sinh cho 4.578/79.700 người đạt 5,74% kế hoạch (lũy kế 8 tháng 47.949/79.700 người đạt 60,16% kế hoạch năm), trong đó: Cao đẳng là 1.982 người, Trung cấp 2.596 người./.


Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai

    Tổng số lượt xem: 516
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.