Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 25 tháng 1 năm 2022
English
a A
Ngày 29/10/2021-16:31:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 của tỉnh Quảng Trị

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung thu hoạch lúa Hè Thu ở các địa phương gieo cấy muộn và gieo trồng các loại rau màu. Lúa Mùa phát triển tốt, đang trong thời kỳ trổ bông. Chăn nuôi đang phục hồi và phát triển tốt, nhưng giá thức ăn chăn nuôi tăng, giá bán sản phẩm giảm và khó tiêu thụ gây khó khăn chongười chăn nuôi. Điều kiện thời tiết trong tháng không được thuận lợi do mưa bãođã ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.

1.1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

* Tiến độ sản xuất nông nghiệp đến ngày 15/10/2021

Tính đến ngày 15/10/2021, toàn tỉnh đã gieo trồng 82.172,9 ha cây hàng năm, tăng 0,75% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cây lúa gieo cấy 50.437,9 ha lúa, giảm 0,44% (lúa Đông Xuân 25.944,6 ha, giảm 0,59%; lúa Hè Thu 22.580,3 ha, giảm 0,13%; lúa Mùa 1.913 ha, giảm 1,97%); cây ngô gieo trồng 4.385,6 ha, tăng 14,64%; khoai lang 1.512,1 ha, giảm 13,91%; sắn 12.438 ha, tăng 3,56%; lạc 3.289,4 ha, tăng 2,36%; rau các loại 5.350,6 ha, tăng 6,61%; đậu các loại 1.624,1 ha, tăng 2,45%...Diện tích gieo cấy lúa giảm chủ yếu là do lúa Mùa giảm. Lúa Mùa chủ yếu là lúa nương rẩy thuộc hai huyện miền núi Hướng Hóa và ĐaKrông, hiện nay do đất nương rẩy bị bạc màu trồng lúa kém hiệu quả nên các địa phương chuyển sang trồng sắn, chuối, cao su...; cây khoai lang giảm mạnh do sản xuất kém hiệu quả chuyển sang trồng các loại cây khác.

Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm chủ yếu

Ước thực hiện đến ngày 15/10/2021

(Ha)

Ước thực hiện đến 15/10/2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

- Lúa

50.437,9

99,56

+ Lúa Đông Xuân

25.944,6

99,41

+ Lúa Hè Thu

22.580,3

99,87

+ Lúa Mùa

1.913,0

98,03

- Ngô

4.385,6

114,64

- Khoai lang

1.512,1

86,09

- Sắn

12.438,0

103,56

- Lạc

3.289,4

102,36

- Rau các loại

5.350,6

106,61

- Đậu các loại

1.624,1

102,45

* Kết quả sản xuất cây hàng năm năm 2021

Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 55,4 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với năm trước; trong đó, lúa Đông Xuân đạt 61 tạ/ha cao nhất từ trước đến nay, tăng 2,3 tạ/ha so với vụ Đông Xuân năm trước; lúa Hè Thu đạt 52,8 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha so với vụ Hè Thu năm trước; lúa Mùa ước tính đạt 10,8 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ Mùa năm trước. Năng suất ngô ước tính đạt 34,5 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha; năng suất khoai lang 81 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha; năng suất sắn 159,9 tạ/ha, giảm 7,9 tạ/ha; năng suất lạc 23,5 tạ/ha, tăng 2,3 tạ/ha; năng suất rau các loại 106,6 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha; năng suất đậu các loại 11,1 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha…Năng suất lúa Đông Xuân năm nay đạt cao nhất từ trước đến nay ngoài yếu tố thời tiết thuận lợi, chủ động nguồn nước, sâu bệnh ít gây hại còn là kết quả của việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả. Vụ Hè Thu, nắng nóng kéo dài gây hạn hán ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa; trong thời kỳ lúa trổ bông, nhiệt độ cao hơn trung bình nhiều năm và gió Tây Nam thổi mạnh làm cho bông lúa bị lép hạt; hơn nữa, một số diện tích lúa trà muộn ảnh hưởng của bảo số 5 bị gãy đổ, ngập úng đã ảnh hưởng đến năng suất.

Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2021 ước tính đạt 294.675 tấn, tăng 1,80% (+5.235 tấn) so với năm trước; trong đó, lúa 279.557,7 tấn, tăng 1,12%; ngô 15.117,3 tấn, tăng 16,39%. Sản lượng khoai lang ước tính đạt 12.244,4 tấn, giảm 14,55%; sắn 198.899,8 tấn, giảm 1,28%; lạc 7.739,9 tấn, tăng 13,37%; rau các loại 57.028,7 tấn, tăng 9,22%; đậu các loại 1.796,5 tấn, tăng 10,98%...

b. Chăn nuôi

Ước tính đến 30/10/2021, đàn trâu có 21.750 con, giảm 2,25% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 55.650 con, tăng 0,38%; đàn lợn thịt có 131.500 con, tăng 16,63%; đàn gia cầm có 3.626 nghìn con, tăng 6,96%; trong đó: đàn gà 2.850 nghìn con, tăng 10,04%. Ngành chăn nuôi đang phục hồi và phát triển tốt,tuy nhiên do giá thức ăn chăn nuôi tăng, giá bán sản phẩm giảm và khó tiêu thụ đã ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 10/2021 ước tính đạt 3.887,2 tấn, tăng 10,64% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 76 tấn, tăng 2,15%; thịt bò 247,9 tấn, tăng 2,69%; thịt lợn 2.332 tấn, tăng 5,71%; thịt gia cầm 1.231,3 tấn, tăng 24,16%. Sản lượng trứng gia cầm 2.235,1 nghìn quả, tăng 17,53%. Tính chung 10 tháng năm 2021, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 39.240,2 tấn, tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 773 tấn, tăng 0,21%; thịt bò 2.493,9 tấn, tăng 2,11%; thịt lợn 22.810,3 tấn, tăng 33,39%; thịt gia cầm 13.163 tấn, tăng 22,16%. Sản lượng trứng gia cầm 23.969,1 quả, tăng 9,65%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 10 và 10 tháng năm 2021 tăng khá do tổng đàn lợn và đàn gia cầm tăng cao.

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến 15/10/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 365 hộ, của 09 huyện, thị xã, thành phố với tổng số 2.806 con bị bệnh, chết buộc chôn hủy; trọng lượng tiêu hủy 120.327 kg. Đến 15/10/2021, còn 04 xã của 02 huyện (Vĩnh Linh và Triệu Phong) còn gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày.

Ngoài ra, từ đầu năm đến nay dịch Viêm da nổi cục trên trâu, bò tiếp tục xảy ra; tổng số mắc bệnh 2.799 con; tiêu hủy 267 con. Đến 15/10/2021, còn 5 xã của 02 huyện (Hướng Hóa và Cam Lộ) có gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng

Ước

tháng 10/2021

(Tấn)

Ước

10 tháng năm 2021

(Tấn)

So với cùng kỳ năm 2020 (%)

Tháng 10/2021

10 tháng năm 2021

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng

3.887,2

39.240,2

110,64

126,22

- Thịt trâu

76,0

773,0

102,15

100,21

- Thịt bò

247,9

2.493,9

102,69

102,11

- Thịt lợn

2.332,0

22.810,3

105,71

133,39

- Thịt gia cầm

1.231,3

13.163,0

124,16

122,16

1.2. Lâm nghiệp

Tháng Mười, tranh thủ thời tiết thuận lợi các Công ty lâm nghiệp và người dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng. Các doanh nghiệp chế biến gỗ có đơn hàng nên sản lượng gỗ khai thác tăng khá. Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 10/2021 ước tính đạt 2.708 ha, giảm 12,39% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 355 nghìn cây, tăng 77,50%; sản lượng gỗ khai thác 79.250 m3, tăng 39,81%; sản lượng củi khai thác 6.690 ster, tăng 6,87%. Tính chung 10 tháng năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 8.367 ha, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 2.705 nghìn cây, tăng 15,11%; sản lượng gỗ khai thác 850.843 m3, tăng 0,67%; sản lượng củi khai thác 145.330 ster, tăng 1,70%.

Thiệt hại rừng: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Tính chung 10 tháng năm 2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 08 vụ cháy rừng, giảm 27,28% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị cháy 27,80 ha, giảm 33,66%.

Về kiểm soát vi phạm lâm luật: Từ đầu năm đến nay đã phát hiện 128 vụ vi phạm; xử lý vi phạm 117 vụ; tịch thu 158,6 m3 gỗ các loại. Phát hiện 11 vụ phá rừng, diện tích rừng bị chặt phá là 3,26 ha.

Trồng rừng và khai thác lâm sản

Ước tháng 10/2021

Ước 10 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm 2020 (%)

Tháng 10/2021

10 tháng năm 2021

1. Trồng rừng tập trung (Ha)

2.708

8.367

87,61

100,22

2. Số cây LN trồng phân tán (1000 cây)

355

2.705

177,50

115,11

3. Sản lượng gỗ khai thác (M3)

79.250

850.843

139,81

100,67

4. Sản lượng củi khai thác (Ster)

6.690

145.330

106,87

101,70

1.3. Thủy sản

Tháng Mười năm nay hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản có ảnh hưởng của mưa bão nhưng ít hơn năm trước, sản lượng thủy sản nuôi trồng tương đối ổn định, sản lượng thủy sản khai thác tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 10/2021 ước tính đạt 1.353,8 tấn, tăng 21,40% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, cá 859,8 tấn, tăng 41,88%; tôm 404 tấn, tăng 6,68%; thủy sản khác 90 tấn, giảm 31,03%. Tính chung 10 tháng năm 2021, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 31.405,8 tấn, giảm 0,22% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, cá 21.548,6 tấn, giảm 3,02%; tôm 4.390 tấn, giảm 1,78%; thủy sản khác 5.467,2 tấn, tăng 14,21%. Cụ thể:

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 10/2021 ước tính đạt 706,8 tấn, tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 318,8 tấn, giảm 0,37%; tôm 388 tấn, tăng 4,02%. Tính chung 10 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 73250,8 tấn, giảm 0,54% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 3.098,6 tấn, tăng 1,26%; tôm 4.122 tấn, giảm 1,93%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 10/2021 ước tính đạt 647 tấn, tăng 53,24% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 541 tấn, tăng 89,16%; thủy sản khác 90 tấn, giảm 31,03%. Tính chung 10 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 24.155 tấn, giảm 0,13% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 18.450 tấn, giảm 3,71%; thủy sản khác 5.437 tấn, tăng 14,23%.

Dịch bệnh nuôi trồng thủy sản: Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính và Đốm trắng trên tôm nuôi đã xảy ra tại 04 xã, phường của huyện Vĩnh Linh và TP Đông Hà, với tổng diện tích bị bệnh là 20,29 ha (0,7 ha bị bệnh đốm trắng, 19,59 ha bị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính).

Sản lượng thủy sản

Ước tháng 10/2021

Ước 10 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm 2020 (%)

Tháng 10/2021

10 tháng năm 2021

Tổng sản lượng thủy sản (Tấn)

1.353,8

31.405,8

121,40

99,78

1. Chia theo loại thủy sản

- Cá

859,8

21.548,6

141,88

96,98

- Tôm

404,0

4.390,0

106,68

98,22

- Thủy sản khác

90,0

5.467,2

68,97

114,21

2. Chia theo nuôi trồng, khai thác

- Nuôi trồng

706,8

7.250,8

101,99

99,46

- Khai thác

647,0

24.155,0

153,24

99,87

2. Sản xuất công nghiệp

Tháng Mười, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh dần được kiểm soát. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng tích cực do năm nay có nhiều dự án mới đi vào hoạt động. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2021 tăng 13,55% so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt ngành sản xuất và phân phối điện tăng 40,42% do có nhiều dự án điện gió, điện mặt trời đi vào hoạt động. Tính chung, chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2021 tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2021 ước tính giảm 0,29% so với tháng trước và tăng 13,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 5,62% và tăng 3,44%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,04% và tăng 8,57%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,41% và tăng 40,42%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,63% và tăng 12,35%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười giảm so với tháng trước là do ảnh hưởng của thời tiết và cắt giảm lao động thích ứng với biện pháp phòng chống dịch.

Tính chung 10 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 5,01% của cùng kỳ năm 2020. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 5,61%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,36%; sản xuất và phân phối điện tăng 19,97%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,93%. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao do năm nay có một số dự án điện gió, điện mặt trời mới đi vào hoạt động.

Trong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng cao hơn chỉ số chung là: dệt tăng 104,04%; sản xuất và phân phối điện tăng 19,97%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 18,34%; sản xuất đồ uống tăng 16,25%; khai khoáng khác tăng 15,49%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 15,27%. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hơn chỉ số chung là: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,07%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 5,68%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 4,64%; sản xuất trang phục tăng 3,98%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,16%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 2,42%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 2,13%. Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm: khai thác quặng kim loại giảm 1,34%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 1,57%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 4,28%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 10,47%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 10,57%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 28,54%; sản xuất da và sản phẩm có liên quan giảm 44,41%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Tháng 10/2021 so với tháng 9/2021

(%)

Tháng 10/2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

Toàn ngành công nghiệp

99,71

113,55

109,36

- Khai khoáng

94,38

103,44

105,61

- Công nghiệp chế biến, chế tạo

99,96

108,57

107,36

- Sản xuất và phân phối điện

100,41

140,42

119,97

- Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

99,37

112,35

12,93

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng cao: gạch khối bằng xi măng, bê tông tăng 49,98%; ván ép tăng 49,58%; điện sản xuất tăng 26,77%; bia lon tăng 18,80%; đá xây dựng tăng 17,18%; gỗ cưa hoặc xẻ tăng 15,36%... Một số sản phẩm tăng thấp: gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 12,26%; săm dùng cho xe máy, xe đạp tăng 9,48%; nước hoa quả, tăng lực tăng 8,48%; xi măng tăng 8,34%; tấm lợp pro ximăng tăng 6,39%; bộ comle, quần áo tăng 5,54%; lốp dùng cho xe máy, xe đạp tăng 5,30%; tinh bột sắn tăng 3,26%; nước máy tăng 2,41%; điện thương phẩm tăng 0,46%...Một số sản phẩm giảm: phân hóa học giảm 1,07%; dăm gỗ giảm 2,52%; thủy hải sản chế biến giảm 7,03%...

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2021 giảm 0,17% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,60% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,09% và giảm 3%, lao động khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 0,72% và tăng 0,85%, lao động khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,23% và tăng 1,22%. Xét theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,14% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,45% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,30% và giảm 1,72%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,50% và tăng 7,12%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải bằng và tăng 0,20%. Số lao động đang làm việc trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với tháng trước và cùng kỳ năm trước do cắt giảm lao động thích ứng với công tác phòng chống dịch COVID-19.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Mười tháng năm 2021, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và số vốn đăng ký đều giảm; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của dịch COVID-19 kéo dài, sản xuất kinh doanh gặp khó khăn. Từ đầu năm đến 15/10/2021, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 25,87% với số vốn đăng ký giảm 36,84% so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng 6,83%.

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm đến 15/10/2021, toàn tỉnh có 318 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 25,87% (-111 DN) so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 4.863,7 tỷ đồng, giảm 36,84%; số vốnđăng ký bình quân một doanh nghiệp 15,29 tỷ đồng, giảm 14,79%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 172 doanh nghiệp, tăng 6,83% (+11 DN) so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh là35 doanh nghiệp, giảm 5% (-02 DN); số doanh nghiệp trở lại hoạt động là 137 doanh nghiệp, tăng 53,93% (+48 DN). Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể phần lớn là những doanh nghiệp thuộc các ngànhthương mại và dịch vụ gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19 kéo dài…

4. Đầu tư

Tháng Mười, các Sở, ngành và các địa phương nỗ lực tập trung thực hiện những giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tuy nhiên tình hình thời tiết không được thuận lợi đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các công trình, dự án. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười chỉ tăng 2,87% so với tháng Chín, nhưng tăng khá cao 39,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng năm 2021 đạt 64,53% so với kế hoạch và giảm 2,12% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2021 ước tính đạt 290,52 tỷ đồng, tăng 2,87% so với tháng trước và tăng 39,31% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 223,22 tỷ đồng, tăng 8,75% và tăng 40,73%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 60,29 tỷ đồng, giảm 13,04% và tăng 27,41%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 7,01 tỷ đồng, giảm 10,48% và tăng 168,36%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười tăng cao so với cùng kỳ năm trước do tháng 10/2020 chịu ảnh hưởng nặng nề lũ lụt kéo dài.

Tính chung 10 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 2.446,15 tỷ đồng, bằng 64,53% kế hoạch năm 2021 và giảm 2,12% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.958,43 tỷ đồng, bằng 63,31% kế hoạch và giảm 0,21%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 438,63 tỷ đồng, bằng 70,30% kế hoạch và giảm 7,83%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 49,09 tỷ đồng, bằng 67,08% kế hoạch và giảm 19,34%. Nguyên nhân chủ yếu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt thấp so với kế hoạch là do dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động nhân lực; giải ngân vốn chậm do vướng mắc thủ tục hành chính và giải phóng mặt bằng; giá vật liệu xây dựng tăng…Khó khăn lớn nhất hiện nay là việc thực hiện và giải ngân các công trình, dự án thuộc nguồn vốn ODA. Cơ chế quản lý, thủ tục thanh toán của các dự án ODA rất phức tạp, phụ thuộc rất lớn vào nhà tài trợ làm cho các chủ đầu tư bị động, lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện và giải ngân vốn.

Vốn đầu tư thực hiện một số dự án lớn từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 10 tháng năm 2021 là:

Công trình hoàn thành: Đường Huyền Trân Công chúa (giai đoạn 2) 5,5 tỷ đồng, Công viên mini Phường 2, TP Đông hà 3,8 tỷ đồng…

Công trình chuyển tiếp: Dự án xây dựng cầu dân sinh và quản lý tài sản địa phương 44,8 tỷ đồng, Tiểu dự án sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8) Quảng Trị 30,87 tỷ đồng, Khu tái định cư xã Hải Khê và đường vào khu tái định cư (GĐ1) 18,50 tỷ đồng, Khu đô thị Nam Đông Hà (GĐ3) 10,90 tỷ đồng, Đường liên xã Đakrông - Mò Ó - Triệu Nguyên - Ba Lòng 16,15 tỷ đồng…

Công trình khởi công mới: Đường Trần Bình Trọng (đoạn từ đập ngăn mặn Sông Hiếu đến QL9) 23,24 tỷ đồng, Cơ sở hạ tầng khu dân cư Tây Bắc Hòa Lý, thị trấn Cửa Tùng 14,7 tỷ đồng, Dự án khắc phục hậu quả mưa lũ, khôi phục đất sản xuất 9 tỷ đồng, Giải phóng mặt bằng dự án khu đô thị Thương mại - Dịch vụ Nam Đông Hà 5,38 tỷ đồng…

Tiến độ giải ngân vốn: Theo số liệu Kho bạc Nhà nước tỉnh tính đến 15/10/2021: Nguồn vốn NSNN địa phương do tỉnh quản lý đã giải ngân 1.547,6 tỷ đồng (bao gồm cả vốn kéo dài năm 2020 chuyển sang năm 2021) đạt 39,54% so với kế hoạch vốn chung; trong đó, riêng vốn kế hoạch giao năm 2021 đã giải ngân 1.287,6 tỷ đồng, đạt 35,37% kế hoạch năm 2021.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

Ước tính tháng 10/2021

(Tỷ đồng)

Ước tính 10 tháng năm 2021

(Tỷ đồng)

Tháng 10/2021 so với cùng kỳ năm trước

(%)

10 tháng

năm 2021 so với kế hoạch năm 2021 (%)

10 tháng

năm 2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng số

290,52

2.446,15

139,31

64,53

97,88

- Vốn ngân sách cấp tỉnh

223,22

1.958,43

140,73

63,31

99,79

- Vốn ngân sách cấp huyện

60,29

438,63

127,41

70,30

92,17

- Vốn ngân sách cấp xã

7,01

49,09

268,36

67,08

80,66

5. Thương mại và dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 10/2021, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh dần được kiểm soát; hoạt động thương mại, dịch vụ được nới lỏng; tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 kéo dài người dân gặp khó khăn, sức mua trên địa bàn không lớn nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2021 chỉ tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 0,50% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2021 ước tính tăng 6,79% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2021 ước tính đạt 2.553,04 tỷ đồng, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 0,50% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.323,92 tỷ đồng, tăng 3,05% và tăng 1,99%; doanh thu lưu trú và ăn uống 162,53 tỷ đồng, tăng 4,50% và giảm 16,08%; du lịch lữ hành không phát sinh doanh thu; doanh thu dịch vụ khác 66,59 tỷ đồng, giảm 1,06% và giảm 2,37%. Hiện nay, du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh chưa hoạt động trở lại.

Tính chung 10 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 27.193,70 tỷ đồng, tăng 6,79% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 1,37% của cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 4,07%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm nay tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước là do năm nay dịch COVID-19 được kiểm soát tốt hơn, chỉ đến cuối tháng Tám dịch mới phát sinh trở lại, phải thực hiện giãn cách xã hội TP Đông Hà và huyện Đakrông.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 24.074,36 tỷ đồng, chiếm 88,52% tổng mức và tăng 6,84% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có tổng mức bán lẻ hàng hóa lớn và tăng khá như: gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,97%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 8,41%; lương thực, thực phẩm tăng 5,78%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước tính đạt 2.211,95 tỷ đồng, chiếm 8,13% tổng mức và tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh thu dịch vụ dịch vụ lưu trú 34,41 tỷ đồng, giảm 20,77%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.177,54 tỷ đồng, tăng 6,27%. Doanh thu dịch vụ lưu trú giảm do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên khách đến lưu trú giảm so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 1,52 tỷ đồng, chiếm 0,01% tổng mức và giảm 73,90% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành từ tháng 5/2021 đến nay không phát sinh doanh thu do ảnh hưởng của dịch COVID-19 các doanh nghiệp lữ hành tạm ngừng hoạt động.

Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 905,87 tỷ đồng, chiếm 3,34% tổng mức và tăng 8,72% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Ước tháng 10/2021

( Tỷ đồng)

Ước 10 tháng

năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng mức

(Tỷ đồng)

Cơ cấu

(%)

Tháng 10/2021

10 tháng năm 2021

Tổng số

2.553,04

27.193,70

100,00

100,50

106,79

- Bán lẻ hàng hóa

2.323,92

24.074,36

88,52

101,99

106,84

- Lưu trú và ăn uống

162,53

2.211,95

8,13

83,92

105,71

- Du lịch lữ hành

-

1,52

0,01

-

26,10

- Dịch vụ khác

66,59

905,87

3,34

97,63

108,72

5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Tháng 10/2021, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát; tuy nhiên, TP Đông Hà tiếp tục thực hiện phòng chống dịch theo nguyên tắc Chỉ thị 16 và 15 của Thủ tướng Chính phủ, đến 18/10/2021 toàn tỉnh mới thực hiện phòng chống dịch theo cấp độ 2 quy định tại Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ. Hoạt động vận tải tiếp tục giảm so với tháng trước và giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Số lượt hành khách vận chuyển tháng 10/2021 giảm 15,52% so với tháng trước và giảm 63,29% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển giảm 4,86% so với tháng trước và giảm 7,99% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2021, số lượt hành khách vận chuyển giảm 1,84% so với cùng kỳ năm trước, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 1,38%.

Doanh thu vận tải tháng 10/2021 ước tính đạt 117,50 tỷ đồng, giảm 6,27% so với tháng trước và giảm 14,86% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, doanh thu vận tải hành khách 9,18 tỷ đồng, giảm 10,74% và giảm 64,89%; doanh thu vận tải hàng hóa 93,95 tỷ đồng, giảm 6,45% và giảm 7,15%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 14,37 tỷ đồng, giảm 1,90% và giảm 19,55%. Tính chung 10 tháng năm 2021, doanh thu vận tải ước tính đạt 1.538,46 tỷ đồng, tăng 2,14% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, doanh thu vận tải hành khách 244,66 tỷ đồng, giảm 0,89%; doanh thu vận tải hàng hóa 1.116,68 tỷ đồng, tăng 2,52%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 177,12 tỷ đồng, tăng 4,15%.

Vận tải hành khách và hàng hóa

Ước tháng 10/2021

Ước 10 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 10/2021

10 tháng năm 2021

1. Vận tải hành khách

- Vận chuyển (Nghìn HK)

236,7

5.793,4

36,71

98,06

- Luân chuyển (Nghìn HK.Km)

18.175,2

470.938,9

32,24

96,37

2. Vận tải hàng hóa

- Vận chuyển (Nghìn tấn)

891,4

9.809,6

92,01

101,38

- Luân chuyển (Nghìn tấn.Km)

60.226,2

681.715,3

84,26

102,19

Số lượt hành khách vận chuyển tháng 10/2021 ước tính đạt 236,7 nghìn HK, giảm 15,52% so với tháng trước và giảm 63,29% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước tính đạt 18.175,2 nghìn HK.km, giảm 19,50% và giảm 67,76%. Tính chung 10 tháng năm 2021, số lượt hành khách vận chuyển ước tính đạt 5.793,4 nghìn HK, giảm 1,94% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển ước tính đạt 470.938,9 nghìn HK.km, giảm 3,63% (10 tháng năm 2020 giảm 13,20% và giảm 17,25%). Vận tải hành khách tháng Mười giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do 17 ngày đầu tháng vận tải hành khách tạm dừng hoạt động theo quy định phòng chống dịch COVID-19.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 10/2021 ước tính đạt 891,4 nghìn tấn, giảm 4,86% so với tháng trước và giảm 7,99% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển ước tính đạt 60.226,2 nghìn tấn.km, giảm 7,33% và giảm 15,74%. Tính chung 10 tháng năm 2021, khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tính đạt 9.809,6 nghìn tấn, tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển ước tính đạt 681.715,3 nghìn tấn.km, tăng 2,19% (10 tháng năm 2020 tăng 9,39% và tăng 4,71%).

5.3. Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Tháng 10/2021, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát nhưng hoạt động kinh doanh lưu trú vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi, du lịch lữ hành chưa hoạt động trở lại. Khách lưu trú chủ yếu là người dân từ các tỉnh, thành phía Nam trở về địa phương cách ly tại các khách sạn, nhà nghĩ; khách các dự án điện gió đang đầu tư trên địa bàn và khách nội tỉnh. Số lượt khách lưu trú tháng 10/2021 giảm 55,44% so với cùng kỳ năm trước, khách du lịch theo tour không phát sinh. Tính chúng 10 tháng năm 2021, số lượt khách lưu trú giảm 28,51% so với cùng kỳ năm trước; số lượt khách du lịch theo tour giảm 63,38%.

Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Ước tháng 10/2021

Ước 10 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 10/2021

10 tháng năm 2021

1. Dịch vụ lưu trú

- Lượt khách (Lượt khách)

17.576

214.654

44,56

71,49

- Ngày khách (Ngày khách)

15.644

164.207

34,28

77,36

2. Dịch vụ du lịch lữ hành

- Lượt khách (Lượt khách)

-

1.642

-

36,62

- Ngày khách (Ngày khách)

-

2.340

-

29,85

Số lượt khách lưu trú tháng 10/2021 ước tính đạt 17.576 lượt, tăng 1,67% so với tháng trước và giảm 55,44% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú (chỉ tính khách ngũ qua đêm) 15.644 ngày khách, tăng 2,05% và giảm 48,93%; khách du lịch theo tour không phát sinh. Khách lưu trú tháng Mười giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do tháng 10/2020 dịch COVID-19 được kiểm soát tốt, kinh doanh lưu trú hoạt động bình thường.

Tính chung 10 tháng năm 2021, số lượt khách lưu trú ước tính đạt 214.654 lượt, giảm 28,51% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú 164.257 ngày khách, giảm 22,64%; số lượt khách du lịch theo tour 1.642 lượt, giảm 63,38%; số ngày khách du lịch theo tour 2.340 ngày khách, giảm 70,15%.

6. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2021 tăng 0,12% so với tháng trước. Một số yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng so với tháng trước là giá xăng dầu điều chỉnh tăng 02 lần liên tiếp và giá gas tăng…Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2021 tăng 2,46% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,72% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2021 tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2021 tăng 0,12% so với tháng trước, tăng 2,46% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 0,12% của chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2021 so với tháng trước, có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,01%; giáo dục tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,10%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,12%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,30%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,50%; giao thông tăng 2,16%. Có 01/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,57% (lương thực tăng 0,19%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,03%, thực phẩm giảm 0,92%). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại giá ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2021 tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước (10 tháng năm 2020 tăng 3,56%).

Chỉ số giá vàng tháng 10/2021 tăng 0,75% so với tháng trước, tăng 4,47% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 10 tháng năm 2021 tăng 14,12% so với cùng kỳ năm trước (10 tháng năm 2020 tăng 29,08%). Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2021 giảm 0,08% so với tháng trước, giảm 1,60% so với tháng 12 năm trước và giảm 1,80% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 10 tháng năm 2021 giảm 1,35% so với cùng kỳ năm trước (10 tháng năm 2020 giảm 0,47%). Chỉ số giá USD giảm do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm bảo lượng dự trữ ngoại tệ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu.

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

Tháng 10 năm 2021 so với

BQ 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 8/2020

(%)

Tháng 12/2020

(%)

Tháng 7/2021

(%)

1. Chỉ số giá tiêu dùng

102,72

102,46

100,12

102,61

2. Chỉ số giá vàng

102,78

104,47

100,75

114,12

3. Chỉ số giá đô la Mỹ

98,20

98,40

99,92

98,65

7. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Mặc dù, dịch COVID-19 có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh nhưng thời gian không dài; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10 tháng năm 2021 đạt khá cao so với dự toán; nhất là thu từ hoạt động xuất nhập khẩu. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 18/10/2021 đạt 122,76% dự toán, chi ngân sách địa phương đạt 72,96% dự toán.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến ngày 18/10/2021 đạt 4.235,32 tỷ đồng, bằng 122,76% dự toán địa phương và tăng 72,96% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa 2.919,59 tỷ đồng, bằng 98,30% dự toán và tăng 36,90%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 1.308,08 tỷ đồng, bằng 272,52% dự toán và tăng 365,36%. Trong thu nội địa, một số khoản thu lớn như: thu tiền sử dụng đất 1.005,37 tỷ đồng, tăng 35,38% so với cùng kỳ năm trước; thu ngoài quốc doanh 685,53 tỷ đồng, tăng 41,84%; thuế bảo vệ môi trường 357,41 tỷ đồng, tăng 15,44%; thu phí, lệ phí 241,28 tỷ đồng, tăng 44,89%; thu từ doanh nghiệp nhà nước 171,52 tỷ đồng, tăng 1,68%...Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10 tháng năm 2021 đạt cao so với dự toán và tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do năm nay có thêm nguồn thu từ thuế xây dựng cơ bản vãng lai và thuế nhập khẩu linh kiện, thiết bị của các dự án điện gió đang đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 18/10/2021 đạt 6.684,80 tỷ đồng, bằng 72,96% dự toán địa phương và bằng cùng kỳ năm trước; trong đó: chi đầu tư phát triển 719,41 tỷ đồng, bằng 51,36% dự toán và giảm 4,59%; chi thường xuyên 3.856,89 tỷ đồng, bằng 79,12% dự toán và giảm 1,59%. Trong chi thường xuyên, một số khoản chi lớn như: chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề 1.679,29 tỷ đồng, tăng 3,50% so với cùng kỳ năm trước; chi quản lý hành chính 920,71 tỷ đồng, giảm 3,52%; chi sự nghiệp kinh tế 437,95 tỷ đồng, giảm 9,33%; chi sự nghiệp y tế, dân số và KHH gia đình 434,60 tỷ đồng, giảm 3,05%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội 245,12 tỷ đồng, giảm 17,55%...Chi ngân sách địa phương đạt thấp so với dự toán là do thực hiện chủ trương siết chặt chi tiêu, đặc biệt là chi thường xuyên của Chính phủ.

Thu, chi ngân sách nhà nước

Thực hiện đến 18/10/2021

( Tỷ đồng)

Thực hiện đến 18/10/2021 so với dự toán 2021 (%)

Thực hiện đến 18/10/2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

1. Tổng thu NSNN trên địa bàn

4.235,32

122,76

172,96

TĐ: - Thu nội địa

2.919,59

98,30

136,90

- Thu từ hoạt động XNK

1.308,08

272,52

465,36

2. Tổng chi NSNN địa phương

6.684,80

72,96

100,00

TĐ: - Chi đầu tư phát triển

719,41

51,36

95,41

- Chi thường xuyên

3.856,89

79,12

98,41

8. Một số tình hình xã hội

8.1. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Trong tháng Mười, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát. TP Đông Hà thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 và 15 của Thủ tướng Chính phủ nhưng thời gian không dài, kinh tế - xã hội của tỉnh đang phát triển theo chiều hướng tích cực. Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện với nhiều giải pháp hỗ trợ hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và các gia đình gặp khó khăn đột xuất, khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19…nên tình hình thiếu đói trong dân trong tháng Mười và 10 tháng năm 2021 không xảy ra.

Thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, đến ngày 19/10/2021, có 27.963 lao động được hỗ trợ với số tiền 5.396,6 triệu đồng; 1.556 đơn vị sử dụng lao động được hỗ trợ với số tiền 1.572 triệu đồng; 301 người dân được hỗ trợ với số tiền 381,4 triệu đồng. Tổng số kinh phí đã hỗ trợ 7.350 triệu đồng.

Triển khai thực hiện Nghị Quyết 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Tính đến ngày 20/10/2021, có 12.054 lao động được phê duyệt và đang tiến hành chi trả theo chế độ với số tiền 29.000 triệu đồng; hơn 24.000 lao động của 1.340 đơn vị được giảm đóng bảo hiểm với số tiền 14.200 triệu đồng.

Tỉnh đã phân bổ 741,285 tấn gạo của Chính phủ hỗ trợ cho 10.126 hộ (49.419 khẩu) người dân gặp hoàn cảnh khó khăn trong thời gian giãn cách xã hội.

Nhằm góp phần giảm áp lực đối với việc phòng chống dịch COVID-19tại các tỉnh phía Nam và chính sách hỗ trợ người dân đang đứng trước khó khăn do dịch bệnh gây ra, tỉnh Quảng Trị tiếp tục thực hiện đợt 03 đón người dân từ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam về quê bằng tàu hỏa vào ngày 17/10/2021 với 448 người thuộc đối tượng ưu tiên theo quy định của tỉnh và có đăng ký nhu cầu.

Kết quả vận động ủng hộ các nguồn lực phòng chống dịch COVID-19 (tính từ 01/5/2021 đến ngày 07/10/2021): Số tiền vận động được 26.324,40 triệu đồng, trong đó, cấp tỉnh 9.562,98 triệu đồng; cấp huyện 16.761,42 triệu đồng. Số tiền phân bổ, sử dụng là 20.172,13 triệu đồng, trong đó, cấp tỉnh 7.049,34 triệu đồng; cấp huyện 13.122,79 triệu đồng. Hiện vật đã tiếp nhận 1.051,94 tấn hàng hóa, nhu yếu phẩm các loại, trong đó có 370 tấn gạo; hơn 700 tấn rau củ quả, thực phẩm, nhu yếu phẩm; 279 thùng nước giải khát, 2000 khẩu trang N95… Trị giá ước tính trên 17.000 triệu đồng.

8.2. Giáo dục và Đào tạo

Trong tháng 10 năm 2021, TP Đông Hà tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo nguyên tắc Chỉ thị 16 và 15 của Thủ tướng Chính phủ đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chỉ đạo, điều hành kế hoạch hoạt động của ngành Giáo dục. Một số kế hoạch của ngành cần triển khai trong tháng 10/2021 không thực hiện được.

Việc tổ chức hoạt động dạy và học đối với các đơn vị trường học chủ động, linh hoạt và xây dựng các phương án dạy học thích ứng với tình hình dịch bệnh COVID-19. Trong tháng 10 các trường học trên địa bàn TP Đông Hà vẫn đang tổ chức dạy học trực tuyến, riêng trẻ mầm non nghỉ học; các trường học tại 08 huyện, thị xã tổ chức dạy học trực tiếp và thực hiện tốt quy định 5K của Bộ Y tế. Từ ngày 21/10/2021, trên địa bàn TP Đông Hà một số khối lớp được dạy và học trực tiếp: khối 1, khối 2, khối 5, khối 6, khối 9, khối 10 và khối 12; các trung tâm tin học, ngoại ngữ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục hòa nhập, khuyết tật, trung tâm tư vấn du học, các cơ sở dạy thêm, học thêm. Bắt đầu từ 1/11/2021, tổ chức dạy học trực tiếp đối với các cơ sở giáo dục (mầm non, phổ thông, các trung tâm và Trường Trẻ em khuyết tật tỉnh).

Để hỗ trợ công tác dạy và học cho giáo viên, học sinh lớp 1, lớp 2 và lớp 6 những kiến thức cơ bản, trọng tâm trong tình hình dịch bệnh COVID-19, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh triển khai phát sóng chương trình dạy học qua truyền hình. Thời gian phát sóng liên tục từ thứ hai đến chủ nhật hàng tuần, lịch phát sóng đầu tiên bắt đầu ngày 25/9/2021.

Tính đến tháng 10/2021, tỉ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở toàn tỉnh có 8 xã đạt Mức độ 1; 30 xã đạt Mức độ 2; 87 xã đạt Mức độ 3; 02 huyện đạt Mức độ 1; 04 huyện đạt Mức độ 2; 04 huyện đạt Mức độ 3. Tỉnh Quảng Trị đạt Mức độ 1 về phổ cập giáo dục THCS.

Tính đến 15/10/2021, tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 193/368 (chỉ tính khối các trường công lập), đạt tỉ lệ 52,4%, trong đó: Mầm non có 92/147 trường đạt tỉ lệ 62,6%; Tiểu học có 38/67 trường đạt tỉ lệ 56,7%; TH&THCS có 34/80 trường đạt tỉ lệ 42,5%; THCS có 19/43 trường đạt tỉ lệ 44,2%; THPT có 10/24 trường đạt tỉ lệ 41,7%; THCS&THPT có 0/7 trường.

8.3. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm

* Tình hình dịch COVID-19

Trong tháng Mười, dịch COVID -19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát. Từ ngày 18/10/2021, tạm thời áp dụng các biện pháp phòng chống dịch cấp độ 2 theo Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ trên địa bàn toàn tỉnh.

Từ đầu năm đến 14h ngày 21/10/2021, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 437 ca bệnh COVID-19, trong đó có 163 ca bệnh trong tỉnh (52 ca mắc trong cộng đồng). Hiện còn 135 ca bệnh đang được điều trị tại cơ sở y tế. Hiện còn 155 người đang cách ly tại cơ sở y tế, 2.866 người đang cách ly tập trung và 1.819 người đang cách ly tại nhà.

Tính đến 21/10/2021, tỉnh đã tiếp nhận 552.540 liều vắc xin; trên địa bàn tỉnh đã cơ bản hoàn thành tiêm vắc xin phòng COVID-19 đợt 7 và đang triển khai tiêm đợt 8. Tính đến 18h ngày 21/10/2021, toàn tỉnh có 354.447 người đã được tiêm vắc xin. Số người đã tiêm mũi 1 là 307.395 người và tiêm đủ 2 mũi là 47.052 người. Tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên được tiêm ít nhất 01 liều vắc xin đạt gần 80% (có 9/9 huyện, thị xã, thành phố đạt trên 75%).

* Tình hình dịch bệnh khác

Trong tháng Mười, trên địa bàn tỉnh có 387 trường hợp mắc bệnh cúm, 26 trường hợp mắc bệnh lỵ Amip, 20 trường hợp mắc bệnh lỵ trực trùng, 85 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy, 08 trường hợp mắc bệnh viêm gan virut, 02 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết. Tính chung 10 tháng năm 2021, trên địa bàn tỉnh có 4.811 trường hợp mắc bệnh cúm, giảm 28,64% so với cùng kỳ năm trước; 109 trường hợp mắc bệnh lỵ Amip, giảm 25,85%; 234 trường hợp mắc bệnh lỵ trực trùng, giảm 41,35%; 15 trường hợp mắc bệnh quai bị, giảm 87,07%; 213 trường hợp mắc bệnh thuỷ đậu, tăng 28,31; 1.200 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy, giảm 7,76%; 123 trường hợp mắc bệnh viêm gan virut, giảm 2,38%; 01 trường hợp mắc sốt rét, giảm 98,21%; 74 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 95,43%; 38 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, giảm 46,48%. Nhìn chung 10 tháng năm 2021, hầu hết các loại bệnh dịch xảy ra trên địa bàn tỉnh đều giảm; không có trường hợp tử vong do dịch bệnh.

* Tình hình nhiễm HIV/AIDS

Trong tháng, không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới. Tính đến nay, số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị là 265 người (số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 11 trẻ, số bà mẹ mang thai nhiễm HIV sinh con là 40 bà mẹ). Số bệnh nhân tử vong do AIDS toàn tỉnh tính đến thời điểm trên là 99 người.

* Tình hình ngộ độc thực phẩm

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm lớn. Tính chung 10 tháng năm 2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (huyện Vĩnh Linh) làm 19 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong.

8.4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong tháng đã phát động cán bộ, công chức, viên chức triển khai các hoạt động hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2021; hưởng ứng cuộc thi tìm hiểu về biển đảo Việt Nam và 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 – 23/10/2021).

Triển khai lớp tập huấn dân ca cho cán bộ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật truyền thống tỉnh, đồng thời triển khai tập luyện, tổng duyệt chương trình "Tổ quốc linh thiêng" chuẩn bị quay MV và phát sóng trên Đài Phát thanh vàTruyền hình tỉnh. Xây dựng và phát sóng các MV ca nhạc trên mạng xã hội tuyên truyền phòng, chống dịch COVID-19.

Ban hành Kế hoạch triển khai cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” giai đoạn 2021 - 2030 và Kế hoạch hướng dẫn toàn dân tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khỏe, phát triển tầm vóc, thể lực, phòng, chống bệnh tật giai đoạn 2021-2025.

Tiếp tục chỉ đạo, tổ chức các giải thi đấu trong chương trình Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VIII. Duy trì tập luyện các đội tuyển theo kế hoạch, tiến hành tuyển chọn vận động viên trên địa bàn toàn tỉnh.

8.5. Thiệt hại thiên tai, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng 10, từ ngày 15/10 đến 18/10, khu vực tỉnh Quảng Trị có mưa to đến rất to, lượng mưa rất lớn với cường suất cao, trên diện rộng, trong thời gian ngắn, lũ ở hầu hết các sông lên rất nhanh. Mưa lớn đã làm nhiều địa điểm bị ngập lụt, chia cắt một số tuyến đường giao thông ở khu vực miền núi và một số vùng thấp trũng ven sông tại đồng bằng, gần 1.500 người đã được di dời về nơi an toàn. Theo báo cáo nhanh có 01 người mất tích, 02 nhà tốc mái 100%, 845 nhà bị ngập nước từ 0,5-1,5m, thiệt hại một số diện tích nuôi trồng thủy sản và hoa màu…

Trong tháng, đã tổ chức 02 lớp huấn luyện nghiệp vụ về PCCC cho 02 cơ sở với 38 người tham gia. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy; giá trị tài sản thiệt hại 3.000 triệu đồng. Tính chung, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 90 vụ cháy, giảm 15,09% (-16 vụ) so với cùng kỳ năm trước; làm chết 04 người; 03 người bị thương, tăng 200% (+02 người); giá trị tài sản thiệt hại ước tính 25.294 triệu đồng, tăng 338,77% so vưới cùng kỳ năm trước.

Trong tháng đã phát hiện và xử lý 20 vụ vi phạm môi trường, số tiền xử phạt 108 triệu đồng. Tính chung, từ đầu năm đến nay phát hiện và xử lý 198 vụ vi phạm môi trường, tăng 18,56% (+31 vụ) so với cùng kỳ năm trước; số tiền xử phạt 1.425 triệu đồng, tăng 314,13%.

8.6. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, trong tháng 10/2021 (Từ 15/9/2021 đến 14/10/2021) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông, làm chết 07 người, bị thương 09 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông giảm 35,29% (-06 vụ), số người chết giảm 12,50% (-01 người), số người bị thương giảm 35,71% (-05 người). So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 38,89% (-07 vụ), số người chết giảm 41,67% (-05 người), số người bị thương bằng cùng kỳ năm trước. Tất cả các vụ tai nạn giao thông trong tháng đều xảy ra trên đường bộ.

Tính chung 10 tháng năm 2021 (Từ 15/12/2020 đến 14/10/2021) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 156 vụ tai nạn giao thông, làm chết 86 người, bị thương 122 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 27,87% (+34 vụ), số người chết tăng 13,16% (+10 người); số người bị thương tăng 60,53% (+46 người). Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông 10 tháng năm 2021, đường bộ xảy ra 153 vụ, làm chết 84 người, bị thương 122 người; đường sắt xảy ra 03 vụ, làm chết 02 người.

Nhìn chung, tình hình trật tự an toàn giao thông 10 tháng năm 2021 diễn biến rất phức tạp, tăng cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương. Tai nạn giao thông trên quốc lộ 1 và quốc lộ 9 tăng cao. Các lỗi vi phạm chủ yếu là không làm chủ tốc độ, không đi đúng phần đường, chuyển hướng sai quy định, không chú ý quan sát


Cục Thống kê Quảng Trị

  • Tổng số lượt xem: 85
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.