Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Chủ nhật, ngày 14 tháng 8 năm 2022
English
a A
Ngày 09/01/2022-14:13:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau tháng 12 và 12 tháng năm 2021

I. CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ

1. Ngư, nông, lâm nghiệp

1.1. Thủy sản

Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản của tỉnh tháng 12/2021 ước đạt 50,56 nghìn tấn, tăng 2,18% so cùng kỳ; trong đó: tôm 18,30 nghìn tấn, tăng 3,91% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 sản lượng thủy sản ước đạt 609,23 nghìn tấn, tăng 3,23% so cùng kỳ; trong đó: tôm 214,07 nghìn tấn, tăng 4,68% so cùng kỳ. Chia ra:

Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 12/2021 ước đạt 30,56 nghìn tấn, tăng 2,70% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 ước đạt 368,15 nghìn tấn, tăng 3,90% so cùng kỳ; trong đó: tôm 205,30 nghìn tấn, tăng 5,01% so cùng kỳ.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 12/2021 ước đạt 20,00 nghìn tấn, tăng 1,41% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 241,07 nghìn tấn, tăng 2,21% so cùng kỳ.

1.2. Nông nghiệp

1.2.1. Trồng trọt

Xuống giống:

- Xuống giống lúa vụ mùa: tổng diện tích xuống giống lúa vụ mùa đã dứt điểm đạt 40.486 ha. Chia ra: diện tích xuống giống lúa tôm đạt 37.149 ha; diện tích xuống giống lúa mùa đạt 3.337 ha.

- Xuống giống lúa vụ đông xuân: đến thời điểm này diện tích xuống giống lúa vụ đông xuân đạt 35.014 ha.

Tình hình sản xuất các loại cây trồng hàng năm chủ yếu năm 2021:

- Tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm 2021 của tỉnh Cà Mau đạt 100.089,07 ha (chiếm 90,84% tổng diện tích cây hàng năm), giảm 10,96% so cùng kỳ; năng suất gieo trồng bình quân ước đạt 45,86 tạ/ha, tăng 15,36%; sản lượng thu hoạch ước đạt 459.015,99 tấn, tăng 2,72% so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích gieo trồng lúa năm 2021 giảm chủ yếu là do giảm diện tích lúa vụ mùa ở huyện Thới Bình và huyện U Minh. Cụ thể:

+ Lúa vụ mùa: tổng diện tích gieo trồng lúa vụ mùa năm 2021 của tỉnh Cà Mau đạt 29.052,27 ha, giảm 28,25% so cùng kỳ; năng suất đạt 18,90 tạ/ha, giảm 23,00%; sản lượng đạt 54.916,28 tấn, giảm 44,75% so cùng kỳ năm 2020. Năm 2021 là năm thứ hai liên tiếp các trà lúa vụ mùa chịu sự tác động nặng nề của thời tiết không thuận lợi. Trà lúa vụ mùa năm 2021 tiếp tục chịu ảnh hưởng của các cơn bão vào cuối năm 2020 gây ra tình trạng mưa lớn liên tục trong nhiều ngày liền, kết hợp với triều cường làm mực nước dâng cao kéo dài, người dân không thể thực hiện việc bơm tát nước rửa mặn cải tạo diện tích lúa tôm để trồng lúa. Từ đó, diện tích gieo trồng, năng suất, sản lượng thu hoạch của trà lúa vụ mùa năm 2021 (trong đó có lúa tôm) giảm mạnh so với các năm trước.

+ Lúa vụ đông xuân: tổng diện tích gieo trồng lúa vụ đông xuân năm 2021 của tỉnh Cà Mau đạt 35.724,80 ha, giảm 1,05% so cùng kỳ năm 2020; diện tích thu hoạch đạt 100% diện tích gieo trồng; năng suất thu hoạch bình quân đạt 65,17 tạ/ha, tăng 10,82%; sản lượng thu hoạch đạt 232.828,45 tấn, tăng 11,59% so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích gieo trồng lúa vụ đông xuân giảm chủ yếu là do người dân chuyển mục đích sử dụng sang nuôi trồng thủy sản ở huyện Thới Bình, U Minh. Mặc dù diện tích gieo trồng lúa giảm nhưng năng suất và sản lượng thu hoạch lại có chiều hướng tăng cao so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân do bà con tranh thủ xuống giống theo đúng lịch thời vụ để tránh gặp thời tiết bất lợi, kết hợp sử dụng các giống lúa có năng suất cao, khả năng chịu sâu bệnh tốt cũng như thực hiện tốt hướng dẫn của cơ quan chuyên môn để phòng chống tác hại của sâu bệnh lên cây lúa tốt hơn. Thêm vào đó, tình hình thời tiết thuận lợi, ít bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh, giá lúa tăng cao nên bà con mạnh dạn đầu tư cho sản xuất lúa.

+ Lúa vụ hè thu: tổng diện tích gieo trồng lúa vụ hè thu năm 2021 của tỉnh Cà Mau đạt 35.312 ha, giảm 1,42% so cùng kỳ năm 2020; diện tích thu hoạch đạt 100% diện tích gieo trồng; năng suất thu hoạch bình quân đạt 48,50 tạ/ha, tăng 15,53%; sản lượng thu hoạch đạt 171.271,26 tấn, tăng 23,37% so với cùng kỳ năm 2020. Vụ hè thu năm 2021 điều kiện thời tiết ổn định, thuận lợi cho cây lúa phát triển tốt nên năng suất và sản lượng lúa vụ hè thu tăng cao so với cùng kỳ năm 2020.

- Diện tích gieo trồng rau các loại đạt 7.660,43 ha, tăng 6,30% so cùng kỳ; năng suất ước đạt 69,59 tạ/ha, tăng 0,35%; sản lượng thu hoạch ước đạt 53.307,18 tấn, tăng 6,67% so cùng kỳ năm 2020.

- Diện tích đậu các loại đạt 206,35 ha, giảm 57,53% so cùng kỳ; năng suất ước đạt 27,88 tạ/ha, tăng 29,98%; sản lượng thu hoạch ước đạt 575,24 tấn, giảm 44,80% so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích đậu các loại giảm chủ yếu là diện tích trồng đậu xanh vụ đông xuân trên ruộng lúa ở huyện Trần Văn Thời. Do năm nay lúa vụ đông xuân thu hoạch trễ nên người dân không xuống giống đậu xanh kịp thời; vì thế diện tích gieo trồng đậu xanh giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2020.

Tình hình sản xuất cây lâu năm:

Tổng diện tích hiện có cây lâu năm của tỉnh Cà Mau năm 2021 đạt 15.973,81 ha, tăng 2,45% so với cùng kỳ. Diện tích cây lâu năm không biến động lớn, tăng nhẹ so với cùng kỳ. Cụ thể:

- Diện tích cây ăn quả đạt 8.620,11 ha, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm 2020.

- Diện tích cây lấy quả chứa dầu (dừa) đạt 7.349,59 ha (chiếm 46,01% tổng diện tích cây lâu năm), tăng 1,82% so cùng kỳ; trong đó diện tích cho sản phẩm đạt 7.013,87 ha, tăng 1,38%; năng suất trên diện tích cho sản phẩm ước đạt 50,80 tạ/ha, tăng 1,32%; sản lượng thu hoạch ước đạt 35.632,42 tấn, tăng 2,73% so với cùng kỳ năm 2020.

- Diện tích hồ tiêu đạt 4,11 ha, giảm 37,82% so cùng kỳ; trong đó diện tích cho sản phẩm đạt 4,11 ha, giảm 25,27%; năng suất trên diện tích cho sản phẩm ước đạt 26 tạ/ha, tăng 4,00%; sản lượng thu hoạch ước đạt 10,69 tấn, giảm 22,28% so cùng kỳ năm 2020.

Tình hình sâu bệnh:

- Trên lúa: diện tích lúa bị gây hại bởi rầy nâu, sâu cuốn lá, đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, cháy bìa lá, chuột, ốc bươu vàng,… gây hại rải rác với mức độ thiệt hại từ nhẹ đến nặng, diện tích bị ảnh hưởng lũy kế là 30.499,50 ha, người dân đã phòng trừ và khắc phục kịp thời.

- Trên rau màu: ảnh hưởng bọ nhảy, sâu tơ, sâu xanh, sâu xám, thối nhũn, sương mai, rệp phấn, thán thư,… xuất hiện rải rác trên rau, màu ở một vài nơi trong tỉnh, mức độ thiệt hại nhỏ, diện tích bị ảnh hưởng lũy kế 637,70 ha, người dân đã phòng trừ xong.

- Cây ăn trái: bị ảnh hưởng của sâu đục cành, ngọn, bệnh cháy lá gây hại trên xoài; sâu vẽ bùa gây hại trên cam, quýt, mức độ thiệt hại không lớn.

- Trên cây mía: sâu đục thân gây hại ở giai đoạn vươn lóng, mức độ thiệt hại không đáng kể, đã được phòng trừ và khắc phục.

- Cây dừa: bị bọ cánh cứng tiếp tục gây hại trong giai đoạn cho trái.

1.2.2. Kết quả chăn nuôi

- Đàn lợn: ước năm 2021 có 83.850 con, tăng 7,40% so cùng kỳ. Sản lượng lợn hơi xuất chuồng năm 2021 là 16.400 tấn, tăng 3,52% so cùng kỳ. Hiện nay, tỉnh đang trong giai đoạn phục hồi đàn lợn nhưng vẫn chưa đạt được số lượng như những năm trước khi có bệnh dịch tả lợn Châu phi xảy ra. Công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được triển khai thực hiện đồng bộ, kịp thời và có hiệu quả, các ổ dịch được kiểm soát, khống chế nhanh, không tái phát và lây lan.

- Đàn gia cầm: ước năm 2021 có 3.293,45 ngàn con, tăng 3,78% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng là 12.957,70 tấn, tăng 6,61% so cùng kỳ. Nhìn chung, tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh tăng so với cùng kỳ. Dịch bệnh ít phát sinh, môi trường nuôi thuận lợi, giá cả đầu ra ổn định nên người chăn nuôi đã mạnh dạn mở rộng quy mô.

1.3. Lâm nghiệp

Công tác trồng rừng và chăm sóc rừng: tổng diện tích trồng rừng mới tập trung năm 2021 là 4.262 ha, tăng 15,56% so cùng kỳ; trong đó: rừng sản xuất trồng mới và trồng sau khai thác 3.962 ha, rừng phòng hộ trồng mới 283 ha, rừng đặc dụng trồng mới 17 ha. Theo quy định các đơn vị, chủ rừng, Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng và các xã có rừng,… năm trước đơn vị nào có diện tích rừng khai thác trắng thì năm sau phải trồng mới lại; ngoài ra, còn trồng rừng theo các dự án nên diện tích tăng.

Diện tích rừng được chăm sóc năm 2021 là 12.569 ha, tăng 0,11% so cùng kỳ; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 300 ha, tập trung ở 02 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 48.640 ha, giảm 2,61% so cùng kỳ. Diện tích rừng được bảo vệ chủ yếu 2 loại rừng, rừng phòng hộ xung yếu 18.776 ha; rừng đặc dụng và phòng hộ rất xung yếu 29.864 ha, nhằm ngăn chặn những tác nhân xâm hại đến rừng, hạn chế tối đa các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.

Khai thác gỗ và lâm sản: tổng số gỗ khai thác năm 2021 là 226.000 m3, giảm 2,49% so cùng kỳ; củi khai thác năm 2021 là 131.200 ste, giảm 37,10% so cùng kỳ.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp:

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tháng 12/2021 tăng 15,35% so tháng trước, giảm 13,86% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất giảm 7,05% so cùng kỳ. Cụ thể từng ngành công nghiệp như sau:

- Ngành khai khoáng: chỉ số sản xuất tháng 12/2021 ước tính tăng 80,95% so tháng trước, tăng 1,33% so cùng kỳ; nguyên nhân chỉ số tháng 12 tăng mạnh so với tháng trước là do nhu cầu nhận khí của nhà máy Đạm tăng cao sau khi nhà máy bảo dưỡng sửa chữa. Tuy nhiên, lũy kế đến cuối năm chỉ số giảm sâu là do nhu cầu tiêu thụ khí từ các Nhà máy Điện Cà Mau thấp. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất giảm 17,30% so cùng kỳ.

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: chỉ số sản xuất tháng 12/2021 ước tính tăng 15,70% so tháng trước, giảm 8,96% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất tăng 3,87% so cùng kỳ. Cụ thể một số ngành chế biến chủ yếu như:

+ Ngành sản xuất chế biến thực phẩm: chỉ số sản xuất tháng 12/2021 tăng 10,34% so tháng trước, giảm 11,21% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất tăng 5,86% so cùng kỳ. Nhìn chung, ngành chế biến thực phẩm trên địa bàn tỉnh Cà Mau thời gian qua tương đối ổn định. Mặc dù tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh còn diễn biến phức tạp nhưng các công ty, xí nghiệp vẫn tăng cường sản xuất để phục vụ nhu cầu tiêu thụ thủy sản dịp cuối năm ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ do tình hình dịch bệnh ở các nước này dần được kiểm soát. Ngoài ra, việc tận dụng những lợi thế của Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia ký kết cũng tạo ra nhiều thuận lợi, lợi thế khi xuất khẩu qua các thị trường. Tuy nhiên, trước tình hình hiện tại, việc vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa xuất nhập khẩu tăng cao, khiến cho các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn như thiếu tàu, thiếu container, cước phí vận chuyển cao,…

+ Ngành sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế (chủ yếu sản xuất khí hóa lỏng): chỉ số sản xuất tháng 12/2021 ước tính tăng 81,35% so tháng trước, giảm 2,68% so cùng kỳ; nguyên nhân sản lượng LPG tháng 12 tăng rất cao so với tháng trước nhưng lại giảm so với cùng kỳ chủ yếu do trong tháng 11 nhà máy dừng để bảo dưỡng sửa chữa đã ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất LPG giảm. Lũy kế cuối năm chỉ số giảm mạnh vì sản lượng khí đầu vào thấp đã ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất LPG. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất giảm 26,76% so cùng kỳ.

+ Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (chủ yếu sản xuất phân đạm): chỉ số sản xuất tháng 12/2021 tăng 88,97% so tháng trước, tăng 7,01% so cùng kỳ; Chỉ số tháng 12 tăng mạnh so với tháng trước là do sau thời gian sửa chữa bảo dưỡng, nhà máy hoạt động đạt công suất tối đa khá nhanh và đã phối hợp với các đối tác, nhà phân phối lớn tham gia các phiên đấu thầu quốc tế, góp phần trực tiếp giảm áp lực tồn kho, cân bằng cán cân cung cầu của ngành phân bón nội địa phục vụ cho bà con Đồng bằng Sông Cửu long và các khu vực khác. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất tăng 0,65% so cùng kỳ.

- Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng: chỉ số sản xuất tháng 12/2021 ước tính giảm 9,82% so tháng trước, giảm 46,88% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất giảm 32,43% so cùng kỳ. Nguyên nhân chỉ số giảm mạnh là do nhu cầu phụ tải hiện nay trên hệ thống điện giảm mạnh vì sản lượng điện sản xuất phụ thuộc vào hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN). Mặt khác, các nhà máy điện năng lượng tái tạo được huy động tối đa công suất nên EVN giảm huy động từ điện khí của Cà Mau.

- Ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: chỉ số sản xuất tháng 12/2021 tăng 3,07% so tháng trước, tăng 8,98% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 chỉ số sản xuất tăng 3,91% so cùng kỳ.

3. Tài chính, tín dụng

3.1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn: lũy kế từ đầu năm đến ngày 21/12/2021 đạt 5.639,00 tỷ đồng, đạt 102,93% so dự toán ngân sách năm 2021, giảm 4,24% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 5.343,30 tỷ đồng, đạt 97,81% dự toán, giảm 9,03% so cùng kỳ; nguồn thu thuế xuất nhập khẩu đạt 295,70 tỷ đồng, tăng 17,48 lần dự toán, tăng 18,87 lần so cùng kỳ.

- Chi ngân sách địa phương: lũy kế từ đầu năm đến ngày 21/12/2021 là 10.482,27 tỷ đồng, đạt 98,80% dự toán năm 2021, giảm 1,61% so cùng kỳ; trong đó: chi ngân sách tỉnh trong cân đối 5.041,46 tỷ đồng, đạt 75,49% so dự toán, giảm 13,31% so cùng kỳ; chi ngân sách huyện, xã trong cân đối 5.440,81 tỷ đồng, đạt 138,38% dự toán, tăng 12,45% so cùng kỳ.

3.2. Hoạt động tín dụng

- Tổng nguồn vốn hoạt động tháng 12/2021 ước đạt 61.500 tỷ đồng, tăng 0,1% so tháng trước, tăng 12,0% so đầu năm. Trong đó: nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 34.924 tỷ đồng, tăng 1,0% so tháng trước (tương ứng tăng 344 tỷ đồng), tăng 5,7% so đầu năm (tương ứng tăng 1.897 tỷ đồng). Cụ thể: tiền gửi tiết kiệm ước đạt 25.735 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước, tăng 2,4% so đầu năm; tiền gửi của các tổ chức kinh tế ước đạt 8.755 tỷ đồng, tăng 3,3% so tháng trước, tăng 18,2% so đầu năm; huy động kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá khác ước đạt 434 tỷ đồng, tương đương so tháng trước, giảm 11,3% so đầu năm.

Tình hình huy động vốn của các chi nhánh Ngân hàng - TCTD trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định và tăng trưởng; các chi nhánh Ngân hàng - TCTD thực hiện nghiêm túc quy định mức lãi suất huy động vốn theo chỉ đạo của Thống đốc NHNN. Nguồn vốn huy động đáp ứng được 62,93% so với tổng dư nợ cho vay, giảm 5,07% so với cùng kỳ năm trước, phần còn lại các chi nhánh Ngân hàng - TCTD tranh thủ nhận vốn điều hòa trong từng hệ thống để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng trên địa bàn phục vụ cho chương trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

- Tổng dư nợ cho vay tháng 12/2021 ước đạt 55.500 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước (tương ứng tăng 814 tỷ đồng), tăng 14,3% so đầu năm (tương ứng tăng 6.932 tỷ đồng). Trong đó: dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 34.217 tỷ đồng, tăng 1,3% so tháng trước, tăng 19,7% so đầu năm; dư nợ cho vay trung, dài hạn ước đạt 21.283 tỷ đồng, tăng 1,8% so tháng trước, tăng 6,6% so đầu năm.

4. Giá cả, Thương mại - dịch vụ

4.1. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá chung hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tỉnh Cà Mau tháng 12/2021 tăng 0,62% so tháng trước, tăng 2,04% so cùng kỳ. Bình quân 12 tháng năm 2021 tăng 1,94% so cùng kỳ. Cụ thể tình hình tăng, giảm giá các nhóm hàng trong tháng 12/2021 như sau:

- Hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 1,78% so tháng trước, giảm 0,08% so cùng kỳ. Bình quân 12 tháng năm 2021 tăng 0,79% so cùng kỳ. Trong đó:

+ Chỉ số giá hàng lương thực tăng 0,65% so tháng trước, tăng 6,45% so cùng kỳ. Bình quân 12 tháng năm 2021 tăng 7,48% so cùng kỳ.

+ Chỉ số giá hàng thực phẩm tăng 2,61% so tháng trước, giảm 2,94% so cùng kỳ. Bình quân 12 tháng năm 2021 giảm 1,73% so cùng kỳ. Nhìn chung, chỉ số giá hàng thực phẩm chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng như: thịt gia cầm, trứng các loại, dầu ở chất béo khác, thủy sản tươi sống và chế biến, nước mắm, các loại hạt, rau củ quả tươi khô và chế biến, đường mật,…

+ Chỉ số giá hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,03% so tháng trước, tăng 3,77% so cùng kỳ. Bình quân 12 tháng năm 2021 tăng 3,29% so cùng kỳ.

- Chỉ số giá các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm: giá hàng đồ uống và thuốc lá tăng 0,80% so tháng trước, tăng 1,99% so cùng kỳ, bình quân năm 2021 tăng 0,40% so cùng kỳ; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,38% so tháng trước, giảm 0,83% so cùng kỳ, bình quân năm 2021 giảm 0,75% so cùng kỳ; nhóm hàng nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,20% so tháng trước, tăng 4,38% so cùng kỳ, bình quân năm 2021 tăng 3,03% so cùng kỳ; nhóm hàng thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,49% so tháng trước, tăng 2,88% so cùng kỳ, bình quân năm 2021 tăng 1,39% so cùng kỳ; giá nhóm hàng giao thông giảm 1,44% so tháng trước, tăng 15,54% so cùng kỳ, bình quân năm 2021 tăng 10,98% so cùng kỳ.

* Giá vàng bình quân trong tháng 12/2021 là 52,09 triệu đồng/lượng (vàng 99,99%). Chỉ số giá vàng giảm 1,23% so tháng trước, giảm 3,14% so cùng kỳ. Bình quân 12 tháng năm 2021 tăng 5,97% so cùng kỳ. Giá đồng đô la Mỹ bình quân trong tháng 12/2021 là 23.088 VN đồng/USD. Chỉ số giá đồng USD tăng 1,42% so tháng trước, giảm 0,57% so cùng kỳ. Bình quân 12 tháng năm 2021 giảm 1,13% so cùng kỳ.

4.2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và hoạt động khách sạn, nhà hàng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tháng 12/2021 ước đạt 4.699,73 tỷ đồng, tăng 4,80% so tháng trước, giảm 11,11% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.435,78 tỷ đồng, tăng 5,54% so tháng trước, giảm 8,25% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ ước đạt 56.475,58 tỷ đồng, giảm 2,89% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 52.691,73 tỷ đồng, giảm 1,62% so cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khách sạn, nhà hàng và du lịch lữ hành tháng 12/2021 ước đạt 328,63 tỷ đồng, tăng 8,49% so tháng trước, giảm 42,16% so cùng kỳ. Năm 2021 ước đạt 4.575,89 tỷ đồng, giảm 23,20% so cùng kỳ.

Lượt khách lưu trú tháng 12/2021 ước đạt 23,64 nghìn lượt khách, tăng 16,83% so tháng trước, giảm 69,37% so cùng kỳ. Năm 2021 ước đạt 861,55 nghìn lượt khách, giảm 44,62% so cùng kỳ.

Nhìn chung, do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp và kéo dài nên các hoạt động kinh doanh, mua bán của người dân và các hoạt động kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh có phần hạn chế, đa số doanh thu ở các nhóm ngành dịch vụ đều giảm so cùng kỳ năm 2020.

4.3. Hoạt động giao thông vận tải

Khối lượng vận chuyển hành khách tháng 12/2021 ước đạt 4.757,64 nghìn hành khách, tăng 6,53% so tháng trước, giảm 32,21% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 ước đạt 58.430,06 nghìn HK, giảm 25,45% so cùng kỳ.

Khối lượng luân chuyển hành khách tháng 12/2021 ước đạt 124.379,07 nghìn HK.Km, tăng 5,63% so tháng trước, giảm 33,56% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 ước đạt 1.640.283,36 nghìn HK.Km, giảm 22,11% so cùng kỳ.

Khối lượng vận chuyển hàng hóa tháng 12/2021 ước đạt 450,14 nghìn tấn, tăng 21,12% so tháng trước, tăng 65,02% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 ước đạt 3.082,32 nghìn tấn, tăng 12,50% so cùng kỳ.

Khối lượng luân chuyển hàng hóa tháng 12/2021 ước đạt 60.228,81 nghìn tấn.km, tăng 21,97% so tháng trước, tăng 66,22% so cùng kỳ. Lũy kế năm 2021 ước đạt 409.076,22 nghìn tấn.km, tăng 12,98% so cùng kỳ.

II. CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Lĩnh vực lao động việc làm, an sinh - xã hội

- Lũy kế từ đầu năm đến ngày 19/12/2021 đã giải quyết việc làm cho 27.200/39.300 người, đạt 69,21% kế hoạch năm; trong đó: lao động trong tỉnh 7.830 người, lao động ngoài tỉnh 19.274 người và lao động ngoài nước là 96 người. Lũy kế từ đầu năm đã tuyển sinh, đào tạo nghề và bồi dưỡng 15.807/28.000 lao động, đạt 56,45% so kế hoạch; trong đó: cao đẳng, trung cấp 1.151 người; hỗ trợ đào tạo sơ cấp nghề 2.396 người; đào tạo sơ cấp và bồi dưỡng 12.260 người.

- Vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa: trong tháng toàn tỉnh đã vận động được 251,88 triệu đồng; lũy kế từ đầu năm tính đến ngày 19/12/2021 toàn tỉnh đã vận động được 12,060/9,500 tỷ đồng, đạt 126,94% kế hoạch năm. Qua đó, các địa phương đã xây dựng và sửa chữa 250 căn nhà tình nghĩa; trong đó: xây mới 133 căn, sửa chữa 117 căn.

2. Giáo dục: công tác giáo dục tháng 12/2021 tập trung vào thực hiện các công việc trọng tâm sau:

- Chỉ đạo các đơn vị, trường học thực hiện nghiêm túc Kế hoạch thời gian năm học 2021 - 2022 đối với Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông và Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Cà Mau; chỉ đạo các đơn vị trường học tăng cường công tác dạy và học trực tuyến, công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong các cơ sở giáo dục.

- Chỉ đạo các đơn vị trường học tăng cường công tác bảo quản, sửa chữa tài sản trường học, xây dựng cơ sở vật chất các trường học và tiếp tục kế hoạch xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh Cà Mau; phối hợp với Văn phòng Điều phối Xây dựng nông thôn mới xem xét tiêu chí về xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia; tiếp tục thực hiện kiểm tra đánh giá đối với các trường mầm non, phổ thông trong tỉnh đề nghị công nhận đạt chuẩn quốc gia; toàn tỉnh hiện có 315/502 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 62,75%. Trong đó: có 89/132 trường MN, tỷ lệ 67,42%; 147/221 trường TH, tỷ lệ 66,52%; 76/116 trường THCS, tỷ lệ 65,52% và 03/33 trường THPT, tỷ lệ 9,10%. Ước đến cuối năm 2021, trên địa bàn tỉnh có 329/502 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 65,54%, tăng 13 trường so với kế hoạch năm, tăng 23 trường so với năm 2020.

- Triển khai hướng dẫn tổ chức dạy và học thích ứng với từng cấp độ dịch COVID-19 trong tình hình mới; chỉ đạo các đơn vị trường học xây dựng môi trường giáo dục “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”; ngăn chặn không để dịch bệnh lây nhiễm trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Cà Mau; đảm bảo thực hiện có hiệu quả “mục tiêu kép” vừa chống dịch vừa tổ chức tốt các hoạt động dạy và học.

- Chỉ đạo thực hiện kiểm tra, đánh giá cuối học kì I bằng hình thức trực tiếp; các cơ sở giáo dục xây dựng Kế hoạch kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ GD&ĐT và hướng dẫn của Sở GD&ĐT; lựa chọn phần mềm để tổ chức kiểm tra bảo đảm chính xác, công bằng, khách quan, trung thực và hiệu quả. Khuyến khích thực hiện kiểm tra đánh giá các môn học/hoạt động giáo dục thông qua bài thực hành, dự án học tập đảm bảo yêu cầu cần đạt và điều kiện thực tế.

3. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao năm 2021

Hoạt động thông tin tuyên truyền, văn hóa văn nghệ:

- Công tác tuyên truyền lưu động được triển khai thực hiện đạt hiệu quả khá tốt đa dạng hóa nội dung, phong phú hình thức để tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị của địa phương; về xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, an toàn giao thông, kỷ niệm các ngày lễ lớn, chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XVI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nhiệm kỳ 2020 - 2025; công tác tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2021 - 2026 được triển khai thực hiện có hiệu quả, thu hút sự quan tâm và thực hiện tốt nghĩa vụ cử tri của đông đảo nhân dân tỉnh.

- Nghệ thuật quần chúng và nghệ thuật chuyên nghiệp hoạt động đúng định hướng và có nhiều đổi mới như: tích hợp nội dung tuyên truyền nhiệm vụ chính trị vào các chương trình, tiết mục nghệ thuật, điều này đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền. Bên cạnh đó, trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp các đơn vị nghệ thuật đã chủ động, linh hoạt chuyển hình thức phục vụ từ trực tiếp sang thực hiện các chương trình, tiểu phẩm văn nghệ và phát trên nền tảng các trang mạng xã hội, góp phần phong phú sản phẩm giải trí cho người dân.

Lĩnh vực thể dục thể thao:

Từ đầu năm đến nay nhiều hoạt động, hội thao và giải thể thao nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, ngày kỷ niệm truyền thống và sự kiện quan trọng của tỉnh đều đảm bảo an toàn, thiết thực, hiệu quả đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia như: Hội thao Mừng Đảng mừng Xuân Tân Sửu năm 2021; Giải Việt dã Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2021; Giải chạy PetroVietNam - Cà Mau 2021; Hội khỏe Phù Đổng lần thứ XII năm 2021 với sự tham gia của lực lượng học sinh tại các trường PTTH và các phòng Giáo dục - Đào tạo trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Giải đua vỏ Composite tại huyện Đầm Dơi, trong đó có nhiều đơn vị ngoài tỉnh như: Long An, Kiên Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp tham gia; các hoạt động thể thao trải nghiệm tại sự kiện "Hương rừng U Minh" trong chuỗi sự kiện "Cà Mau - Điểm đến 2021”.

Thể thao thành tích cao từng bước ổn định, phát triển các môn thể thao mới. Do ảnh hưởng dịch COVID-19 có diễn biến phức tạp, nên thể thao thành tích cao năm 2021 chỉ tham gia thi đấu 03 giải đạt được 06 huy chương. Công tác tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện đầu tư các môn thể thao trọng điểm hướng đến mục tiêu tham dự Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ IX năm 2022, với 76 vận động viên năng khiếu tập trung tập luyện thường xuyên và 43 VĐV tuyển, trẻ.

4. Tình hình thiên tai và cháy, nổ

Tình hình thiên tai: công tác phòng chống lụt bão - khắc phục thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ luôn được các ngành chức năng kiểm tra thường xuyên và duy trì có hiệu quả. Trong tháng, do ảnh hưởng của bão trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 đợt triều cường nước dâng làm ngập hơn 154km tuyến lộ giao thông, ngập 851 căn nhà, bể 451m bờ bao vuông tôm, hư hỏng 04 cống xổ vuông, ảnh hưởng 397 ha vuông tôm; 02 cơn dông lốc làm thiệt hại 02 căn nhà; 02 vụ sạt lở đất ven sông với tổng chiều dài 476m; 06 vụ mưa lớn gây ngập lụt diện tích lúa làm thiệt hại 1.899 ha; 01 vụ gió giật mạnh trên biển làm 05 phương tiện khai thác thủy sản và 01 võ máy composite bị chìm. Tổng thiệt hại do thiên tai trong tháng khoảng 7.622 triệu đồng. Sau khi xảy ra sự việc các ngành chức năng cùng chính quyền địa phương đã đến động viên, thăm hỏi các gia đình bị thiệt hại khắc phục khó khăn, ổn định lại cuộc sống.

Cháy, nổ: công tác phòng, chống cháy nổ luôn được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm và chỉ đạo kiểm tra thường xuyên; đồng thời vận động, tuyên truyền người dân nâng cao ý thức trong công tác phòng chống cháy nổ. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy nổ.

Các ngành chức năng tiếp tục tuyên truyền người dân thực hiện tốt công tác phòng chống cháy nổ, thiên tai và luôn cảnh báo người dân sống gần khu vực bờ sông, ven biển đề phòng nguy cơ sạt lở, gió lốc nhằm tránh thiệt hại về người và tài sản.

5. Tai nạn giao thông tháng 12/2021: (từ ngày 15/11/2021 đến ngày 14/12/2021)

Trong tháng 12/2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông, giảm 02 vụ so tháng trước; làm chết 01 người, giảm 01 người so với tháng trước. Trong đó:

- Tai nạn giao thông đường bộ: tháng 12/2021 xảy ra 01 vụ, giảm 02 vụ so với tháng trước; làm chết 01 người, giảm 01 người so với tháng trước. Địa bàn xảy ra vụ tai nạn trong tháng là huyện Trần Văn Thời.

- Tai nạn giao thông đường thủy: tháng 12/2021 không xảy ra.

6. Y tế

Công tác phòng chống bệnh dịch:

Trong tháng 12/2021, tình hình một số bệnh gây dịch cụ thể như sau: bệnh tiêu chảy mắc 11 ca, tăng 57,14% so tháng trước, giảm 94,30% so cùng kỳ; bệnh sốt xuất huyết mắc 57 ca, giảm 22,97% so tháng trước, giảm 62,99% so cùng kỳ; bệnh tay chân miệng mắc 01 ca, giảm 66,67% so tháng trước, giảm 99,69% so cùng kỳ.

Lũy kế 12 tháng năm 2021, bệnh tiêu chảy mắc 1.053 ca, giảm 34,76% so cùng kỳ; bệnh sốt xuất huyết mắc 1.522 ca, tăng 89,78% so cùng kỳ; bệnh viêm não vi rút mắc 29 ca, tăng 7,41% so cùng kỳ; bệnh sởi mắc 31 ca, giảm 76,87% so cùng kỳ; bệnh tay chân miệng mắc 1.151 ca, giảm 8,43% so cùng kỳ.

Công tác khám chữa bệnh:

Trong tháng 12/2021, tổng số lượt khám bệnh là 252.965 lượt, tăng 11,81% so tháng trước; bệnh nhân điều trị nội trú 12.547 lượt, tăng 22,59%; ngày điều trị nội trú 91.178 ngày, tăng 34,68% so với tháng trước. Công suất sử dụng giường bệnh tại các đơn vị cụ thể như sau: 04 Bệnh viện tuyến tỉnh đạt trung bình 124,8%, 05 Bệnh viện đa khoa đạt trung bình 69,2%, 04 Trung tâm Y tế có giường bệnh đạt trung bình 85,2%, 07 Phòng khám đa khoa khu vực đạt trung bình 0,4%, Y tế ngành đạt 13,7%, Bệnh viện ngoài công lập đạt 45,7%.

Trên đây là những nét cơ bản về tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và 12 tháng năm 2021 tỉnh Cà Mau./.


Website Cục Thống kê tỉnh Cà Mau

    Tổng số lượt xem: 185
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.