Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 24 tháng 5 năm 2022
English
a A
Ngày 29/11/2021-15:34:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2021 của tỉnh Quảng Trị

Tháng Mười Một, tỉnh Quảng Trị tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng chống dịch cấp độ 2 theo Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ trên địa bàn toàn tỉnh “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19”, từng bước khôi phục và đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh…Trong tháng, các ngành kinh tế có những chuyển biến tích cực và khởi sắc hơn; tuy nhiên, do giá nguyên vật liệu đầu vào tăng; dịch tả lợn Châu Phi bùng phát trở lại đã tác động tiêu cực đến một số ngành kinh tế.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11/2021 như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng cây lúa Mùa đang cho thu hoạch, dự kiến cuối tháng Mười Một thu hoạch xong; các địa phương đang tập trung gieo trồng các loại rau màu. Chăn nuôi đang phục hồi và phát triển tốt, nhưng giá thức ăn chăn nuôi tăng, giá bán sản phẩm thấp và khó tiêu thụ gây khó khăn cho người chăn nuôi. Các công ty lâm nghiệp và các địa phương tiếp tục trồng rừng theo kế hoạch năm 2021 và khai thác gỗ phục vụ nhu cầu công nghiệp chế biến. Thời tiết trong tháng tương đối thuận lợi cho hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.

1.1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

* Tiến độ sản xuất nông nghiệp đến ngày 15/11/2021

Tính đến ngày 15/11/2021, toàn tỉnh đã gieo trồng 82.122,9 ha cây hàng năm, tăng 0,69% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó, cây lúa gieo cấy 50.246,9 ha lúa, giảm 0,81%; trong đó, lúa Đông Xuân 25.944,6 ha, giảm 0,59%; lúa Hè Thu 22.580,3 ha, giảm 0,13%; lúa Mùa 1.722 ha, giảm 11,76%; cây ngô gieo trồng 4.385,6 ha, tăng 14,64%; khoai lang 1.512,3 ha, giảm 13,90%; sắn 12.438 ha, tăng 3,56%; lạc 3.289,4 ha, tăng 2,36%; rau các loại 5.350,6 ha, tăng 6,61%; đậu các loại 1.624,1 ha, tăng 2,45%...Diện tích gieo cấy lúa giảm chủ yếu là do lúa Mùa giảm mạnh. Lúa Mùa chủ yếu là lúa nương rẩy thuộc hai huyện miền núi Hướng Hóa và ĐaKrông, hiện nay do đất nương rẩy bị bạc màu trồng lúa kém hiệu quả nên các địa phương chuyển sang trồng sắn, cao su...; cây khoai lang giảm mạnh do sản xuất kém hiệu quả chuyển sang trồng các loại cây khác.

Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm chủ yếu

Ước thực hiện đến ngày 15/11/2021

(Ha)

Ước thực hiện đến15/11/2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

- Lúa

50.246,9

99,19

+ Lúa Đông Xuân

25.944,6

99,41

+ Lúa Hè Thu

22.580,3

99,87

+ Lúa Mùa

1.922,0

88,24

- Ngô

4.385,6

114,64

- Khoai lang

1.512,3

86,10

- Sắn

12.438,0

103,56

- Lạc

3.289,4

102,36

- Rau các loại

5.350,6

106,61

- Đậu các loại

1.624,1

102,45

* Ước tính kết quả sản xuất cây hàng năm năm 2021

Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 55,6 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với năm trước; trong đó, lúa Đông Xuân đạt 61 tạ/ha cao nhất từ trước đến nay, tăng 2,3 tạ/ha so với vụ Đông Xuân năm trước; lúa Hè Thu đạt 53 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha so với vụ Hè Thu năm trước; lúa Mùa ước tính đạt 10,5 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha so với vụ Mùa năm trước. Năng suất ngô ước tính đạt 34,5 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha; năng suất khoai lang 81,1 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha; năng suất sắn 159,9 tạ/ha, giảm 7,9 tạ/ha; năng suất lạc 23,6 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha; năng suất rau các loại 106,2 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha; năng suất đậu các loại 11,3 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha…Năng suất lúa Đông Xuân năm nay đạt cao nhất từ trước đến nay ngoài yếu tố thời tiết thuận lợi, chủ động nguồn nước, sâu bệnh ít gây hại còn là kết quả của việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả. Vụ Hè Thu, nắng nóng kéo dài gây hạn hán ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa; trong thời kỳ lúa trổ bông, nhiệt độ cao hơn trung bình nhiều năm và gió Tây Nam thổi mạnh ảnh hưởng đến quá trình kết hạt làm cho bông lúa bị lép hạt; hơn nữa, một số diện tích lúa trà muộn ảnh hưởng của bảo số 5 bị gãy đổ, ngập úng đã ảnh hưởng đến năng suất.

Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2021 ước tính đạt 294.418,3 tấn, tăng 1,72% (+4.977,3 tấn) so với năm trước; trong đó, lúa 279.297,4 tấn, tăng 1,03%; ngô 15.118,4 tấn, tăng 16,40%. Sản lượng khoai lang ước tính đạt 12.266 tấn, giảm 14,39%; sắn 199.068,9 tấn, giảm 1,20%; lạc 7.755 tấn, tăng 13,59%; rau các loại 56.802,1 tấn, tăng 8,79%; đậu các loại 1.835,9 tấn, tăng 13,41%...

b. Chăn nuôi

Ước tính đến 30/11/2021, đàn trâu có 21.710 con, giảm 0,06% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 55.650 con, tăng 0,38%; đàn lợn thịt có 140.183 con, tăng 11,02%; đàn gia cầm có 3.647 nghìn con, giảm 1,96%; trong đó: đàn gà 2.816,9 nghìn con, giảm 2,30%. Hiện nay, giá thức ăn chăn nuôi tăng nhưng giá bán sản phẩm thấp; do ảnh hưởng của dịch COVID-19, nhu cầu sản phẩm chăn nuôi giảm nên khó tiêu thụ đã ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 11/2021 ước tính đạt 4.197,8 tấn, tăng 15,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 76 tấn, tăng 2,15%; thịt bò 247,9 tấn, tăng 2,69%; thịt lợn 2.594 tấn, tăng 14,07%; thịt gia cầm 1.279,9 tấn, tăng 21,71%. Sản lượng trứng gia cầm 3.768,6 nghìn quả, tăng 10,86%. Tính chung 11 tháng năm 2021, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 43.548,9 tấn, tăng 25,39% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 849 tấn, tăng 0,38%; thịt bò 2.741,8 tấn, tăng 2,16%; thịt lợn 25.588,1 tấn, tăng 32,07%; thịt gia cầm 14.370 tấn, tăng 21,50%. Sản lượng trứng gia cầm 43.982,9 nghìn quả, tăng 6,31%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 11 và 11 tháng năm 2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước do đàn lợn phục hồi nhanh và đàn gia cầm phát triển tốt.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng

Ước

tháng 11/2021

(Tấn)

Ước

11 tháng năm2021

(Tấn)

So với cùng kỳ năm 2020 (%)

Tháng 11/2021

11 tháng năm 2021

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng

4.197,8

43.548,9

115,28

125,39

- Thịt trâu

76,0

849,0

102,15

100,38

- Thịt bò

247,9

2.741,8

102,69

102,16

- Thịt lợn

2.594,0

25.588,1

114,07

132,07

- Thịt gia cầm

1.279,9

14.370,0

121,71

121,50

Tình hình dịch bệnh:từ đầu tháng Mười đến nay, dịch tả lợn Châu Phi tái bùng phát và có chiều hướng lây lan nhanh tại 32 xã, phường, thị trấn của 6/9 huyện, thị xã, thành phố (Triệu Phong, Gio Linh, Cam Lộ, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị và thành phố Đông Hà).

Tính đến ngày 14/11/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 452 hộ thuộc 61 xã, của 09 huyện, thị xã, thành phố với tổng số 4.008 con bị bệnh, chết buộc chôn hủy; trọng lượng tiêu hủy 187.501 kg. Quy trình chôn hủy được thực hiện đúng quy định có sự giám sát của cơ quan Thú y. Đến nay, có 3 huyện đã công bố hết dịch gồm: Vĩnh Linh, Hướng Hóa và Đakrông.

1.2. Lâm nghiệp

Tháng Mười Một, tranh thủ thời tiết thuận lợi các Công ty lâm nghiệp, các địa phương tiếp tục trồng rừng theo kế hoạch năm 2021 và khai thác gỗ cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến. Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 11/2021 ước tính đạt 3.599 ha, giảm 16,07% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 300 nghìn cây, tăng 50%; sản lượng gỗ khai thác 114.817 m3, tăng 2,06%; sản lượng củi khai thác 10.510 ster, giảm 0,47%. Tính chung 11 tháng năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 9.258 ha, giảm 3,02% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 2.650 nghìn cây, tăng 12,77%; sản lượng gỗ khai thác 936.467 m3, tăng 3,94%; sản lượng củi khai thác 149.640 ster, tăng 1,66%.

Trồng rừng và khai thác lâm sản

Ướctháng 11/2021

Ước 11 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm 2020 (%)

Tháng 11/2021

11 tháng năm 2021

1. Trồng rừng tập trung (Ha)

3.599

9.258

83,93

96,98

2. Số cây LN trồng phân tán (1000 cây)

300

2.650

150

112,77

3. Sản lượng gỗ khai thác (M3)

114.817

936.467

102,06

103,94

4. Sản lượng củi khai thác (Ster)

10.510

149.640

99,53

101,66

Thiệt hại rừng:Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Tính chung 11 tháng năm 2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 08 vụ cháy rừng, giảm 27,28% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị cháy 27,80 ha, giảm 34,28%.

Về kiểm soát vi phạm lâm luật:Từ đầu năm đến nay đã phát hiện 135 vụ vi phạm; xử lý vi phạm 124 vụ; tịch thu 190,1 m3gỗ các loại. Phát hiện 11 vụ phá rừng, diện tích rừng bị chặt phá là 3,26 ha.

1.3. Thủy sản

Tháng 11/2021, thời tiết khá thuận lợi cho hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Năm nay do không có lũ lụt lớn nên sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng khá so với cùng kỳ năm trước, riêng sản lượng thủy sản khai thác chỉ ổn định.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 11/2021 ước tính đạt 2.256,4 tấn, tăng 18,38% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, cá 1.303,4 tấn, tăng 4,94%; tôm 653 tấn, tăng 100,31%; thủy sản khác 300 tấn, giảm 11,24%. Tính chung 11 tháng năm 2021, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 33.852 tấn, tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, cá 22.552 tấn, giảm 3,49%; tôm 5.247 tấn, tăng 9,41%; thủy sản khác 6.053 tấn, tăng 17,64%. Cụ thể:

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 11/2021 ước tính đạt 779,4 tấn, tăng 90,56% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 142,4 tấn, tăng 39,61%; tôm 637 tấn, tăng 107,49%. Tính chung 11 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 8.238 tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 3.241 tấn, tăng 2,50%; tôm 4.967 tấn, tăng 10,13%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 11/2021 ước tính đạt 1.477 tấn, giảm 1,34% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 1.161 tấn, tăng 1,84%; thủy sản khác 300 tấn, giảm 11,24%. Tính chung 11 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 25.614 tấn, tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 19.311 tấn, giảm 4,43%; thủy sản khác 6.023 tấn, tăng 17,68%.

Sản lượng thủy sản

Ước tháng 11/2021

Ước 11 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm 2020 (%)

Tháng 11/2021

11 tháng năm 2021

Tổng sản lượng thủy sản (Tấn)

2.256,4

33.852,0

118,38

101,63

1. Chia theo loại thủy sản

- Cá

1.303,4

22.552,0

104,94

96,51

- Tôm

653,0

5.247,0

200,31

109,41

- Thủy sản khác

300,0

6.053,0

88,76

117,64

2. Chia theo nuôi trồng, khai thác

- Nuôi trồng

779,4

8.238,0

190,56

107,00

- Khai thác

1.477,0

25.614,0

98,66

100,02

Dịch bệnh nuôi trồng thủy sản:Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính và Đốm trắng trên tôm nuôi đã xảy ra tại 04 xã, phường của huyện Vĩnh Linh và TP Đông Hà, với tổng diện tích bị bệnh là 20,29 ha (0,7 ha bị bệnh đốm trắng, 19,59 ha bị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính).

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Mười Một khởi sắc hơn khi dịch COVID-19 dần được kiểm soát, các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng, hoạt động sản xuất từng bước được khôi phục trong trạng thái bình thường mới. Hơn nữa, một số dự án điện gió, điện mặt trời, dệt may…của các doanh nghiệp đi vào hoạt động nâng cao năng lực sản xuất của ngành công nghiệp. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2021 tăng 5,87% so với tháng trước, tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2021 tăng 9,52% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2021 ước tính tăng 5,87% so với tháng trước và tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 10,24% và giảm 1,16%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,10% và tăng 5,82%; sản xuất và phân phối điện tăng 15,97% và tăng 43,91%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,43% và tăng 0,31%. Ngành sản xuất và phân phối điện tháng Mười Một tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước do có nhiều dự án điện gió được gấp rút hoàn thành đi vào vận hành trước 01/11/2021 để được hưởng giá điện ưu đãi.

Tính chung 11 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 9,52% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 4,40% của cùng kỳ năm 2020. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 4,86%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,29%; sản xuất và phân phối điện tăng 21,67%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,74%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2021 tăng khá do dịch COVID-19 được kiểm soát, sản xuất công nghiệp phục hồi và phát triển; hơn nữa, năm nay có nhiều dự án điện gió, điện mặt trời, dệt may…đi vào hoạt động.

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Tháng 11/2021 so với tháng 10/2021

(%)

Tháng 11/2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

11 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

Toàn ngành công nghiệp

105,87

111,56

109,52

- Khai khoáng

110,24

98,84

104,86

- Công nghiệp chế biến, chế tạo

103,10

105,82

107,29

- Sản xuất và phân phối điện

115,97

143,91

121,67

- Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

96,57

100,31

101,74

Trong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 11 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng cao hơn chỉ số chung là: dệt tăng 101,58%; sản xuất và phân phối điện tăng 27,67%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 16,49%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 15,40%; khai khoáng khác tăng 14,22%; sản xuất đồ uống tăng 13,23%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,39%. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hơn chỉ số chung là: sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 7,14%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,03%; sản xuất trang phục tăng 3,97%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 3,84%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 1,34%. Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm: in, sao chép bản ghi các loại giảm 1,02%; khai thác quặng kim loại giảm 1,61%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 2,22%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 2,76%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 10,46%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 10,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 27,78%; sản xuất da và sản phẩm có liên quan giảm 44,92%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng cao: dầu nhựa thông tăng 59,93%; ván ép tăng 40,98%; gạch khối bằng xi măng, bê tông tăng 37,65%; điện sản xuất tăng 28,40%; gỗ cưa hoặc xẻ tăng 20,33%; đá xây dựng tăng 15,94%; bia lon tăng 14,45%...Một số sản phẩm tăng thấp: gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 13,34%; săm dùng cho xe máy, xe đạp tăng 13,25%; lốp dùng cho xe máy, xe đạp tăng 8,89%; tấm lợp pro ximăng tăng 8,77%; nước hoa quả, tăng lực tăng 7,96%; tinh bột sắn tăng 5,87%; bộ comle, quần áo tăng 5,54%; xi măng tăng 4,15%; phân hóa học tăng 2,96%; nước máy tăng 2,53%; điện thương phẩm tăng 1,17%...Một số sản phẩm giảm: dăm gỗ giảm 0,99%; thủy hải sản chế biến giảm 9,35%...

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/11/2021 giảm 0,03% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,19% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 0,03% và giảm 2,89%, lao động khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 0,22% và tăng 2,64%, lao động khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,23% và tăng 1,70%. Xét theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng bằng cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,30% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,07% và giảm 1,13%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,24% và tăng 11,35%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải bằng và giảm 0,19%. Số lao động đang làm việc trong ngành sản xuất và phân phối điện tăng khá so với cùng thời điểm năm trước do năm nay có nhiều dự án điện gió, điện mặt trời hoàn thành đi vào hoạt động đã thu hút thêm lực lượng lao động vào làm việc.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Từ đầu năm đến 15/11/2021, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và số doanh nghiệp giải thể tăng lên so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của dịch COVID-19 kéo dài, sản xuất kinh doanh gặp khó khăn. Hiện nay, dịch COVID-19 dần được kiểm soát; hoạt động sản xuất, kinh doanh khôi phục trở lại nên số doanh nghiệp trở lại hoạt động tăng lên.

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm đến 15/11/2021, toàn tỉnh có 384 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 12,93% (-57 DN) so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 12.416 tỷ đồng, tăng 56,77%; số vốnđăng ký bình quân một doanh nghiệp 32,34 tỷ đồng, tăng 80,04%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 185 doanh nghiệp, tăng 5,11% (+09 DN) so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh là64 doanh nghiệp, tăng 39,13% (+18 DN); số doanh nghiệp trở lại hoạt động là 148 doanh nghiệp, tăng 54,17% (+52 DN). Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể phần lớn là những doanh nghiệp thuộc các ngành thương mại và dịch vụ gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19 kéo dài…

Trong 384 doanh nghiệp thành lập mới, có 13 DN thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 3,38%; 153 DN thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 39,84% và 218 DN thuộc khu vực dịch vụ, chiếm 56,78%.

4. Đầu tư

Tháng Mười Một, UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt các Sở ngành và các địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Thời tiết trong tháng tương đối thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười Một tăng 30,17% so với tháng trước, tăng 28,28% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 101,16% kế hoạch và giảm 25,39% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2021 ước tính đạt 380,28 tỷ đồng, tăng 30,17% so với tháng trước và tăng 28,28% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 303,83 tỷ đồng, tăng 36,49% và tăng 30,01%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 66,48 tỷ đồng, tăng 6,33% và tăng 18,13%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 9,97 tỷ đồng, tăng 41,97% và tăng 53,96%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Mười Một tăng cao so với cùng kỳ năm trước do năm trước chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt.

Tính chung 11 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 2.828,05 tỷ đồng, bằng 101,16% kế hoạch năm 2021 và giảm 25,39% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.261,64 tỷ đồng, bằng 102,98% kế hoạch và giảm 26,89%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 507,33 tỷ đồng, bằng 95,33% kế hoạch và giảm 18,69%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 59,08 tỷ đồng, bằng 87,74% kế hoạch và giảm 19,26%. Khó khăn lớn nhất hiện nay là việc thực hiện và giải ngân các công trình, dự án thuộc nguồn vốn ODA.Cơ chế quản lý, thủ tục thanh toán của các dự án ODA rất phức tạp, phụ thuộc rất lớn vào nhà tài trợ làm cho các chủ đầu tư bị động, lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện và giải ngân vốn.

Vốn đầu tư thực hiện một số dự án lớn từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 11 tháng năm 2021 là:

Công trình hoàn thành: Khắc phục hậu quả mưa lũ (khôi phục đất sản xuất) 10,11 tỷ đồng, Công viên mini Phường 2, TP Đông hà 3,83 tỷ đồng…

Công trình chuyển tiếp: Dự án xây dựng cầu dân sinh và quản lý tài sản địa phương 49,8 tỷ đồng, Tiểu dự án sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8) Quảng Trị 34,88 tỷ đồng, Đường liên xã Đakrông - Mò Ó - Triệu Nguyên - Ba Lòng 20,05 tỷ đồng, Khu tái định cư xã Hải Khê và đường vào khu tái định cư (GĐ1) 19,30 tỷ đồng, Khu đô thị Nam Đông Hà (GĐ3) 10,90 tỷ đồng, Xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực bắc sông Hiếu 7,40 tỷ đồng…

Công trình khởi công mới: Đường Trần Bình Trọng (đoạn từ đập ngăn mặn Sông Hiếu đến QL9) 24,73 tỷ đồng, Cơ sở hạ tầng khu dân cư Tây Bắc Hòa Lý, thị trấn Cửa Tùng 15 tỷ đồng, Xây dựng khu dân cư hai bên đường Phạm Hồng Thái (GĐ2) 6,69 tỷ đồng, Giải phóng mặt bằng dự án khu đô thị Thương mại - Dịch vụ Nam Đông Hà 5,38 tỷ đồng…

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

Ước tính tháng 11/2021

(Tỷ đồng)

Ước tính 11 tháng năm 2021

(Tỷ đồng)

Tháng 11/2021 so với cùng kỳ năm trước

(%)

11 tháng

năm 2021 so với kế hoạch năm 2021 (%)

11 tháng

năm 2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng số

380,28

2.828,05

128,28

101,16

74,61

- Vốn ngân sách cấp tỉnh

303,83

2.261,64

130,01

102,98

73,11

- Vốn ngân sách cấp huyện

66,48

507,33

118,13

95,33

81,31

- Vốn ngân sách cấp xã

9,97

59,08

153,96

87,74

80,74

Tiến độ giải ngân vốn:Theo số liệu Kho bạc Nhà nước tỉnh tính đến 15/11/2021: Nguồn vốn NSNN địa phương do tỉnh quản lý đã giải ngân 1.697,5 tỷ đồng (bao gồm cả vốn kéo dài năm 2020 chuyển sang năm 2021) đạt 43,36% so với kế hoạch vốn chung; trong đó, riêng vốn kế hoạch giao năm 2021 đã giải ngân 1.427,1 tỷ đồng, đạt 39,20% kế hoạch cấp có thẩm quyền giao và đạt 47,07% kế hoạch UBND tỉnh đã phân bổ.

5. Thương mại và dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng Mười Một, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát; hầu hết các hoạt động thương mại, dịch vụ được phép hoạt động; tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch kéo dài người dân gặp khó khăn nên thắt chặt chi tiêu, sức mua trên địa bàn không lớn nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2021 chỉ tăng 2,44% so với tháng trước và giảm 4,55% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2021 ước tính tăng 5,66% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2021 ước tính đạt 2.604,59 tỷ đồng, tăng 2,44% so với tháng trước và giảm 4,55% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.365,18 tỷ đồng, tăng 2,42% và giảm 2,28%; doanh thu lưu trú và ăn uống 170,60 tỷ đồng, tăng 2,53% và giảm 22%; du lịch lữ hành không phát sinh doanh thu; doanh thu dịch vụ khác 68,81 tỷ đồng, tăng 3,04% và giảm 22,73%. Hiện nay, các doanh nghiệp du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh chưa hoạt động trở lại.

Tính chung 11 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 29.787,72 tỷ đồng, tăng 5,66% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 2,96% (cùng kỳ năm 2020 giảm 1,07%). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm nay tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước là do năm nay dịch COVID-19 được kiểm soát tốt hơn, đến cuối tháng Tám dịch mới bùng phát trở lại.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 26.424,93 tỷ đồng, chiếm 88,71% tổng mức và tăng 5,90% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có tổng mức bán lẻ hàng hóa lớn và tăng khá như: gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,70%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 5,12%; lương thực, thực phẩm tăng 5,01%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước tính đạt 2.386,41 tỷ đồng, chiếm 8,01% tổng mức và tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh thu dịch vụ dịch vụ lưu trú 36,22 tỷ đồng, giảm 25,37%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.350,19 tỷ đồng, tăng 3,87%. Doanh thu dịch vụ lưu trú giảm do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên khách đến lưu trú giảm so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 1,52 tỷ đồng, chiếm 0,01% tổng mức và giảm 75,03% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành từ tháng 5/2021 đến nay không phát sinh doanh thu do ảnh hưởng của dịch COVID-19 các doanh nghiệp lữ hành tạm ngừng hoạt động.

Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 974,86 tỷ đồng, chiếm 3,27% tổng mức và tăng 5,70% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Ước tháng 11/2021

( Tỷ đồng)

Ước 11 tháng

năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng mức

(Tỷ đồng)

Cơ cấu

(%)

Tháng 11/2021

11 tháng năm 2021

Tổng số

2.604,59

29.787,72

100,00

95,45

105,66

- Bán lẻ hàng hóa

2.365,18

26.424,93

88,71

97,72

105,90

- Lưu trú và ăn uống

170,60

2.386,41

8,01

78,00

103,26

- Du lịch lữ hành

-

1,52

0,01

-

24,97

- Dịch vụ khác

68,81

974,86

3,27

77,27

105,70

5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Tháng Mười Một, toàn tỉnh tiếp tục thực hiệnphòng chống dịch theo cấp độ 2 quy định tại Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ. Hoạt động vận tải khôi phục trở lại nên vận tải hành khách và hàng hóa có tăng so với tháng trước, nhưng vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, nhất là vận tải hành khách. Số lượt hành khách vận chuyển tháng 11/2021 tăng 1,30% so với tháng trước và giảm 61,19% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 1,26% và giảm 11,15%.Tính chung 11 tháng năm 2021, số lượt hành khách vận chuyển giảm 7,74% so với cùng kỳ năm trước, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 0,09%.

Doanh thu vận tải tháng 11/2021 ước tính đạt 120,75 tỷ đồng, tăng 1,56% so với tháng trước và giảm 24,67% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, doanh thu vận tải hành khách 10,98 tỷ đồng, tăng 1,37% và giảm 63,52%; doanh thu vận tải hàng hóa 95,62 tỷ đồng, tăng 1,25% và giảm 13,30%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 14,15 tỷ đồng, tăng 3,88% và giảm 16,85%. Tính chung 11 tháng năm 2021, doanh thu vận tải ước tính đạt 1.660,62 tỷ đồng, tăng 0,13% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, doanh thu vận tải hành khách 257,30 tỷ đồng, giảm 6,47%; doanh thu vận tải hàng hóa 1.212,79 tỷ đồng, tăng 1,38%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 190,53 tỷ đồng, tăng 1,84%.

Vận tải hành khách và hàng hóa

Ước tháng 11/2021

Ước 11 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm trước

(%)

Tháng 11/2021

11 thángnăm 2021

1. Vận tải hành khách

- Vận chuyển (Nghìn HK)

273,0

6.099,3

38,81

92,26

- Luân chuyển (Nghìn HK.Km)

27.490,4

507.492,6

43,40

91,93

2. Vận tải hàng hóa

- Vận chuyển (Nghìn tấn)

890,3

10.687,7

88,85

100,09

- Luân chuyển (Nghìn tấn.Km)

62.173,9

745.634,0

83.88

101,29

Số lượt hành khách vận chuyển tháng 11/2021 ước tính đạt 273 nghìn HK, tăng 1,30% so với tháng trước và giảm 61,19% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 27.490,4 nghìn HK.km, tăng 0,92% và giảm 56,60%. Tính chung 11 tháng năm 2021, số lượt hành khách vận chuyển ước tính đạt 6.099,3 nghìn HK, giảm 7,74% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 507.492,6 nghìn HK.km, giảm 8,07% (cùng kỳ năm 2020 giảm 11,51% và giảm 15,04%). Vận tải hành khách tháng Mười Một giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do vận tải hành khách liên tỉnh hoạt động còn hạn chế.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 11/2021 ước tính đạt 890,3 nghìn tấn, tăng 1,26% so với tháng trước và giảm 11,15% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 62.173,9 nghìn tấn.km, tăng 0,33% và giảm 16,12%. Tính chung 11 tháng năm 2021, khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tính đạt 10.687,7 nghìn tấn, tăng 0,09% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 745.634 nghìn tấn.km, tăng 1,29% (cùng kỳ năm 2020 tăng 9,59% và tăng 5,28%). Vận tải hàng hóa tháng Mười Một giảm không nhiều so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu hàng hóa cho sản xuất, kinh doanh nội tỉnh tăng.

5.3. Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Tháng Mười Một, thực hiệnphòng chống dịch cấp độ 2 quy định tại Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ, khách lưu trú có tăng so với tháng trước, nhưng chủ yếu là khách nội tỉnh, khách đến công tác, học tập. Riêngdu lịch lữ hành vẫn chưa hoạt động trở lại. Số lượt khách lưu trú tháng 11/2021 ước tính tăng 3,42% so với tháng trước và giảm 38,60% so với cùng kỳ năm trước, khách du lịch theo tour không phát sinh. Tính chung 11 tháng năm 2021, số lượt khách lưu trú giảm 27,98% so với cùng kỳ năm trước; số lượt khách du lịch theo tour giảm 64,02%.

Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Ước tháng 11/2021

Ước 11 tháng năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 11/2021

11 tháng năm 2021

1. Dịch vụ lưu trú

- Lượt khách (Lượt khách)

15.024

226.629

61,40

72,02

- Ngày khách (Ngày khách)

15.743

179.981

66,80

77,21

2. Dịch vụ du lịch lữ hành

- Lượt khách (Lượt khách)

-

1.642

-

35,98

- Ngày khách (Ngày khách)

-

2.340

-

29,29

Số lượt khách lưu trú tháng 11/2021 ước tính đạt 15.024 lượt, tăng 3,42% so với tháng trước và giảm 38,60% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú 15.743 ngày khách, tăng 0,43% và giảm 33,20%; khách du lịch theo tour không phát sinh. Khách lưu trú tháng Mười Một giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do tháng Mười Một năm trước dịch COVID-19 trên phạm vi cả nước được kiểm soát tốt, kinh doanh lưu trú hoạt động bình thường.

Tính chung 11 tháng năm 2021, số lượt khách lưu trú ước tính đạt 226.629 lượt, giảm 27,98% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú 179.981 ngày khách, giảm 22,79% (cùng kỳ năm 2020 giảm 45,08% và giảm 53,70%); số lượt khách du lịch theo tour 1.642 lượt, giảm 64,02%; số ngày khách du lịch theo tour 2.340 ngày khách, giảm 70,71% (cùng kỳ năm 2020 giảm 83,66% và giảm 85,54%).

6.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2021 tăng 0,29% so với tháng trước. Một số yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng so với tháng trước là giá xăng dầu điều chỉnh tăng, giá gas tăng…nhưng vẫn có những yếu tố làm cho giá tiêu dùng tăng chậm lại như: giá thịt lợn giảm, giá điện sinh hoạt giảm…Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2021 tăng 2,79% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2021 tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2021 tăng 0,29% so với tháng trước, tăng 2,79% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 0,29% của chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2021 so với tháng trước, có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,35%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,44%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,74%; giao thông tăng 3,50%. Có 03/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,0,39% (lương thực tăng 0,13%, thực phẩm giảm 0,64%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,05%); văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,33%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,16%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại giá ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2021 tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 tăng 3,38%).

Chỉ số giá vàng tháng 11/2021 tăng 3,03% so với tháng trước, tăng 7,64% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,30% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 11 tháng năm 2021 tăng 13,29% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 tăng 29,62%). Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2021 giảm 0,28% so với tháng trước, giảm 1,87% so với tháng 12 năm trước và giảm 2,03% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 11 tháng năm 2021 giảm 1,41% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 0,50%). Chỉ số giá USD giảm do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm bảo dự trữ ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa.

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

Tháng 11 năm 2021 so với

BQ 11 thángnăm 2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 11/2020

(%)

Tháng 12/2020

(%)

Tháng 10/2021

(%)

1. Chỉ số giá tiêu dùng

102,62

102,79

100,29

102,62

2. Chỉ số giá vàng

105,30

107,64

103,30

113,29

3. Chỉ số giá đô la Mỹ

97,97

98,13

99,72

98,59

7. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Năm 2021, dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh nhưng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 18/11/2021 đạt 134,52% so với dự toán; nhất là thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 281,54%. Chi ngân sách địa phương đạt 80,16% dự toán.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến ngày 18/11/2021 đạt 4.640,94 tỷ đồng, bằng 134,52% dự toán địa phương và tăng 57,50% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa 3.279,49 tỷ đồng, bằng 110,42% dự toán và tăng 27,50%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 1.351,39 tỷ đồng, bằng 281,54% dự toán và tăng 327,40%. Trong thu nội địa, một số khoản thu lớn như: thu tiền sử dụng đất 1.072,56 tỷ đồng, bằng 116,58% dự toán và tăng 21,76% so với cùng kỳ năm trước; thu ngoài quốc doanh 824,61%, bằng 111,13% dự toán và tăng 46,30%; thuế bảo vệ môi trường 379,03 tỷ đồng, bằng 75,81% dự toán và tăng 0,18%; thu phí, lệ phí 269,11 tỷ đồng, bằng 120,89% dự toán và tăng 47,38%; thu từ doanh nghiệp nhà nước 218,12 tỷ đồng, bằng 79,32% dự toán và tăng 1,68%...Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 11 tháng năm 2021 đạt cao so với dự toán và tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước là do năm nay có thêm nguồn thu từ thuế xây dựng cơ bản vãng lai và thuế nhập khẩu linh kiện, thiết bị của các dự án điện gió đang đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 18/11/2021 đạt 7.344,41 tỷ đồng, bằng 80,16% dự toán địa phương và tăng 1,10% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: chi đầu tư phát triển 841,28 tỷ đồng, bằng 60,06% dự toán và tăng 5%; chi thường xuyên 4.351,21 tỷ đồng, bằng 89,26% dự toán và bằng cùng kỳ năm trước. Trong chi thường xuyên, một số khoản chi lớn như: chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề 1.855,45 tỷ đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước; chi quản lý hành chính 1.009,39 tỷ đồng, giảm 3,60%; chi sự nghiệp kinh tế 539,50 tỷ đồng, tăng 0,58%; chi sự nghiệp y tế, dân số và KHH gia đình 466,02 tỷ đồng, giảm 3,06%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội 284,53 tỷ đồng, giảm 12,97%...Chi ngân sách địa phương đạt thấp so với dự toán là do thực hiện chủ trương siết chặt chi tiêu, đặc biệt là chi thường xuyên của Chính phủ.

Thu, chi ngân sách nhà nước

Thực hiện đến 18/11/2021

( Tỷ đồng)

Thực hiện đến 18/11/2021 so với dự toán 2021 (%)

Thực hiện đến 18/11/2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

1. Tổng thu NSNN trên địa bàn

4.640,94

134,52

157,50

TĐ: - Thu nội địa

3.279,49

110,42

127,50

- Thu từ hoạt động XNK

1.351,39

281,54

427,40

2. Tổng chi NSNN địa phương

7.344,41

80,16

101,10

TĐ: - Chi đầu tư phát triển

841,28

60,06

105,00

- Chi thường xuyên

4.351,21

89,26

100,00

8. Một số tình hình xã hội

8.1. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Tháng Mười Một, toàn tỉnh tiếp tục thực hiện phòng chống dịch cấp độ 2 theo quy định tại Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ các hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi và phát triển. Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện với nhiều giải pháp hỗ trợ hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và các gia đình gặp khó khăn đột xuất, khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19…nên tình hình thiếu đói trong dân trong tháng Mười Một và 11 tháng năm 2021 không xảy ra.

Kết quả thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, đến ngày 16/11/2021, có 28.809 lao động được hỗ trợ với số tiền 7.601,4 triệu đồng; 1.565 đơn vị sử dụng lao động được hỗ trợ với số tiền 2.048,3 triệu đồng; 553 người dân được hỗ trợ với số tiền 883,7 triệu đồng. Tổng số kinh phí đã hỗ trợ 10.533,4 triệu đồng.

Tiếp tục thực hiện Nghị Quyết 116/NQ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp đến cho các đơn vị. Đến ngày 18/11/2021 có 30.790 lao động đề nghị hỗ trợ. Số lao động đã được cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết chi trả là 29.209 lao động với số tiền 71.041,8 triệu đồng.

Kết quả vận động ủng hộ các nguồn lực phòng chống dịch COVID-19 (tính từ 01/5/2021 đến ngày 15/11/2021): Số tiền vận động được 27.113,5 triệu đồng, trong đó, cấp tỉnh 10.352,1 triệu đồng; cấp huyện 16.761,42 triệu đồng. Số tiền phân bổ, sử dụng là 20.172,13 triệu đồng, trong đó, cấp tỉnh 7.049,34 triệu đồng; cấp huyện 13.122,79 triệu đồng. Hiện vật đã tiếp nhận gần 2.000 tấn hàng hóa, nhu yếu phẩm các loại, trị giá ước tính trên 17.000 triệu đồng.

8.2. Giáo dục và Đào tạo

Nhằm khơi dậy và phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam; động viên, tôn vinh những đóng góp của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong sự nghiệp “Trồng người”; tạo động lực đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” trong các cơ sở giáo dục đảm bảo thích ứng, linh hoạt với tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, khó lường, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học 2021 - 2022, Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn các đơn vị, trường học tổ chức các hoạt động kỷ niệm 39 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2021) một cách linh hoạt, nhân văn, an toàn và tiết kiệm đảm bảo các nguyên tắc phòng chống dịch trong tình hình mới.

Tổ chức Kỳ thi học sinh giỏi văn hóa lớp 12 Trung học phổ thông và kết hợp chọn đội tuyển dự thi Quốc gia.

Tổ chức Hội thảo nâng cao chất lượng giáo dục trung học trên địa bàn huyện Hướng Hóa và Đakrông; tổ chức Ngày hội giao lưu tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; Ngày hội giao lưu tiếng Anh cấp tiểu học cấp tỉnh.

Trước ngày 09/11/2011, trên địa bàn tỉnh có 9/10 huyện, thị xã tổ chức hoạt động giáo dục trực tiếp, riêng thành phố Đông Hà chuyển sang hình thức hoạt động giáo dục trực tuyến nhằm đảm bảo công tác phòng chống dịch. Đến ngày 15/11/2021, tất cả các lớp học ở các cấp học trên địa bàn tỉnh đều tổ chức hoạt động giáo dục trực tiếp.

8.3. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm

* Tình hình dịch COVID-19

Trong tháng Mười Một, tình hình dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh đang có diễn biến phức tạp, số ca bệnh trong cộng đồng đang tăng, nguồn lây từ người dân ở các tỉnh trở về cách ly tại nhà. Trên địa bàn tỉnh hiện đang áp dụng các biện pháp phòng chống dịch theo Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ, có 9/10 huyện thị là cấp độ 2 và 1/10 huyện thị là cấp độ 1 (huyện đảo Cồn Cỏ).

Tính từ đầu năm đến 14h ngày 21/11/2021 đã ghi nhận 784 ca bệnh COVID-19, trong đó có 405 ca bệnh trong tỉnh (203 ca mắc phát hiện trong cộng đồng); có 01 trường hợp tử vong. Hiện còn 253 ca bệnh đang được điều trị tại cơ sở y tế, 315 trường hợp đang cách ly tại cơ sở y tế (bao gồm cả ca bệnh), 973 trường hợp đang cách ly tập trung và 3.424 trường hợp đang cách ly tại nhà, tại nơi lưu trú.

Tính đến 18h ngày 21/11/2021, toàn tỉnh có 421.716 người đã được tiêm vắc xin. Số người đã tiêm mũi 1 là 226.052 người và tiêm đủ 2 mũi là 195.124 người. Tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên được tiêm ít nhất 01 liều Vắc xin phòng COVID-19 đạt tỷ lệ 94,94%, 2 liều là 43,98%. Toàn tỉnh có 41 cơ sở cách ly tập trung, 05 cơ sở đang điều trị bệnh nhân COVID-19, 138 điểm tiêm chủng chính thức và 05 điểm tiêm chủng tư nhân dự phòng nếu cần.

* Tình hình dịch bệnh khác

Trong tháng Mười Một, trên địa bàn tỉnh có 428 trường hợp mắc bệnh cúm, 02 trường hợp mắc bệnh lỵ Amip, 13 trường hợp mắc bệnh lỵ trực trùng, 04 trường hợp mắc bệnh quai bị, 03 trường hợp mắc bệnh thủy đậu, 91 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy, 07 trường hợp mắc bệnh viêm gan virut, 05 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết…Tính chung 11 tháng năm 2021, trên địa bàn tỉnh có 5.239 trường hợp mắc bệnh cúm, giảm 26,68% so với cùng kỳ năm trước; có 111 trường hợp mắc bệnh lỵ Amip, giảm 31,48%; có 247 trường hợp mắc bệnh lỵ trực trùng, giảm 42,56%; có 19 trường hợp mắc bệnh quai bị, giảm 83,90%; có 216 trường hợp mắc bệnh thuỷ đậu, tăng 27,81%; có 1.291 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy, giảm 6,79%; 130 trường hợp mắc bệnh viêm gan virut, giảm 2,99%; 01 trường hợp mắc sốt rét, giảm 98,28%; 79 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 95,34%; 38 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, giảm 57,30%...Nhìn chung 11 tháng năm 2021, hầu hết các loại bệnh dịch xảy ra trên địa bàn tỉnh đều giảm; không có trường hợp tử vong do dịch bệnh.

* Tình hình nhiễm HIV/AIDS

Trong tháng, không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới. Tính đến nay, số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị là 265 người (số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 11 trẻ, số bà mẹ mang thai nhiễm HIV sinh con là 40 bà mẹ). Số bệnh nhân tử vong do AIDS toàn tỉnh tính đến thời điểm trên là 99 người.

* Tình hình ngộ độc thực phẩm

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm lớn. Tính chung 11 tháng năm 2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (huyện Vĩnh Linh) làm 19 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong.

8.4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Cùng cả nước hướng về Lễ tưởng niệm đồng bào tử vong và cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong đại dịch COVID-19; dừng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí trong thời điểm tổ chức Lễ tưởng niệm.

Tập luyện các tiết mục biểu diễn phục vụ Chương trình nghệ thuật bài chòi nhân dịp kỷ niệm ngày Di sản Việt Nam 23/11/2021. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lễ hội Ariêuping của người Tà Ôi (Pa Cô) ở Quảng Trị.

Thành lập đoàn thể thao tham gia giải Rowing và Canoeing vô địch Quốc gia tại thành phố Hải Phòng năm 2021.

Chuẩn bị cho Lễ khai mạc, bế mạc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Trị lần thứ VIII, năm 2021 – 2022.

Duy trì công tác đào tạo, huấn luyện vận động viên các bộ môn tập luyện theo kế hoạch, chủ động tham gia các giải đấu thể thao thành tích cao.

8.5. Thiệt hại thiên tai, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng Mười Một, trên địa bàn tỉnh không có thiên tai lớn xảy ra.

Công tác phòng chống cháy nổ trên địa bàn tỉnh trong tháng 11/2021 đảm bảo an toàn, không có vụ cháy nào xảy ra. Tính chung từ đầu năm đến nay có 90 vụ cháy xảy ra, giảm 21,05% (-24 vụ ) so với cùng kỳ năm trước. Đã điều tra làm rõ 82 vụ, trong đó có 25 vụ do sự cố hệ thống thiết bị điện; 44 vụ do sơ suất trong sử dụng lửa; 09 vụ do đốt thực bì, đốt rác, thắp hương gây cháy lan; 04 vụ do nguyên nhân khác. Thiệt hại về người: 04 người chết và 03 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 25.294 triệu đồng, tăng 303,18%.

Trong tháng, đã phát hiện và xử lý 21 vụ vi phạm môi trường; số tiền xử phạt 253,5 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay, phát hiện và xử lý 219 vụ vi phạm môi trường, tăng 15,26% (+ 29 vụ) so với cùng kỳ năm trước; số tiền xử phạt là 1.678,5 triệu đồng, tăng 203,80%.

8.6. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, trong tháng 11/2021 (Từ 15/10/2021 đến 14/11/2021) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, làm chết 10 người, bị thương 08 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông tăng 36,36% (+04 vụ), số người chết tăng 42,86% (+03 người), số người bị thương giảm 11,11% (-01 người). So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông tăng 7,14% (+01 vụ), số người chết tăng 11,11% (+01 người), số người bị thương bằng cùng kỳ năm trước. Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông trong tháng, đường bộ xảy ra 14 vụ, làm chết 09 người, bị thương 08 người; đường thủy xảy ra 01 vụ, làm chết 01 người.

Tính chung 11 tháng năm 2021 (Từ 15/12/2020 đến 14/11/2021) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 171 vụ tai nạn giao thông, làm chết 96 người, bị thương 130 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 25,74% (+35 vụ), số người chết tăng 12,94% (+11 người); số người bị thương tăng 54,76% (+46 người). Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông 11 tháng năm 2021, đường bộ xảy ra 167 vụ, làm chết 93 người, bị thương 130 người; đường sắt xảy ra 03 vụ, làm chết 02 người; đường thủy xảy ra 01 vụ, làm chết 01 người.

Nhìn chung, tình hình trật tự an toàn giao thông 11 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh diễn biến rất phức tạp, tăng cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương. Các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm./.


Cục Thống kê tỉnh Quảng Trị

  • Tổng số lượt xem: 143
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.