Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ năm, ngày 7 tháng 7 năm 2022
English
a A
Ngày 03/01/2022-10:06:00 AM
Tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2021 của tỉnh Quảng Trị

Năm 2021, là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030. Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của năm 2021 có ý nghĩa hết sức quan trọng, là tiền đề và động lực cho việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của những năm tiếp theo.

Tỉnh Quảng Trị bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 trong bối cảnh kinh tế thế giới có những tín hiệu tích cực khi các quốc gia triển khai mạnh mẽ chiến lược tiêm chũng vắc-xin phòng COVID-19 đã giúp giảm nhanh số ca lây nhiễm và tử vong. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các tổ chức quốc tế khác đưa ra dự báo về triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu khoảng 5,7-6% trong năm 2021. Thương mại toàn cầu tiếp tục phục hồi nhưng có xu hướng chậm dần, giá nhiều mặt hàng tăng mạnh so với năm 2020, lạm phát gia tăng nhưng nhìn chung vẫn được kiểm soát trên toàn thế giới. Ngoài ra, đại dịch COVID-19 đã gây tắc nghẽn trong chuỗi giá trị toàn cầu làm cho giá nguyên liệu sản xuất tăng là thách thức không nhỏ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các quốc gia. Ở trong nước, tiếp nối kết quả đã đạt được của năm 2020, những tháng đầu năm 2021, kinh tế vĩ mô nước ta tiếp tục ổn định và bắt đầu khởi sắc. Tuy nhiên, làn sóng dịch COVID-19 bùng phát từ cuối tháng Tư với biến chủng mới có tốc độ lây lan nhanh chóng, nguy hiểm, diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, đặc biệt tại các tỉnh, thành phố kinh tế trọng điểm đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe, tính mạng của người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tại Quảng Trị, thời tiết năm nay khá thuận lợi; dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát, các ngành kinh tế đang trên đà phục hồi và phát triển; thu ngân sách trên địa bàn và thu hút đầu tư đạt kết quả khả quan. Tuy nhiên, cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: hậu quả của thiên tai, lũ lụt năm 2020 còn nặng nề; dịch COVID-19 trong nước và trên thế giới diễn biến phức tạp làm cho chuổi cung ứng sản xuất và tiêu thụ bị thu hẹp; trên địa bàn tỉnh từ cuối tháng Tám dịch COVID-19 bùng phát trở lại đã ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân; nhiều dự án đầu tư lớn trên địa bàn nhà đầu tư chậm triển khai theo cam kết; một bộ phận dân cư gặp khó khăn do ảnh hưởng thiên tai, dịch bệnh…Trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen, UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt các Sở, ban ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong trong Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ; Kết luận số 05-KL/TU ngày 03/12/2020 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 83/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị quý IV và năm 2021 đạt được những kết quả như sau:

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2021 ước tính tăng 6,50% so với năm trước, cao hơn tốc độ tăng 3,65% của năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của 3 năm trước đó. Năm 2021, trong bối cảnh hậu quả lũ lụt năm 2020 còn nặng nề; dịch COVID-19 bùng phát trở lại đã tác động tiêu cực đến các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội…thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 6,50% là thắng lợi rất lớn của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế”. Trong mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,02%, đóng góp 0,65 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 14,75%, đóng góp 3,70 điểm %; khu vực dịch vụ tăng 3,66%, đóng góp 1,79 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,18%, đóng góp 0,36 điểm %.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,02%, cao hơn mức tăng 1,76% của năm 2020, nhưng cũng thấp hơn tốc độ tăng của 3 năm trước đó. Năm 2021,ngành nông nghiệp vụ Đông Xuân được mùa toàn diện, năng suất lúa cao nhất từ trước đến nay; chăn nuôi tăng trưởng khá do đàn lợn phục hồi nhanh, đàn gia cầm phát triển tốt; riêng ngành lâm nghiệp và thủy sản chỉ duy trì ở mức ổn định. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 4,52%, đóng góp 0,64 điểm % vào mức tăng trưởng chung; ngành lâm nghiệp tăng 0,17%, đóng góp 0,01 điểm %; ngành thủy sản tăng 0,06%, đóng góp không đáng kể.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,75%, là mức tăng cao nhất của khu vực này trong 10 năm trở lại đây. Năm 2021, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát; từ cuối tháng Tám dịch bùng phát trở lại nhưng thực hiện giãn cách xã hội có trọng tâm, trọng điểm đã hạn chế ảnh hưởng đến chuổi cung ứng sản xuất và tiêu thụ ngành công nghiệp; vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt kết quả khả quan, nhất là vốn đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo; năm nay có nhiều dự án điện gió, điện mặt trời hoàn thành đi vào hoạt động…đã tác động tích cực đến tăng trưởng của ngành xây dựng, sản xuất và phân phối điện…nên khu vực này tăng khá. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,88%, đóng góp 0,92 điểm % vào mức tăng trưởng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,22%, đóng góp 0,47 điểm %; ngành khai khoáng tăng 8,37%, đóng góp 0,09 điểm %; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,93%, đóng góp 0,01 điểm %; ngành xây dựng tăng 17,84%, đóng góp 2,22 điểm %.

Khu vực dịch vụ tăng 3,66%, cao hơn mức tăng 2,26% của năm 2020 nhưng là mức tăng thấp nhất của khu vực này trong 10 năm trở lại đây. Năm nay, trên địa bàn tỉnh dịch COVID-19 bùng phát trở lại từ cuối tháng Tám; tỉnh đã thực hiện giãn cách xã hội có trọng tâm, trọng điểm nên một số hoạt động không thiết yếu có bị ảnh hưởng nhưng không nhiều. Tuy nhiên, dịch COVID-19 trên phạm vi cả nước diễn biến phức tạp nên các hoạt động lưu trú, du lịch lữ hành, vận tải hành khách… bị ảnh hưởng nặng nề. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,74%, đóng góp 0,46 điểm % vào mức tăng trưởng chung; thông tin và truyền thông tăng 4,36%, đóng góp 0,38 điểm %; bán buôn và bán lẻ tăng 3,09%, đóng góp 0,29 điểm %; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,61%, đóng góp 0,19 điểm %...Ngược lại, một số ngành do ảnh hưởng của dịch COVID-19 tăng trưởng âm, làm giảm tốc độ tăng trưởng chung như: dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 5,90%, làm giảm 0,16 điểm %; hoạt động dịch vụ khác giảm 3,79%, làm giảm 0,04 điểm %; vận tải kho bãi giảm 0,28%, làm giảm 0,01 điểm %.

Về cơ cấu kinh tế năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 21,42%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 27,54%; khu vực dịch vụ chiếm 46,59%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,45% (cơ cấu tương ứng của năm 2020 là: 21,92%; 25,45%; 48,24%; 4,39%).

Quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2021 ước tính đạt 36.808,5 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2021 ước tính đạt 56,8 triệu đồng. Tính theo giá so sánh, GRDP bình quân đầu người năm 2021 ước tính tăng 4,79% so với năm 2020.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

Năm 2020

Ước 2021

Tổng sản phẩm trên địa bàn

7,06

7,24

7,97

3,65

6,50

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản

3,47

5,20

6,11

1,76

3,02

- Công nghiệp và xây dựng

10,70

9,83

14,33

8,04

14,75

- Dịch vụ

6,95

7,19

6,29

2,26

3,66

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp SP

9,48

5,34

3,97

4,67

8,18

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 đạt tốc độ tăng trưởng khá chủ yếu nhờ sản xuất cây hàng năm vụ Đông Xuân được mùa toàn diện; chăn nuôi lợn phục hồi nhanh, chăn nuôi gia cầm phát triển tốt do dịch bệnh ít xảy ra. Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 (GSS2010) ước tính đạt 4.402 tỷ đồng, tăng 3,02% so với năm trước; trong đó, nông nghiệp 2.941,1 tỷ đồng, tăng 4,52%; lâm nghiệp 799,8 tỷ đồng, tăng 0,17%; thủy sản 661,1 tỷ đồng, tăng 0,06%.

2.1. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp năm 2021, bước vào sản xuất vụ Đông Xuân gặp một số khó khăn: gần 1.360 ha đất sản xuất nông nghiệp bị bồi lấp, nhiều công trình giao thông, thủy lợi nội đồng bị hư hỏng do ảnh hưởng của lũ lụt cuối năm 2020 cần phải khắc phục để sản xuất. Tuy nhiên, vụ Đông Xuân thời tiết tương đối thuận lợi, chủ động được nguồn nước, sâu bệnh ít phát sinh nên năng suất hầu hết các loại cây trồng đều cao hơn năm trước; đặc biệt, năng suất lúa cao nhất từ trước đến nay ở mức 61tạ/ha.Vụ Hè Thu thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ cao, gió Tây Nam thổi mạnh gây hạn hán đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, nhất là cây lúa trong thời kỳ làm đòng và trổ bông đã ảnh hưởng đến quá trình kết hạt; hơn nữa, do ảnh hưởng của bảo số 5 một số diện tích lúa gieo cấy muộn bị gãy đổ, ngập úng làm giảm năng suất lúa Hè Thu. Đối với cây lâu năm, cây tiêu do ảnh hưởng của lũ lụt năm 2020 và dịch bệnh một số diện tích tiêu bị chết; cây cà phê năm trước giá giảm sâu, bà con không đầu tư chăm sóc nên năng suất giảm. Ngành chăn nuôi tăng trưởng khá do chăn nuôi lợn phục hồi nhanh, chăn nuôi gia cầm dịch bệnh ít xảy ra nên phát triển tốt.

a. Trồng trọt

a1. Cây hàng năm

* Tiến độ sản xuất nông nghiệp đến ngày 15/12/2021

Tính đến ngày 15/12/2021, toàn tỉnh đã gieo trồng 82.122,9 ha cây hàng năm, tăng 0,69% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cây lúa gieo cấy 50.246,9 ha lúa, giảm 0,81% (lúa Đông Xuân 25.944,6 ha, giảm 0,59%; lúa Hè Thu 22.580,3 ha, giảm 0,13%; lúa Mùa 1.722 ha, giảm 11,76%); cây ngô gieo trồng 4.385,6 ha, tăng 14,64%; khoai lang 1.512,3 ha, giảm 13,90%; sắn 12.438 ha, tăng 3,56%; lạc 3.289,4 ha, tăng 2,36%; rau các loại 5.350,6 ha, tăng 6,61%; đậu các loại 1.624,1 ha, tăng 2,45%...Diện tích gieo cấy lúa giảm chủ yếu là do lúa Mùa giảm mạnh. Lúa Mùa chủ yếu là lúa nương rẩy thuộc hai huyện miền núi, hiện nay do đất nương rẩy bị bạc màu trồng lúa kém hiệu quả nên các địa phương chuyển sang trồng sắn, cao su...; cây khoai lang giảm mạnh do sản xuất kém hiệu quả chuyển sang trồng các loại cây khác.

Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm chủ yếu

Ước thực hiện đến15/12/2021

(Ha)

Ước thực hiện đến15/12/2021 so với cùng kỳ năm trước (%)

- Lúa

50.246,9

99,19

+ Lúa Đông Xuân

25.944,6

99,41

+ Lúa Hè Thu

22.580,3

99,87

+ Lúa Mùa

1.922,0

88,24

- Ngô

4.385,6

114,64

- Khoai lang

1.512,3

86,10

- Sắn

12.438,0

103,56

- Lạc

3.289,4

102,36

- Rau các loại

5.350,6

106,61

- Đậu các loại

1.624,1

102,45

* Kết quả sản xuất cây hàng năm năm 2021

Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 55,6 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với năm trước; trong đó, năng suất lúa Đông Xuân đạt 61 tạ/ha cao nhất từ trước đến nay, tăng 2,3 tạ/ha so với vụ Đông Xuân năm trước; năng suất lúa Hè Thu đạt 52,8 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha so với vụ Hè Thu năm trước; năng suất lúa Mùa ước tính đạt 10,6 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với vụ Mùa năm trước. Năng suất ngô ước tính đạt 34,5 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha; năng suất khoai lang 81,1 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha; năng suất sắn 159,9 tạ/ha, giảm 7,9 tạ/ha; năng suất lạc 23,6 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha; năng suất rau các loại 106,2 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha; năng suất đậu các loại 11,3 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha…Năng suất lúa Đông Xuân năm nay đạt cao nhất từ trước đến nay ngoài yếu tố thời tiết thuận lợi, chủ động nguồn nước, sâu bệnh ít gây hại còn là kết quả của việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả. Năng suất lúa Hè Thu giảm chủ yếu là do ảnh hưởng của thời tiết.

Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2021 ước tính đạt 294.438,9 tấn, tăng 1,73% (+4.997,9 tấn) so với năm trước; trong đó, lúa 279.318 tấn, tăng 1,04%; ngô 15.118,4 tấn, tăng 16,40%. Sản lượng khoai lang ước tính đạt 12.266 tấn, giảm 14,39%; sắn 199.068,9 tấn, giảm 1,20%; lạc 7.755 tấn, tăng 13,59%; rau các loại 56.802,1 tấn, tăng 8,79%; đậu các loại 1.835,9 tấn, tăng 13,41%...

a2. Cây lâu năm

Sản xuất cây lâu năm năm 2021 chỉ có cây cao su giá bán sản phẩm tăng,người dân đầu tư chăm sóc, tăng cường khai thác nên sản lượng tăng; cây tiêu giá bán sản phẩm có tăng nhưng mất mùa do ảnh hưởng của bão lũ cuối năm 2020 và dịch bệnh nên sản lượng giảm. Riêng cây cà phê, chuối, dứa…giá bán sản phẩm và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, người dân không đầu tư nên chậm phát triển.

Tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.991,9 ha, giảm 3,36% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó: cây cao su 18.820,3ha, giảm 1,18%; cây cà phê 4.042,9ha, giảm 8,80%; cây hồ tiêu 2.192,4ha, giảm 13,23%; câychuối 4.142,1ha, giảm 3,97%; câydứa 256,3ha, giảm 26,71%...Diện tích cao su giảm do một số vùng cây cao su phát triển kém nên người dân phá bỏ chuyển sang trồng rừng; diện tích cây hồ tiêu giảm do ảnh hưởng bão lũ và dịch bệnh làm cho một số diện tích hồ tiêu bị chết; diện tích cà phê, chuối, dứa…giảm do giá bán sản phẩm và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định nên người dân chuyển sang trồng cây khác.

Sản lượngthu hoạch năm 2021, cao su 19.978,9 tấn, tăng 5,58% so với năm trước; cây cà phê 3.912,4 tấn, giảm 15,84%; hồ tiêu 1.415,9 tấn, giảm 47,27%; chuối 61.240,9 tấn, giảm 12,47%; dứa 2.060,1 tấn, giảm 30,05%...Cây cà phê, hồ tiêu, chuối, dứa…diện tích giảm và năng suất giảm nên sản lượng giảm; riêng cây cao su do giá bán tăng, người dân tăng cường khai thác nên sản lượng tăng.

b. Chăn nuôi

Ngành chăn nuôi năm 2021 bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh viêm da nổi cục trâu bò, dịch tả lợn châu Phi phát sinh trở lại…Ước tính đến 31/12/2021, đàn trâu có 21.710 con, giảm 0,06% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 55.650 con, tăng 0,38%; đàn lợn có 172.692 con, tăng 10,87%; đàn gia cầm có 3.647 nghìn con, giảm 1,96%, trong đó: đàn gà 2.816,9 nghìn con, giảm 2,30%. Hiện nay đàn trâu, bò duy trì ở mức ổn định, phát triển theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng đàn; chăn nuôi lợn phục hồi nhanh, chăn nuôi gia cầm phát triển tốt nhưng do giá thức ăn chăn nuôi tăng, giá bán sản phẩm giảm và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định nên có xu hướng chững lại.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 12/2021 ước tính đạt 4.196 tấn, tăng 15,31% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu hơi 76 tấn, tăng 2,15%; thịt bò hơi 247,9 tấn, tăng 2,69%; thịt lợn hơi 2.592,9 tấn, tăng 14,04%; thịt gia cầm hơi 1.279,2 tấn, tăng 21,89%. Sản lượng trứng gia cầm 3.712,6 nghìn quả, tăng 10,99%. Tính cả quý IV/2021, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 12.517,4 tấn, tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu hơi 228 tấn, tăng 2,15%; thịt bò hơi 743,8 tấn, tăng 2,72%; thịt lợn hơi 7.703,9 tấn, tăng 14,07%; thịt gia cầm hơi 3.764,6 tấn, tăng 21,72%. Sản lượng trứng gia cầm 11.137,7 nghìn quả, tăng 10,98%. Tính chung năm 2021, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 48.103,6 tấn, tăng 25,46% so với năm trước; trong đó: thịt trâu hơi 925 tấn, tăng 0,52%; thịt bò hơi 2.989,7 tấn, tăng 2,21%; thịt lợn hơi 28.181 tấn, tăng 30,18%; thịt gia cầm hơi 15.649,9 tấn, tăng 21,54%. Sản lượng trứng gia cầm 47.695,5 nghìn quả, tăng 6,66%.

Tình hình dịch bệnh:Tính đến 15/12/2021, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 09/10 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh với tổng số 4.805 con bị bệnh chết, buộc chôn hủy; trọng lượng tiêu hủy 237 tấn. Đến 15/12/2021, trên địa bàn tỉnh còn 36 xã, phường, thị trấn của 07 huyện, thị xã còn gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày.

Sản phẩm chăn nuôi

Ước quý IV/2021

Ước

năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Quý IV/2021

Năm 2021

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Tấn)

12.517,4

48.103,6

114,90

125,46

- Thịt trâu hơi

228,0

925,0

102,15

100,52

- Thịt bò hơi

743,8

2.989,7

102,72

102,21

- Thịt lợn hơi

7.703,9

28.181,0

114,07

130,18

- Thịt gia cầm hơi

3.764,6

15.649,9

121,72

121,54

Trứng (1000 quả)

11.137,7

47.695,5

110,98

106,66

2.2. Lâmnghiệp

Sản xuất lâm nghiệp năm 2021, thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm chế biến bị thu hẹp do tác động tiêu cực của dịch COVID-19 nên chỉ duy trì ở mức ổn định. Hiện nay, tỉnh đang tập trung phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững; nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất; nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến…

Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 12/2021 ước tính đạt 235 ha, giảm 35,26% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 70 nghìn cây, giảm 24,97%; sản lượng gỗ khai thác 77.500 m3, tăng 106,67%; sản lượng củi khai thác 11.360 ster, tăng 190,91%...Tính cả quý IV/2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 4.047 ha, giảm 10,18% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 312 nghìn cây, giảm 60,67%; sản lượng gỗ khai thác 159.846 m3, giảm 0,10%; sản lượng củi khai thác 29.250 ster, giảm 8,60%...Tính chung năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 9.893 ha, giảm 0,17% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 2.702 nghìn cây, tăng 10,59%; sản lượng gỗ khai thác 951.000 m3, tăng 1,33%; sản lượng củi khai thác 161.000 ster, tăng 6,55%...

Trồng rừng và khai thác lâm sản

Ước quý IV/2021

Ước năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Quý IV/2021

Năm 2021

1. Trồng rừng tập trung (Ha)

4.047

9.893

89,82

99,83

2. Số cây LN trồng phân tán (1000 C)

312

2.702

39,33

110,59

2. Sản lượng gỗ khai thác (M3)

159.846

951.000

99,90

101,33

3. Sản lượng củi khai thác (Ster)

29.250

161.000

91,40

106,55

2.3. Thủy sản

Sản xuất thủy sản năm 2021, thời tiết khá thuận lợi cho đánh bắt thủy sản; tuy nhiên, do thiếu lao động một số tàu đánh bắt hải sản không hoạt động nên sản lượng thủy sản khai thác tăng không đáng kể. Năm nay, khai thác thủy sản ngư dân được mùa mực, ruốc biển, ghẹ…nhưng mất mùa cá, tôm…các luồng cá thu, cá ngừ ít xuất hiện hơn. Nuôi trồng thủy sản diện tích quy mô nhỏ, sản lượng năm nay tăng khá nhờ sản lượng tôm nuôi tăng cao.

Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2021 ước tính đạt 3.490,7 ha, giảm 0,05% so với năm trước; trong đó, nuôi cá 2.192 ha, tăng 1,86%; nuôi tôm 1.269 ha, giảm 3,20%; nuôi thủy sản khác 29,7 ha, tăng 1,37%.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 12/2021 ước tính đạt 1.767,8 tấn, tăng 11,32% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, cá 1.220,8 tấn, tăng 5,42%; tôm 247 tấn, tăng 5,11%; thủy sản khác 300 tấn, tăng 53,85%. Tính cả quý IV/2021, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 4.223 tấn, giảm 0,50% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm, cá 2.830,7 tấn, giảm 10,11%; tôm 733,2 tấn, tăng 39,23%; thủy sản khác 659,1 tấn, tăng 15,92%. Tính chung năm 2021, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 36.078,5 tấn, tăng 2,96% so với năm trước; bao gồm, cá 23.657,5 tấn, giảm 4,26%; tôm 5.697 tấn, tăng 14,87%; thủy sản khác 6.724 tấn, tăng 25,20%. Trong tổng sản lượng thủy sản:

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 12/2021 ước tính đạt 318,9 tấn, giảm 6,48% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 78,9 tấn, giảm 34,79%; tôm 240 tấn, tăng 9,09%. Tính cả quý IV/2021, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 1.189,8 tấn, tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 481,8 tấn, giảm 14,21%; tôm 705 tấn, tăng 48,39%. Tính chung năm 2021, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 8.767,5 tấn, tăng 11,26% so với năm trước; trong đó, cá 3.317,5 tấn, tăng 4,32%; tôm 5.420 tấn, tăng 16,66%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay tăng khá chủ yếu do sản lượng tôm tăng cao.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 12/2021 ước tính đạt 1.448,9 tấn, tăng 16,19% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 1.141,9 tấn, tăng 10,12%; thủy sản khác 300 tấn, tăng 53,85%. Tính cả quý IV/2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 3.033,2 tấn, giảm 4,42% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, cá 2.348,9 tấn, giảm 9,22%; thủy sản khác 656,1 tấn, tăng 22,73%. Tính chung năm 2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 27.311 tấn, tăng 0,56% so với năm trước; trong đó, cá 20.340 tấn, giảm 5,53%; thủy sản khác 6.694 tấn, tăng 25,91%.

Sản lượng thủy sản

Ước quý IV/2021

Ước năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Quý IV/2021

Năm 2021

Tổng sản lượng thủy sản (Tấn)

4.223,0

36.078,5

99,50

102,96

1. Chia theo loại thủy sản

- Cá

2.830,7

23.657,5

89,89

95,74

- Tôm

733,2

5.697,0

139,23

114,87

- Thủy sản khác

659,1

6.724,0

115,92

125,20

2. Chia theo nuôi trồng, khai thác

- Nuôi trồng

1.189,8

8.767,5

111,12

111,26

- Khai thác

3.033,2

27.311,0

95,58

100,56

Dịch bệnh nuôi trồng thủy sản:Năm 2021, dịch bệnh trên tôm nuôi đã xảy ra tại địa bàn 04 xã, phường của huyện Vĩnh Linh và TP Đông Hà với tổng diện tích bị bệnh là 20,29 ha; trong đó, 0,7 ha bị bệnh đốm trắng, 19,59ha bị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính. Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã kịp thời cấp Chlorine hỗ trợ dập dịch nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.

3. Sản xuất công nghiệp

Năm 2021, trên địa bàn tỉnh dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát, tỉnh đã thực hiện giãn cách xã hội có trọng tâm, trọng điểm; từ quý IV/2021 áp dụng các biện pháp phòng chống dịch theo cấp độ 2 của Nghị quyết 128/NQ-CP nên sản xuất công nghiệp phục hồi và phát triển tốt; hơn nữa, năm nay trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án điện gió, điện mặt trời hoàn thành đi vào vận hành nên sản xuất công nghiệp đã có những tín hiệu tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý IV/2021 ước tính tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 9,68% so với năm trước, cao hơn mức tăng 4,71% của năm 2020.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12/2021 ước tính tăng 7,13% so với tháng trước và tăng 11,59% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm trước ngành khai khoáng tăng 3,51%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,82%; sản xuất và phân phối điện tăng 31,14%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,59%.

Tính cả quý IV/2021, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành khai khoáng tăng 1,80%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,12%; sản xuất và phân phối điện tăng 35,15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,63%. Ngành sản xuất và phân phối điện quý IV/2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do năm nay có một số dự án điện gió hoàn thành đi vào vận hành trước 01/11 để hưởng giá ưu đãi.

Tính chung năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 9,68% so với năm trước; trong đó: ngành khai khoáng tăng 4,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,46%; sản xuất và phân phối điện tăng 22,04%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,10%. Năm 2021, ngành sản xuất và phân phối điện tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay do tình hình thu hút đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo đạt kết quả hết sức khả quan.

Chỉ số sản xuất công nghiệp

ĐVT:%

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

Năm 2020

Ước 2021

Toàn ngành công nghiệp

115,04

109,16

109,76

104,71

109,68

- Khai khoáng

108,52

111,12

103,14

102,02

104,79

- Công nghiệp chế biến, chế tạo

115,73

107,39

108,74

104,96

107,46

- Sản xuất và phân phối điện

116,90

117,41

118,64

105,26

122,04

- Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải, nước thải

103,80

108,91

102,95

100,67

102,10

Trong ngành công nghiệp cấp 2, các ngành có chỉ số sản xuất năm 2021 so với năm trước tăng cao hơn chỉ số chung là: dệt tăng 91,97%; sản xuất và phân phối điện tăng 22,04%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 17,17%;khai khoáng khác tăng 14,97%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,60%; sản xuất đồ uống tăng 13,33%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,42%. Ngược lại, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm: sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 2,01%; khai thác quặng kim loại giảm 2,13%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 2,41%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 3,28%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 10,65%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 10,65%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 27,45%; sản xuất da và sản phẩm có liên quan giảm 43,06%. Các ngành có chỉ số sản xuất tăng cao do năng lực sản xuất tăng thêm hoặc đảm bảo được nguyên vật liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ ổn định. Các ngành có chỉ số sản xuất giảm do chuổi cung ứng sản xuất và tiêu thụ bị thu hẹp ảnh hưởng của dịch COVID-19.

Một số sản phẩm chủ yếu trong năm 2021 so với năm trước tăng cao: dầu nhựa thông ước tính tăng 56,32%; ván ép tăng 37,68%; gạch khối bằng xi măng, bê tông tăng 33,95%; điện sản xuất tăng 26,79%; gỗ cưa hoặc xẻ tăng 23,19%; săm dùng cho xe máy, xe đạp tăng 19,16%; đá xây dựng tăng 15,99%...Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm trước: xi măng giảm 0,26%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 6,33%; quặng titan và tinh quặng titan khác giảm 7,42%; thủy hải sản chế biến giảm 11,44%...

4. Hoạt động của doanh nghiệp

Năm 2021, trên địa bàn tỉnh số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 5,57% so với năm trước, nhưng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 51,92% cho thấy tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đã phục hồi.

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư, tháng 12/2021 (Từ 01/12-15/12), toàn tỉnh có 24 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 404,4 tỷ đồng, số vốnđăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 16,85 tỷ đồng. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 06 doanh nghiệp; số doanh nghiệp giải thể là05 doanh nghiệp; số doanh nghiệp trở lại hoạt động là 07 doanh nghiệp.

Tính chung từ đầu năm đến 15/12/2021, toàn tỉnh có 441 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 5,57% so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 13.237,1 tỷ đồng, tăng 60,86%; số vốnđăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 30,02 tỷ đồng, tăng 70,34%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 198 doanh nghiệp, tăng 4,76% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp giải thể là71doanh nghiệp, tăng 31,48%; số doanh nghiệp trở lại hoạt động là 158 doanh nghiệp, tăng 51,92%. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ thuộc các ngành thương mại và dịch vụ gặp khó khăn do tác động tiêu cực của dịch COVID-19…

5. Hoạt động dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Năm 2021, trên địa bàn tỉnh dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát; tuy nhiên, trên phạm vi cả nước dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực đến lưu thông và giá cả hàng hóa; tình hình dịch bệnh kéo dài một bộ phận người dân gặp khó khăn, sức mua giảm sút. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2021 giảm 2,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính tăng 4,83% so với năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2021 ước tính đạt 2.686,24 tỷ đồng, tăng 2,44% so với tháng trước và giảm 4,13% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa 2.427,87 tỷ đồng, tăng 2,12% và giảm 1,47%; doanh thu lưu trú và ăn uống 185,11 tỷ đồng, tăng 5,17% và giảm 24,27%; du lịch lữ hành không phát sinh doanh thu; doanh thu dịch vụ khác 73,26 tỷ đồng, tăng 6,47% và giảm 21,66%.

Tính cả quý IV/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 7.851,06 tỷ đồng, giảm 2,71% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa 7.114,69 tỷ đồng, giảm 0,65%; doanh thu lưu trú và ăn uống 527,51 tỷ đồng, giảm 19,75%; du lịch lữ hành không phát sinh doanh thu; doanh thu dịch vụ khác 208,86 tỷ đồng, giảm 16,64%.

Tính chung năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 32.491,72 tỷ đồng, tăng 4,83% so với năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2021 tăng 2,15% so với năm trước (năm 2020 tăng 0,32%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 28.865,13 tỷ đồng, chiếm 88,84% tổng mức và tăng 5,28% so với năm trước. Các nhóm hàng có tổng mức bán lẻ hàng hóa lớn và tăng so với năm trước như: gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,62%; lương thực, thực phẩm tăng 4,78%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 3,41%; xăng dầu các loại tăng 1,83%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước tính đạt 2.576,94 tỷ đồng, chiếm 7,93% tổng mức và tăng 0,84%; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 38,32 tỷ đồng, giảm 28,93%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.538,62 tỷ đồng, tăng 1,48%.

Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 1,52 tỷ đồng, chiếm 0,01% tổng mức và giảm 75,03% so với năm trước.

Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 1.048,13 tỷ đồng, chiếm 3,22% tổng mức và tăng 3,19% so với năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Ước

Quý IV/2021

( Tỷ đồng)

Ước năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng mức

(Tỷ đồng)

Cơ cấu

(%)

Quý IV/2021

Năm 2021

Tổng số

7.851,06

32.491,72

100,00

97,29

104,83

- Bán lẻ hàng hóa

7.114,69

28.865,13

88,84

99,35

105,28

- Lưu trú và ăn uống

527,51

2.576,94

7,93

80,25

100,84

- Du lịch lữ hành

-

1,52

0,01

-

24,97

- Dịch vụ khác

208,86

1.048,13

3,22

83,36

103,19

5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Năm 2021, trên địa bàn tỉnh dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát, hoạt động vận tải có dấu hiệu phục hồi trở lại, nhất là vận tải hành khách. Tuy nhiên, dịch đã bùng phát trở lại tại nhiều địa phương trong cả nước từ cuối tháng Tư và tỉnh Quảng Trị từ cuối tháng Tám đã tác động tiêu cực đến hoạt động vận tải, nhất là vận tải hành khách. Ước tính quý IV/2021, vận chuyển hành khách giảm 42,84%, vận chuyển hàng hóa tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 7,93%, vận chuyển hàng hóa tăng 2,13% so với năm trước.

Doanh thu vận tải tháng 12/2021 ước tính đạt 138,46 tỷ đồng, tăng 2,34% so với tháng trước và giảm 13,63% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: doanh thu vận tải hành khách 14,85 tỷ đồng, tăng 2,33% và giảm 50,68%; doanh thu vận tải hàng hóa 107,06 tỷ đồng, tăng 2,39% và giảm 2,93%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 16,55 tỷ đồng, tăng 2,04% và giảm 16,86%. Tính cả quý IV/2021, doanh thu vận tải ước tính đạt 392,65 tỷ đồng, giảm 12,85% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: doanh thu vận tải hành khách 40,19 tỷ đồng, giảm 52,42%; doanh thu vận tải hàng hóa 306,07 tỷ đồng, giảm 3,90%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 46,39 tỷ đồng, giảm 2,54%. Tính chung năm 2021, doanh thu vận tải ước tính đạt 1.813,62 tỷ đồng, giảm 0,28% so với năm trước; trong đó: doanh thu vận tải hành khách 275,67 tỷ đồng, giảm 9,67%; doanh thu vận tải hàng hóa 1.328,80 tỷ đồng, tăng 1,70%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 209,15 tỷ đồng, tăng 1,04%.

Số lượt hành khách vận chuyển tháng 12/2021 ước tính đạt 451,5 nghìn HK, tăng 1,88% so với tháng trước và giảm 34,44% so với cùng kỳ năm trước, tất cả đều do vận tải đường bộ thực hiện; số lượt hành khách luân chuyển 41.299,5 nghìn HK.km, tăng 2,86% và giảm 36,13%. Tính cả quý IV/2021 số lượt hành khách vận chuyển ước tính đạt 1.164,1 nghìn HK, giảm 42,84% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 108.688,3 nghìn HK.km, giảm 41,05%. Tính chung năm 2021, số lượt hành khách vận chuyển ước tính đạt 6.720,9 nghìn HK, giảm 7,93% so với năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 561.452,1 nghìn HK.km, giảm 8,96% (năm 2020 là -11,09% và -14,98%).

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 12/2021 ước tính đạt 1.087,8 nghìn tấn, tăng 1,65% so với tháng trước và tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước; chủ yếu do vận tải đường bộ thực hiện; khối lượng hàng hoá luân chuyển ước tính đạt 73.679,8 nghìn tấn.km, tăng 2,73% và giảm 5,25%. Tính cả quý IV/2021 khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tính đạt 3.037,2 nghìn tấn, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 207.373,3 nghìn tấn.km, giảm 7,16%. Tính chung năm 2021, khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tính đạt 11.955,4 nghìn tấn, tăng 2,13% so với năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 828.862,4 nghìn tấn.km, tăng 1,84% (năm 2020 là +10,73% và +6,09%).

Vận tải hành khách và hàng hóa

Ước quý IV/2021

Ước

năm 2021

So với cùng kỳ năm trước (%)

Quý IV/2021

Năm 2021

1. Vận tải hành khách

- Vận chuyển (Nghìn HK)

1.164,1

6.720,9

57,16

92,07

- Luân chuyển (Nghìn HK.Km)

108.688,3

561.452,1

58,95

91,04

2. Vận tải hàng hóa

- Vận chuyển (Nghìn tấn)

3.037,2

11.955,4

101,29

102,13

- Luân chuyển (Nghìn tấn.Km)

207.373,3

828.862,4

92,84

101,84

5.3. Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Năm 2021, hoạt động kinh doanh lưu trú và du lịch lữ hành tiếp tục gặp khó khăn do dịch COVID-19 ở trong nước và các nước trong khu vực diễn biến phức tạp. Trên địa bàn tỉnh hàng loạt cơ sở kinh doanh lưu trú phải đóng cửa, các doanh nghiệp du lịch lữ hành tạm dừng hoạt động.

Số lượt khách lưu trú tháng 12/2021 ước tính đạt 14.377 lượt khách, tăng 3,43% so với tháng trước và giảm 11,88% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú 15.967 ngày khách (chỉ tính khách ngũ qua đêm), tăng 5,12% và giảm 21,32%. Tính chung năm 2021, số lượt khách lưu trú ước tính đạt 239.883 lượt khách, giảm 24,42% so với năm trước; số ngày khách lưu trú 195.394 ngày khách, giảm 21,47%.

Khách du lịch theo tour tháng 12/2021 không phát sinh do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Tính chung năm 2021, số lượt khách du lịch theo tour ước tính đạt 1.642 lượt khách, giảm 64,02% so với năm trước; số ngày khách du lịch theo tour 2.340 ngày khách, giảm 70,71%.

5.4. Hoạt động bưu chính, viễn thông

Năm 2021, các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông thực hiện tốt việc cung ứng dịch vụ bưu chính, chuyển phát; đảm bảo an toàn thông tin; đa dạng hóa các gói dịch vụ, nâng cấp băng thông cho thiết bị di động…phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng trong điều kiện dịch COVID-19. Nhìn chung hoạt động bưu chính, viễn thông trên địa bàn phát triển ổn định.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 215 điểm cung cấp dịch vụ bưu chính, trong đó có: 88 bưu cục cấp 2 và 3 và điểm phục vụ, 01 bưu cục hệ 1, có 109/125 xã, phường có điểm bưu điện văn hóa xã, 06 đại lý chuyển phát, 03 văn phòng đại diện, 08 thùng thư công cộng độc lập. Có 101/125 xã, phường, thị trấn và 9/10 huyện, thị xã, thành phố (trừ huyện đảo Cồn Cỏ) có báo đến trong ngày. Bán kính phục vụ bình quân 2,383 km/1điểm phục vụ; số dân được phục vụ 3.020 người/1 điểm phục vụ.

Tổng số trạm thu phát sóng điện thoại di động (BTS) đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.872 trạm (819 trạm 2G, 1.101 trạm 3G, 952 trạm 4G).

Ước tính đến 31/12/2021, toàn tỉnh có 667.957 thuê bao điện thoại, tăng 2,20% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó, 8.297 thuê bao cố định, giảm 11,21% và 659.660 thuê bao di động, tăng 2,40%. Số thuê bao Internet hiện có là 108.609 thuê bao, tăng 13,12% so với cùng thời điểm năm trước.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Năm 2021, trên địa bàn tỉnh dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát, đến cuối tháng Tám dịch mới bùng phát trở lại; hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi và phát triển; hơn nữa, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án điện gió được đầu tư xây dựng nên thu ngân sách đạt khá cao so với dự toán. Chủ trương tiết kiệm chi tiêu của Chính phủ đã tác động tích cực đến chi ngân sách địa phương.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến 18/12/2021 đạt 5.126,07 tỷ đồng, bằng 148,6% dự toán địa phương và tăng 52,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa 3.716,60 tỷ đồng, bằng 125,1% dự toán địa phương và tăng 27%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 1.399,35 tỷ đồng, bằng 291,5% dự toán địa phương và tăng 285%.

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 18/12/2021 đạt 8.073,89 tỷ đồng, bằng 88% dự toán địa phương năm 2021 và tăng 1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, chi đầu tư phát triển 1.009,47 tỷ đồng, bằng 72% dự toán địa phương và tăng 9%; chi thường xuyên 4.763,15 tỷ đồng, bằng 98% dự toán địa phương và tăng 1%.

2. Hoạt động ngân hàng

Năm 2021, ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Mặt bằng lãi huy động vốn và cho vay có xu hướng giảm nhưng tăng trưởng huy động vốn và tín dụng trên địa bàn tăng trưởng khá so với cuối năm 2020.

Lãi suất huy động vốn và cho vay trên địa bàn trong năm 2021 giảm so với tháng 12/2020. Hiện lãi suất cho vay VND ngắn hạn phổ biến từ 4,5-8%/năm, lãi suất cho vay trung dài hạn phổ biến 7-10/năm, lãi suất cho vay VND ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5%/năm.

Huy động vốn trên địa bàn đến 15/12/2021 đạt 30.105 tỷ đồng, tăng 14,22% (+3.748 tỷ đồng) so với cuối năm 2020; bao gồm, tiền gửi tiết kiệm 23.506 tỷ đồng, tăng 10,64% (+2.261 tỷ đồng); tiền gửi thanh toán 4.286 tỷ đồng, tăng 31,11% (+1.017 tỷ đồng); huy động khác 1.599 tỷ đồng, tăng 31,50% (+383 tỷ đồng); phát hành giấy tờ có giá 714 tỷ đồng, tăng 13,88% (+87 tỷ đồng).

Tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đến 15/12/2021 đạt 43.241 tỷ đồng, tăng 17,89% (+6.563 tỷ đồng) so với cuối năm 2020; bao gồm, dư nợ cho vay ngắn hạn 21.416 tỷ đồng, chiếm 49,53% tổng dư nợ và tăng 27,30% (+4.593 tỷ đồng); dư nợ cho vay trung và dài hạn 21.825 tỷ đồng, chiếm 51,47% và tăng 9,92% (+1.970 tỷ đồng).

Nợ xấu đến 15/12/2021 là 494 tỷ đồng, chiếm 1,14% tổng dư nợ.

3. Đầu tư phát triển

Năm 2021, mặc dù chịu sự tác động tiêu cực của dịch COVID-19 nhưng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tăng rất cao so với năm trước. Năm nay trên địa bàn tỉnh có dự án giao thông lớn cao tốc Cam Lộ - La Sơn được đẩy nhanh tiến độ thi công; nhiều dự án điện gió thuộc nguồn vốn ngoài nhà nước được gấp rút hoàn thành đưa vào vận hành trước 01/11/2021 để được hưởng giá điện ưu đãi...nên vốn đầu tư thực hiện tăng cao. Riêng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn nhà nước tiếp tục gặp khó khăn do vướng mắc trong khâu đền bù, giải phóng mặt bằng, cơ chế quản lý; thủ tục hành chính…, nhất là các dự án ODA. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn (giá hiện hành) quý IV/2021 tăng 24,87% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tăng 50,67% so với năm trước, cao hơn rất nhiều so với mức tăng 15,01% của năm 2020.

Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý IV/2021 (giá hiện hành) ước tính đạt 6.618,82 tỷ đồng, tăng 24,87% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: vốnnhà nước 1.336,64 tỷ đồng, chiếm 20,19% tổng vốn và giảm 0,13% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước 5.261,66 tỷ đồng, chiếm 79,49% tổng vốn và tăng 33,56%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 20,52 tỷ đồng, chiếm 0,32% tổng vốn và giảm 8,44%.

Trong vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước quý IV/2021, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 937,75 tỷ đồng, tăng 10,31% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn ngân sách tỉnh 702,15 tỷ đồng, tăng 4,72%; vốn ngân sách huyện 207,30 tỷ đồng, tăng 33,88%; vốn ngân sách xã 28,30 tỷ đồng, tăng 14,54 %.

Tính chung, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn năm 2021 (giá hiện hành) ước tính đạt 28.676,76 tỷ đồng, tăng 50,67% so với năm trước; bao gồm: vốn nhà nước 4.800,78 tỷ đồng, chiếm 16,74% tổng vốn và giảm 6,05% so với năm trước; vốn ngoài nhà nước 23.716,63 tỷ đồng, chiếm 82,70% và tăng 71,50%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 159,35 tỷ đồng, chiếm 0,56% và tăng 69,20%.

Trong tổng vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước năm 2021, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 3.093,38 tỷ đồng, bằng 81,61% kế hoạch năm 2021 và giảm 1,51% so với năm trước, bao gồm: vốn ngân sách tỉnh 2.437,36 tỷ đồng, bằng 78,79% kế hoạch và giảm 1,50%; vốn ngân sách huyện 585,64 tỷ đồng, bằng 93,86% kế hoạch và tăng 0,38%; vốn ngân sách xã 70,38 tỷ đồng, bằng 96,17% kế hoạch và giảm 15,16%.

Trong vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn năm 2021, vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước tính đạt 25.981,20 tỷ đồng, tăng 82,51% so với năm trước; vốn đầu tư mua sắm TSCĐ không qua xây dựng cơ bản 1.520,75 tỷ đồng, giảm 37,84%; vốn đầu tư nâng cấp, sửa chửa lớn TSCĐ 1.101,38 tỷ đồng, giảm 46,99%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 21,16 tỷ đồng, giảm 87,71%; vốn đầu tư phát triển khác 52,27 tỷ đồng, giảm 48,07%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):Trong quý IV/2021 trên địa bàn tỉnh có 02 dự án được cấp phép mới với tổng vốn đăng ký là 2.320,8 triệu USD. Tính chung năm 2021, có 03 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới với tổng vốn đăng ký là 2.409 triệu USD. Vốn thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2021 ước tính đạt 6,88 triệu USD, tăng 69,04% so với năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn (GHH)

Ước quý IV/2021

( Tỷ đồng)

Ước

năm 2021 (Tỷ đồng)

So với cùng kỳ năm trước (%)

Quý IV/2021

Năm 2021

Tổng số

6.618,82

28.676,76

124,87

150,67

Vốn nhà nước

1.336,64

4.800,78

99,87

93,95

Vốn ngoài nhà nước

5.261,66

23.716,63

133,56

171,50

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

20,52

159,35

91,56

169,20

Về tiến độ giải ngân vốn:Theo số liệu Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Trị, tính đến 15/12/2021: Nguồn vốn NSNN địa phương do tỉnh quản lý đã giải ngân1.974 tỷ đồng (bao gồm cả vốn kéo dài năm trước chuyển sang) đạt 56% kế hoạch vốn chung đã điều chỉnh và đạt 65,9% kế hoạch vốn UBND tỉnh phân bổ. Trong đó, tính riêng giải ngân vốn kế hoạch năm 2021 là 1.694,7 tỷ đồng, đạt 48,07% kế hoạch cấp có thẩm quyền giao và đạt 56,59% kế hoạch UBND tỉnh đã phân bổ.

4.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2021 tăng 2,62% so với năm trước, thấp hơn mức tăng 3,13% của năm 2020. Nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng là: giá lương thực tăng do chuổi cung ứng bị đứt gãy, chi phí vận tải tăng; giá một số nhóm hàng tăng do nguồn cung thiếu ổn định, chi phí đầu vào tăng; giá vật liệu, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng; giá xăng dầu, giá ga tăng theo giá thị trường thế giới; giá dịch vụ giáo dục tăng do tăng học phí…Nhưng vẫn có những yếu tố làm cho giá tiêu dùng tăng chậm lại như: giá thực phẩm giảm do nguồn cung dồi dào; giá dịch vụ văn hóa, giải trí và du lịch giảm do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nhu cầu giảm; giá bưu chính viễn thông giảm do nguồn cung thiết bị điện thoại dồi dào…

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2021 giảm 0,12% so với tháng trước; tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý IV/2021 tăng 2,67% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2021 tăng 2,62% so với năm trước. Trong đó có 8/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng là: giao thông tăng 12,12%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,50%; giáo dục tăng 5,14%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,48%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,55%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,33%; háng hóa và dịch vụ khác tăng 1,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%. Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,06% (lương thực tăng 7,48%, thực phẩm giảm 1,56%, ăn uống ngoài gia đình tăng 2,63%); bưu chính viễn thông giảm 0,36%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,85%.

Chỉ số giá vàng tháng 12/2021 tăng 2,79% so với tháng trước, tăng 10,65% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân quý IV/2021 tăng 6,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân năm 2021 tăng 13,07% so với năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2021 giảm 0,79% so với tháng trước, giảm 1,10% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân quý IV/2021 giảm 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân năm 2021 giảm 1,39% so với năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

ĐVT:%

Tháng 12/2021 so với

Bình quân quý IV/2021 so với cùng kỳ năm 2020

Bình quân năm 2021 so với năm 2020

Tháng 12/2020

Tháng

11/2021

1. Chỉ số giá tiêu dùng

102,65

99,88

102,67

102,62

2. Chỉ số giá vàng

110,65

102,79

106,19

113,07

3. Chỉ số giá đô la Mỹ

98,90

100,79

98,36

98,61

III. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động, việc làm

Dân số trung bình năm 2021 toàn tỉnh ước tính là 647.790 người, tăng1,63% so với năm 2020. Trong tổng dân số, dân số thành thị 210.960 người, chiếm 32,57% và tăng 1,98% so với năm trước; dân số nông thôn 436.830 người, chiếm 67,43% và tăng 1,46%; dân số nam 321.786 người, chiếm 49,67% và tăng 1,83%; dân số nữ 326.004 người, chiếm 50,33% và tăng 1,44%. Tỷ số giới tính của dân số năm 2021 là 98,7 nam/100 nữ. Theo ước tính sơ bộ từ kết quả Điều tra biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình năm 2021, tỷ suất sinh thô là 15,9‰, giảm 0,59‰; tỷ suất chết thô là 6,5‰, giảm 0,44‰; tỷ lệ tăng tự nhiên dân số là 9,4‰, giảm 0,15‰.

Năm 2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên toàn tỉnh ước tính là 351.630 người, chiếm 54,28% dân số và tăng 1,01% so với năm trước; trong đó nam 180.506 người, chiếm 51,33% và tăng 1,35%; nữ 171.124 người, chiếm 48,67% và tăng 0,66%; thành thị 109.215 người, chiếm 31,06% và tăng 0,65%; nông thôn 242.215 người, chiếm 68,94% và tăng 1,17%.Năm 2021, trên địa bàn tỉnh dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát, cuối tháng Tám dịch mới bùng phát trở lại. Tuy nhiên, tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam dịch COVID-19 diễn biến phức tạp nên một số lực lượng lao động trở về địa phương để tránh dịch, tìm kiếm việc làm, một số khác chờ hết dịch trở lại các địa phương khác tìm kiếm việc làm…do đó lực lượng lao động tăng lên.

Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế ước tính là 339.280 người, chiếm 96,49% lực lượng lao động của tỉnh và tăng 0,88% so với năm trước; trong đó: đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 154.082 người, chiếm 45,41%; khu vực công nghiệp và xây dựng 64.218 người, chiếm 18,93%; khu vực dịch vụ 120.980 người, chiếm 35,66% (cơ cấu tương ứng năm 2020 là: 44,60%, 18,44%, 36,96%). Năm 2021, dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến hầu hết các khu vực kinh tế, nhưng khu vực dịch vụ ảnh hưởng nặng nề nhất nên cơ cấu lao động khu vực này giảm xuống so với năm 2020; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là cứu cánh và bệ đỡ cho cho nền kinh tế trong điều kiện dịch COVID-19 nên cơ cấu lao động tăng lên.

Ước tính tỷ lệ thất nghiệp chung toàn tỉnh năm 2021 là 3,51%, tăng 0,12 điểm % so với năm trước; trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi 4,06%, tăng 0,13 điểm %. Năm 2021, kinh tế của tỉnh đang trên đà phục hồi và phát triển, việc làm của người lao động tăng lên; tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 số người trở về địa phương nhiều, một lực lượng lao động của tỉnh mất việc làm do Lào, Thái Lan đóng cửa biên giới và chính sách tinh giãn biên chế các cơ quan hành chính nhà nước…nhưng cơ hội việc làm ít, một bộ phận lao động không kiếm được việc làm đưa tỷ lệ thất nghiệp tăng so với năm trước.

Đến 15/12/2021, toàn tỉnh đã tuyển sinh đào tạo giáo dục nghề nghiệp cho 8.837 người; trong đó: trình độ cao đẳng 122 người, trung cấp 628 người; trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên 8.087 người. Ước tính đến cuối năm 2021, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 68,5%; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 48,5%; lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ đạt 32%.

Ước tính đến 31/12/2021, toàn tỉnh có 11.025 lao động được tạo việc làm mới; trong đó: làm việc trong tỉnh 8.625 lao động, làm việc ngoài tỉnh 1.594 lao động, làm việc ở nước ngoài 806 lao động (làm việc ở Lào 86 lao động, xuất khẩu lao động các nước 720 lao động). Các địa phương làm tốt công tác xuất khẩu lao động là huyện Gio Linh, huyện Vĩnh Linh, huyện Triệu Phong.

2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

2.1. Đời sống dân cư

Năm 2021, trên địa bàn tỉnh dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát, đến cuối tháng Tám dịch mới bùng phát trở lại. Tỉnh đã và đang thực hiện tốt “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Kinh tế của tỉnh phục hồi và phát triển theo chiều hướng tích cực, đạt tốc độ tăng trưởng 6,5%; sản xuất cây hàng năm hầu hết các loại cây trồng năng suất và sản lượng đều cao hơn năm trước, chăn nuôi phát triển tốt; sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt kết quả khả quan. Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân khu vực nông thôn. Tính đến nay có 63/101 xã (62,4%) và 01 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Bên cạnh đó, công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện với nhiều giải pháp hổ trợ hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo, các gia đình gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, thiên tai và đột xuất…nên tình hình thiếu đói của dân cư nói chung và khu vực nông thôn năm 2021 không xảy ra.

Bước vào năm 2021, kếtquả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều đến cuối năm 2020 trên địa bàn tỉnh có 12.505 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,03% và 11.210 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 6,30%.

Ước tính năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh giảm 1,10% (tương ứng giảm 1.887 hộ nghèo). Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm từ 7,03% (12.505 hộ nghèo) đầu năm 2021 là xuống còn 5,93% (10.618 hộ nghèo) cuối năm 2021. Mức giảm hộ nghèo năm 2021 thấp hơn năm 2020 do dịch COVID-19 kéo dài, tình hình sản xuất kinh doanh gặp khó khăn.

Toàn tỉnh đã lập 4.612 hồ sơ mới để hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP. Tính đến ngày 15/12/2021, toàn tỉnh có 43.057 đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng.

Thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2021 ước tính đạt 3.050 nghìn đồng, tăng 6,89% so với năm 2020.

2.2. An sinh xã hội

Đầu năm 2021, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương tổ chức thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân, nhất là các gia đình chính sách, đồng bào nghèo, các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19 và thiệt hại do lũ lụt năm 2020…

Trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, tỉnh Quảng Trị đã trao 95.928 suất quà cho người có công, gia đình chính sách người có công, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng khác, tổng kinh phí là 52.451,4 triệu đồng. Trong đó, hỗ trợ hộ nghèo ăn Tết 12.505 suất quà với tổng kinh phí 6.368 triệu đồng.

Tỉnh đã phân bổ 1.625,72 tấn gạo của Chính phủ hỗ trợ để cứu trợ cho 22.631 lượt hộ gia đình (108.448 khẩu) có hoàn cảnh khó khăn trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu và thời kỳ giáp hạt năm 2021, phân bổ 741,285 tấn gạo của Chính phủ hỗ trợ cho 10.126 hộ (49.419 khẩu) người dân gặp khó khăn trong thời gian giãn cách xã hội để phòng chống dịch COVID-19.

Nhân kỷ niệm 74 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ đã trao tặng 24.861 suất quà của Chủ tịch nước cho người có công và gia đình chính sách người có công, kinh phí quà tặng 7.571,7 triệu đồng. Năm 2021, đã vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh xây mới 18 nhà tình nghĩa với kinh phí 1.400 triệu đồng; sửa chữa 16 nhà ở người có công với kinh phí 2.800 triệu đồng; tặng 62 sổ tiết kiệm cho người có công và thân nhân người có công với kinh phí 554 triệu đồng.

Năm 2021, Ban vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trong tỉnh đã hỗ trợ xây dựng mới 282 nhà Đại đoàn kết với kinh phí 11.690 triệu đồng; hỗ trợ sửa chữa 138 nhà ở với kinh phí 1.800 triệu đồng; hỗ trợ phát triển sản xuất cho 106 hộ gia đình, trị giá 753,05 triệu đồng; hỗ trợ cho 992 em học sinh nghèo, trị giá 591,75 triệu đồng; hỗ trợ khám chữa bệnh cho 402 người, trị giá 635 triệu đồng, hỗ trợ khó khăn với 10.674 suất quà trị giá 4.350 triệu đồng…

Các ngành, các địa phương triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ giảm nghèo như: hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho 21.923 lượt hộ nghèo và hộ chính sách khác để phát triển sản xuất, kinh doanh với tổng số tiền cho vay là 979.630 triệu đồng; thực hiện cấp 144.439 thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn và người dân ở vùng đặc biệt khó khăn, tổng kinh phí cấp thẻ Bảo hiểm y tế là 89.410 triệu đồng; thực hiện miễn, giảm học phí cho 10.542 lượt học sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và hỗ trợ chi phí học tập cho 8.561 lượt học sinh thuộc hộ nghèo, tổng kinh phí miễn giảm và hỗ trợ chi phí học tập trên 5.980 triệu đồng.

Thực hiện hỗ trợ về nhà ở bị thiệt hại do thiên tai theo Nghị quyết số 165/2020/NQ-CP. Toàn tỉnh có 196 hộ gia đình bị thiệt hại nặng do thiên tai gây ra trong tháng 10/2020 với kinh phí được hỗ trợ là 4.210 triệu đồng.

3. Giáo dục - đào tạo

Năm học 2020-2021, với chủ đề “Nâng cao trách nhiệm, đạo đức, năng lực đổi mới, sáng tạo của nhà giáo; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh”, ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục triển khai đổi mới phương pháp, hình thức dạy học để phát triển phẩm chất năng lực học sinh.

Kết quả phổ cập đối với giáo dục mầm non 5 tuổi và giáo dục tiểu học đạt tỷ lệ 100%, giáo dục cấp THCS đạt tỉ lệ 96%. Toàn tỉnh có 05 xã, phường, thị trấn đạt mức độ 1 (tỉ lệ 4,0%), có 120 xã, phường, thị trấn đạt mức độ 2 (tỉ lệ 96,0%); 01 huyện đạt mức độ 1 (huyện Đakrông), 09 huyện đạt mức độ 2.

Kỳ thi chọn học sinh giỏi văn hoá quốc gia lớp 12 THPT tại tỉnh Quảng Trị, có 52 thí sinh dự thi, 28 học sinh đạt giải, chiếm tỷ lệ 52,8% (gồm 04 giải Nhì, 12 giải Ba và 12 giải Khuyến khích).

Tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021, kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2021 (đợt 1) tỉnh Quảng Trị có điểm trung bình các môn là 6,106 điểm, thấp so với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT của năm học 2020-2021 là 94,36%, (nếu tính cả số thí sinh tự do tỷ lệ tốt nghiệp là 94,09%), thấp hơn tỷ lệ tốt nghiệp của năm 2020 là 94,45%.

Bước vào năm học 2021-2022, tỉnh đã ban hành Quyết định số 2105/QĐ-UBND ngày 11/8/2021 về khung kế hoạch thời gian năm học 2021 - 2022 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Chủ đề năm học 2021-2022 là “Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục”. Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, các đơn vị, trường học luôn “chủ động, linh hoạt’’ để xây dựng phương án dạy học phù hợp, tận dụng được “thời gian vàng” để triển khai hoạt động dạy, học và hoạt động giáo dục khác hiệu quả, đúng tiến độ năm học.

Các đơn vị trường học chủ động, linh hoạt và xây dựng các phương án dạy học thích ứng với tình hình dịch bệnh Covid-19; căn cứ Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ, Thông báo kết luận số 168/TB-UBND ngày 16/8/2021 của UBND tỉnh.

Để hỗ trợ công tác dạy và học cho giáo viên, học sinh lớp 1, lớp 2 và lớp 6 những kiến thức cơ bản, trọng tâm trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp phải học trực tuyến, Sở Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh triển khai phát sóng chương trình dạy học qua truyền hình. Thời gian phát sóng liên tục từ thứ hai đến chủ nhật hàng tuần, lịch phát sóng đầu tiên bắt đầu ngày 25/9/2021.

Bước vào năm học 2021 -2022, quy mô, mạng lưới trường, lớp cơ bản ổn định. Toàn tỉnh có 399 trường mầm non, phổ thông và các trung tâm, trong đó có 166 trường MN, 67 trường TH, 42 trường THCS, 80 trường TH và THCS, 24 trường THPT, 06 trường THCS và THPT, 02 trường phổ thông 3 cấp, 01 trường liên cấp mầm non và phổ thông…

Giáo dục phổ thông có 134.929 HS, tăng 1,59% so với năm học trước (Tiểu học 65.440 HS, tăng 6,42%; THCS 43.743 HS, giảm 3,56%; THPT 25.746 HS, giảm 0,87%). Giáo dục mầm non có 40.192 cháu, nhà trẻ có 6.386 cháu, tăng 17,61%; mẫu giáo có 33.806 HS, tăng 10,12%.

Tính đến 15/12/2021, tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 210/368 (chỉ tính khối các trường công lập), đạt tỉ lệ 57,1%, trong đó: Mầm non có 100/147 trường, đạt tỉ lệ 68%; Tiểu học có 40/67 trường, đạt tỉ lệ 59,7%; TH&THCS có 37/80 trường, đạt tỉ lệ 46,3%; THCS có 21/43 trường, đạt tỉ lệ 48,8%; THPT có 12/24 trường, đạt tỉ lệ 50%; THCS&THPT có 0/7 trường.

4. Y tế

4.1. Tình hình khám, chữa bệnh

Mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác y tế. Đến nay toàn tỉnh có 146 cơ sở y tế có chức năng khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế (20 Bệnh viện và Phòng khám đa khoa khu vực; 125 trạm y tế xã, phường, thị trấn; 01 Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh), bằng cuối năm trước. Có 2.200 giường bệnh (không kể trạm xá), tăng 175 giường bệnh. Đội ngũ cán bộ y tế ngày càng được tăng cường về số lượng và chất lượng chuyên môn. Có 3.374 cán bộ đang làm việc tại các cơ sở khám chữa bệnh, trong đó có 3.123 cán bộ ngành y, tăng 1,36% so với cuối năm trước (trong đó có 697 bác sĩ trở lên, tăng 6,09%); có 251 cán bộ ngành dược, tăng 1,21% (trong đó có 61 dược sỹ có trình độ đại học trở lên, tăng 3,39% so với cuối năm trước).

Công tác khám, chữa bệnh được duy trì tốt và có chất lượng. Tuy nhiên, do thực hiện các biện pháp để phòng chống dịch COVID-19 nên số lượt người khám bệnh tại các cơ sở y tế giảm so với năm trước. Năm 2021, ước tính có 684.182 lượt người khám bệnh, giảm 24,86% so với năm trước; 107.282 lượt bệnh nhân điều trị nội trú, tăng 18,74%; số ngày điều trị nội trú 666.843 ngày, tăng 10,45%.

4.2. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thựcphẩm

* Tình hình dịch COVID-19

Năm 2021, dịch COVID-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát; đến cuối tháng Tám dịch bùng phát trở lại trong cộng đồng.Hiện nay tình hình dịch bệnhCOVID-19đang có diễn biến xấu đi, số ca bệnh trong cộng đồng đang tăng cao so với những tháng trước. Tỉnh đang áp dụng các biện pháp phòng chống dịch cấp độ 2 đối với 7/10 đơn vị cấp huyện và cấp độ 1 đối với 3/10 đơn vị cấp huyện theo Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ.

Từ đầu năm đến 19/12/2021 đã ghi nhận 1.462 ca bệnh COVID-19, trong đó có 41 ca nhập cảnh và 1.421 ca bệnh trong tỉnh. Đã có 03 trường hợp tử vong,1.184 ca đã điều trị khỏi bệnh và hiện còn 275 ca bệnh đang được điều trị tại cơ sở y tế. Riêng từ 16/11 đến 19/12, đã phát hiện 784 ca bệnh, trong đó trên 200 ca phát hiện qua giám sát cộng đồng.

Đến nay còn 336 người đang cách ly tại cơ sở y tế (bao gồm cả bệnh nhân), 800 người đang cách ly tập trung, 5.307 người đang cách ly tại nhà, nơi lưu trú.

Tính đến 19/12/2021, tỉnh đã tiếp nhận 960.050 liều vắc xin,toàn tỉnh có tổng cộng 465.761 người đã được tiêm vắc xin, trong đó có 438.488 người từ 18 tuổi trở lên và 27.273 người từ 12-17 tuổi. Số người mới tiêm mũi 1 là 98.585 người (bao gồm đối tượng 12-17 tuổi) và tiêm 2 mũi là 360.525 người và tiêm 3 mũi là 6.651 người. Tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên được tiêm ít nhất 01 liều vắc xin phòng COVID-19 đạt tỷ lệ 96,67%, 02 liều đạt tỷ lệ 80,95%; tỷ lệ dân số từ 12-17 tuổi đã tiêm ít nhất 01 liều vắc xin là 41,68%.

*Tình hình bệnh truyền nhiễm

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 4.821 ca mắc bệnh cúm, giảm 25,84% so với cùng kỳ năm trước; 101 ca mắc bệnh lỵ Amip, giảm 26,81%; 230 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, giảm 38,83%; 21 ca mắc bệnh quai bị, giảm 51,16%; 216 ca mắc bệnh thuỷ đậu, tăng 19,34%; 1.313 ca mắc bệnh tiêu chảy, tăng 8,51%; 121 ca mắc bệnh viêm gan virut, giảm 26,22%; 01 ca mắc sốt rét giảm 88,89%; 56 ca mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 94,03%; 38 ca mắc tay chân miệng giảm 79,57%. Nhìn chung năm 2021, hầu hết các loại bệnh dịch xảy ra trên địa bàn tỉnh đều giảm; riêng bệnh thủy đậu, tiêu chảy là tăng so cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong do bệnh truyền nhiễm.

* Tình hình nhiễm HIV/AIDS

Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh phát hiện thêm 16 trường hợp nhiễm HIV, đưa số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị lên 265 người (số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 11 trẻ, số bà mẹ mang thai nhiễm HIV sinh con là 40 bà mẹ); số bệnh nhân tử vong do AIDS toàn tỉnh tính đến thời điểm trên là 99 người.

*Tình hình ngộ độc thực phẩm

Trong năm 2021, trên địa bàn tỉnh chỉ xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại trường tiểu học Vĩnh Thủy (huyện Vĩnh Linh) làm 19 học sinh bị ngộ độc phải nhập viện. Không có trường hợp tử vong do bị ngộ độc.

5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Toàn tỉnh đã tổ chức thực hiện tốt công tác trang trí khánh tiết, tuyên truyền cổ động trực quan chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng trong năm 2021: Kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Tân Sửu - năm 2021; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026; tuyên truyền kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh, liệt sỹ; Kỷ niệm 76 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9…Các hoạt động đã được triển khai tích cực, hiệu quả, bám sát sự chỉ đạo của cấp trên đồng thời phù hợp với tình hình dịch bệnh COVID-19.

Phối hợp với Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh điều chỉnh, tổ chức biểu diễn ghi hình và phát sóng lại Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Giai điệu mùa Xuân” chào mừng Xuân Tân Sửu năm 2021 trên sóng Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh và trên các kênh thông tin, mạng xã hội để phục vụ nhân dân dịp Tết; tham gia chương trình nghệ thuật “Du xuân” 2021…Tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật, các đợt chiếu phim, tuần phim phục vụ nhân dân tỉnh nhà, phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026 và theo kế hoạch định kỳ. Tuy nhiên, một số hoạt động chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật trong dịp Tết Nguyên đán, Lễ hội Thống nhất non sông và khai trương mùa du lịch biển, đảo năm 2021 phải tạm hoãn hoặc điều chỉnh thời gian, quy mô do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19…Tổ chức 03 lớp truyền dạy nghệ thuật bài chòi tại các địa phương trong tỉnh. Phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện chương trình sân khấu hóa “Bảo tồn và lưu giữ nghệ thuật bài chòi trên địa bàn tỉnh Quảng Trị”.

Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh tỉnh đã tổ chức 80 buổi chiếu phim, thu hút 21.500 lượt người xem. Đoàn Nghệ thuật truyền thống tỉnh đã tổ chức 20 buổi biểu diễn, thu hút hơn 20.000 lượt người xem.

Phối hợp tổ chức thành công chương trình nghệ thuật “Hãy yêu nhau đi”, Kỷ niệm 20 năm ngày mất cố Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.

Đẩy mạnh thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng văn minh đô thị và công tác gia đình. Toàn tỉnh hiện có 93,5% gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệuvăn hóa”; 99,5% làng, bản, khu phố được công nhận và giữ vững danh hiệu văn hóa; 96% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; 63,3% xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; 54,1% phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị; 76% xã, phường, thị trấn có Trung tâm văn hóa - thể thao; 95,7% làng, bản, khu phố có Nhà văn hóa - Khu thể thao.

Thể dục, thể thao quần chúng được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động. Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, giai đoạn 2021-2030” tiếp tục được đẩy mạnh, thu hút sự tham gia đông đảo của nhân dân, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở cơ sở. Năm 2021, tỉ lệ người tập TDTT thường xuyên đạt 35,9%; tỉ lệ gia đình thể thao đạt 27,2%; có 800 câu lạc bộ và điểm tập TDTT trên địa bàn tỉnh, có 03 liên đoàn và hiệp hội.

Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức tốt các giải thể thao như: giải Tennis chào mừng 91 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Tân Sửu - 2021; Giải Bóng đá U11 Cúp QRTV năm 2021. Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức thành công Hội khoẻ Phù Đổng tỉnh Quảng Trị lần thứ VI năm 2021…

Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp và một số giải thể thao trong khuôn khổ Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Quảng Trị lần thứ VIII năm 2021-2022; Chuẩn bị lực lượng vận động viên tham gia Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ IX năm 2022.

Kết quả tổ chức Đại hội TDTT các cấp: đến nay, toàn tỉnh có 6/9 huyện đã chỉ đạo Đại hội điểm cấp xã; có 6/10 huyện, thị xã, TP tổ chức 10 môn thi đấu trong chương trình Đại hội TDTT cấp huyện, còn lại các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ và huyện đảo Cồn Cỏ chưa tổ chức Đại hội. Đại hội TDTT cấp tỉnh đã tổ chức được 01/15 môn (phân môn) trong chương trình thi đấu.

Thể thao thành tích cao tiếp tục quan tâm, công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng vận động viên; tập trung các môn thể thao thành tích cao có thế mạnh của tỉnh. Tổng số VĐV được đào tạo tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh là 91 VĐV (trong đó có 50 VĐV tuyến năng khiếu, 17 VĐV tuyến trẻ, 24 VĐV tuyến tỉnh). Cử các đội tuyển tham gia thi đấu 06 giải thể thao quốc gia, đạt 38 huy chương các loại (11 HCV, 15 HCB, 12 HCĐ).

6. Tình hình thiên tai, cháy nổ và bảo vệ môi trường

Từ đầu năm đến 17/12/2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 11 đợt thiên tai (01 đợt rét đậm, 02 đợt không khí lạnh tăng cường và 06 đợt giông, lốc sét và 01 cơn bảo số 5 và 01 đợt mưa lớn gây ngập lụt) đã làm 02 người chết, 01 người mất tích; 234 căn nhà bị hư hại; 723,6 ha lúa bị ngập úng, gãy đổ; 93 ha sắn bị ngập úng; 53,54 ha hoa màu khác bị thiệt hại; 02 con bò và 93 con gia cầm bị chết. Chính quyền các địa phương đã kịp thời thăm hỏi, động viên các gia đình có người thân chết và mất tích.

Công tác phòng chống cháy nổ trên địa bàn tỉnh trong tháng 12/2021 đảm bảo an toàn, không có vụ cháy nào xảy ra. Tính chung năm 2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 90 vụ cháy, giảm 23,08% (-27 vụ ) so với năm trước. Đã điều tra làm rõ 82 vụ, trong đó có 25 vụ do sự cố hệ thống thiết bị điện; 44 vụ do sơ suất trong sử dụng lửa; 09 vụ do đốt thực bì, đốt rác, thắp hương gây cháy lan; 04 vụ do nguyên nhân khác. Cháy nổ đã làm 04 người chết và 03 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 25.294 triệu đồng, tăng 301,89% so với năm trước.

Trong tháng, đã phát hiện và xử lý 23 vụ vi phạm môi trường; số tiền xử phạt 77,7 triệu đồng. Tính chung năm 2021, phát hiện và xử lý 242 vụ vi phạm môi trường, tăng 11,52% (+ 25 vụ) so với năm trước; số tiền xử phạt là 1.756,2 triệu đồng, tăng 194,66%.

7. Tai nạn giao thông

Theo Báo cáo của Ban ATGT tỉnh, tháng 12/2021 (15/11 đến 14/12/2021), trên địa bàn tỉnh xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông, làm chết 05 người, bị thương 04 người; so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 42,86% (-06 vụ), số người chết giảm 50% (-05 người), số người bị thương giảm 42,86% (-03 người). Trong tất cả các vụ tai nạn giao thông tháng 12/2021, đường bộ xảy ra 07 vụ, làm chết 05 người và bị thương 03 người, đường sắt xảy ra 01 vụ, bị thương 01 người.

Tính chung năm 2021 (Từ 15/12/2020 đến 14/12/2021) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 179 vụ tai nạn giao thông, làm chết 102 người, bị thương 133 người; so vớinăm trước số vụ tăng 19,33% (+29 vụ), số người chết tăng 7,37% (+07 người), số người bị thương tăng 46,15% (+42 người). Trong tất cả các vụ tai nạn giao thôngnăm 2021, đường bộ xảy ra 174 vụ, làm chết 99 người và bị thương 132 người; đường sắt xảy ra 04 vụ làm chết 02 người và bị thương 01 người; đường thủy xảy ra 01 vụ làm chết 01 người.

8. Một số thông tin về ảnh hưởng của dịch COVID-19 năm 2021

Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, tính đến 15/12/2021 có 20.958 người từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh khác trở về địa phương; trong đó, nữ 8.571 người, người từ 15 tuổi trở lên 19.903 người. Trong tổng số người từ 15 tuổi trở lên trở về địa phương có 5.827 người đang làm việc; 9.498 người thất nghiệp, mất việc làm, không được làm việc do phải cách ly, giãn cách; 2.529 người không có nhu cầu làm việc do đang đi học; 2.049 người không có nhu cầu làm việc.

Từ đầu năm đến 15/12/2021, tỉnh đã nhận hỗ trợ phòng chống dịch tổng trị giá 89.067 triệu đồng (ngân sách địa phương 57.336 triệu đồng, nguồn khác 31.731 triệu đồng); bao gồm, tiền mặt 32.334 triệu đồng; lương thực, thực phẩm 25.000 triệu đồng; vật dụng y tế 31.723 triệu đồng; khác 10 triệu đồng.

Tổng số tiền đã chi cho công tác phòng chống dịch COVID-19 là 278.570 triệu đồng; bao gồm, chi tại địa phương 277.220 triệu đồng, cho hỗ trợ, ủng hộ địa phương khác 1.350 triệu đồng.

Toàn tỉnh có 86.688 lượt hộ (86.688 lượt người) được hỗ trợ do ảnh hưởng của dịch COVID-19, tổng trị giá 46.256,3 triệu đồng (ngân sách Trung ương 26.975 triệu đồng, nguồn khác 19.281,3 triệu đồng); bao gồm: tiền mặt 43.518,5 triệu đồng, trợ giá điện 1.942,8 triệu đồng, trợ giá nước sạch 795 triệu đồng.

Thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP về thực hiện chính sách hỗ trợ người dân, người lao động, người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. Tính đến 04/12/2021, có 28.971 lao động được hỗ trợ với số tiền 8.010,3 triệu đồng; 1.630 đơn vị sử dụng lao động được hỗ trợ với số tiền 2.507,5 triệu đồng; 730 người dân được hỗ trợ với số tiền 1.357,2 triệu đồng. Tổng kinh phí đã hỗ trợ là 11.875 triệu đồng.

Thực hiện Nghị Quyết 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Tính đến 16/12/2021, có 32.860 lao động đề nghị hỗ trợ, cơ quan BHXH đã giải quyết chi trả cho 31.044 lao động đủ điều kiện hưởng với số tiền 74.900 triệu đồng; giảm đóng BHTN trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 01/10/2021 đối với 1.385 đơn vị, tương ứng với 26.141 lao động với số tiền giảm đóng kể từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 30/9/2022 là 15.100 triệu đồng.

Nhằm góp phần giảm áp lực đối với việc phòng chống dịch COVID-19 tại các tỉnh phía Nam và chính sách hỗ trợ người dân đang đứng trước khó khăn do dịch bệnh gây ra, tỉnh đã thực hiện 03 đợt đón người dân từ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam về quê bằng tàu hỏa với 1.348 người thuộc đối tượng ưu tiên theo quy định của tỉnh và có đăng ký nhu cầu./.


Website UBND tỉnh Quảng Trị

  • Tổng số lượt xem: 468
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.