Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ năm, ngày 7 tháng 7 năm 2022
English
a A
Ngày 31/03/2022-10:00:00 AM
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2022 của tỉnh Quảng Trị

Năm 2022, là năm thứ hai Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Quảng Trị tiếp tục thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, tạo tiền đề vững chắc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm (2021 - 2025) của tỉnh. Đây cũng là năm tỉnh Quảng Trị tổ chức Kỷ niệm 115 năm ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (07/4/1907 - 07/4/2022), 50 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị (01/5/1972 - 01/5/2022) và 50 năm sự kiện 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị…

Tỉnh Quảng Trị bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 trong bối cảnh kinh tế thế giới đối diện với những rủi ro do dịch COVID-19xuất hiện biến thể mới Omicron, tình hình căng thẳng ở Ukraine, khủng hoảng năng lượng, tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng và lạm phát tăng; tuy nhiên, thương mại toàn cầu được đánh giá khởi sắc trở lại nhờ việc các nước nới lỏng nhiều biện pháp hạn chế, chuyển sang chiến lược sống chung an toàn vớiCOVID-19. Trong nước, nền kinh tế đã ghi nhận nhiều tín hiệu phục hồi khá tích cực; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát…nhưng phải đối mặt với nhiều yếu tố rủi ro khó lường từ diễn biến phức tạp dịch COVID-19, giá nhiên liệu tăng cao…

Tại Quảng Trị, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP quy định tạm thời về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19; kịp thời có các giải pháp tích cực tháo gỡ khó khăn nên các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếp tục phục hồi…nhưng cũng đối mặt với không ít khó khăn: dịch COVID-19 với biến thể mới Omicron diễn biến phức tạp, số ca bệnh tăng cao đã ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân; giá nhiên liệu tăng cao tác động tiêu cực đến hầu hết các ngành kinh tế…Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt các Sở, ban, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong trong Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2022 của Chính phủ; Kết luận số 175-KL/TU ngày 06/12/2021 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 149/2021/NQ-HĐND ngày 09/12/2021 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022…

Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2022 tỉnh Quảng Trị đạt được những kết quả như sau:

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2022 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi; nhiệt độ thấp hơn trung bình nhiều năm nhưng chưa xảy ra rét hại; các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Chăn nuôi tiếp tục đà phục hồi, dịch bệnh ít xảy ra. Sản xuất lâm nghiệp phát triển ổn định, các địa phương thực hiện tốt “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Nhâm Dần và hưởng ứng Chương trình trồng 1 tỉ cây xanh giai đoạn 2021- 2025 của Chính phủ. Sản xuất thủy sản sản lượng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, giá các loại thủy sản có tăng nhưng do giá nhiên liệu tăng cao đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của ngành thủy sản…

1.1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

* Tiến độ sản xuất cây hàng năm vụ Đông Xuân 2021-2022

Đến ngày 15/3/2022, cây lúa gieo cấy 25.949,6 ha, tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô gieo trồng 3.068,3 ha, giảm 1,92%; khoai lang 1.121,5 ha, giảm 1,77%; sắn 8.556,9 ha, tăng 3,41%; lạc 2.872,9 ha, giảm 0,04%; rau các loại 3.672 ha, tăng 1,66%; đậu các loại 545 ha, tăng 4,81%; cây ớt cay 393,2 ha, tăng 5,90%...Cây ngô, khoai lang diện tích giảm do sản xuất kém hiệu quả nên chuyển sang trồng các loại cây khác.

Hiện nay, các loại cây trồng đang sinh trưởng và phát triển tốt. Cây lúa đang trong giai đoạn đứng cái, làm đòng; cây ngô ra 5 lá, trổ cờ, phun râu; cây lạc phân cành, ra hoa; đậu các loại vào chính vụ gieo trồng; rau các loại cho thu hoạch, sản lượng đạt 30.597 tấn, tăng 2,53% so với cùng kỳ năm 2021.

Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm chủ yếu

Ước thực hiện đến ngày 15/3/2022

(Ha)

Ước thực hiện đến15/3/2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

- Lúa

25.949,6

100,02

- Ngô

3.068,3

98,08

- Khoai lang

1.121,5

98,23

- Sắn

8.556,9

103,41

- Lạc

2.872,9

99,96

- Rau các loại

3.672,0

101,66

- Đậu các loại

545,0

104,81

- Cây ớt cay

393,2

105,90

Tình hình dịch bệnh trên cây hàng năm:Trên cây lúa, chuột gây hại 543 ha, hại nặng 17 ha, tỷ lệ hại phổ biến 5 - 10%, nơi cao 15 - 25%; bệnh đạo ôn, diện tích nhiễm 647 ha, nhiễm nặng 63 ha, tỷ lệ phổ biến 10 - 20%, nơi cao 30 - 45%, bệnh gây hại tập trung ở Gio Linh, Triệu Phong, Đông Hà...; bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn, diện tích nhiễm 103 ha, nhiễm nặng 02 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 10-20%, nơi cao 30-45%; bệnh khô vằn bắt đầu gây hại trên những chân ruộng gieo dày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 25 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao 15-20%... Ngoài ra, rầy các loại, sâu cuốn lá phát sinh rải rác. Trên cây ngô: sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 64 ha, mật độ phổ biến 2 - 4 con/m2, nơi cao 6 - 10 con/m2. Trên cây lạc: bệnh lở cổ rễ, diện tích nhiễm 30 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 3-5%, nơi cao >20%; sâu ăn lá gây hại rải rác. Trên cây sắn: bệnh khảm lá virus, diện tích nhiễm 80 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 5 - 15%, nơi cao 50 - 70%...

b. Chăn nuôi

Ước tính đến 31/3/2022, đàn trâu có 22.672 con, tăng 4,18% so với cùng thời điểm năm 2021; đàn bò có 55.640 con, tăng 0,30%; đàn lợn thịt có 140.150 con, tăng 13,64%; đàn gia cầm có 3.602,4 nghìn con, giảm 1,13%, trong đó: đàn gà 2.810 nghìn con, giảm 1,31%. Đàn trâu bò ổn định, hiện nay ngành nông nghiệp đang nổ lực nâng cao chất lượng đàn bò, tăng tỷ lệ bò lai có giá trị kinh tế cao; đẩy mạnh chăn nuôi trâu bò theo hướng bền vững. Chăn nuôi lợn tiếp tục đà phục hồi, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định; tuy nhiên, hiện nay giá thức ăn chăn nuôi tăng nên chăn nuôi lợn và gia cầm đang chững lại.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 3/2022 ước tính đạt 3.949,1 tấn, tăng 8,88% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 76,8 tấn, tăng 0,79%; thịt bò 251,2 tấn, tăng 1,29%; thịt lợn 2.340,1 tấn, tăng 11,25%; thịt gia cầm 1.281 tấn, tăng 6,81%. Sản lượng trứng gia cầm 4.276 nghìn quả, tăng 0,14%. Tính chung quý I/2022, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 12.580,3 tấn, tăng 10,06% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thịt trâu 239,9 tấn, tăng 0,80%; thịt bò 786 tấn, tăng 1,42%; thịt lợn 7.448 tấn, tăng 13,31%; thịt gia cầm 4.012 tấn, tăng 7,05%. Sản lượng trứng gia cầm 12.651 nghìn quả, tăng 0,16%.

Sản phẩm chăn nuôi

Ước

tháng 3/2022

Ước

Quý I/2022

So với cùng kỳ năm 2021 (%)

Tháng 3/2022

Quý

I/2022

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Tấn)

3.949,1

12.580,3

108,88

110,06

- Thịt trâu

76,8

239,9

100,79

100,80

- Thịt bò

251,2

786,0

101,29

101,42

- Thịt lợn

2.340,1

7.448,0

111,25

113,31

- Thịt gia cầm

1.281,0

4.012,0

106,81

107,05

Sản lượng trứng gia cầm (1000 quả)

4.276,0

12.651,0

100,14

100,16

Tình hình dịch bệnh:Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra ở 04 huyện (Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng), với tổng số 471con bị bệnh, chết buộc chôn hủy.Đến nay, trên địa bàn tỉnh còn 11 xã của 04 huyện có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày.

1.2. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp quý I/2022, các công ty lâm nghiệp và các địa phương tranh thủ thời tiết thuận lợi tiếp tục trồng rừng theo kế hoạch, tập trung chăm sóc rừng trồng, tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Nhâm Dần và hưởng ứng Chương trình trồng 1 tỉ cây xanh giai đoạn 2021- 2025 của Chính phủ.

Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 3/2022 ước tính đạt 897 ha, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 464 nghìn cây, tăng 87,10%; sản lượng gỗ khai thác 112.256 m3, tăng 1,17%; sản lượng củi khai thác 10.990 ster, tăng 0,75%. Tính chung quý I/2022, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 1.473 ha, tăng 17,84% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 1.092 nghìn cây, tăng 25,09%; sản lượng gỗ khai thác 213.271 m3, tăng 2,29%; sản lượng củi khai thác 25.145 ster, tăng 3,74%.

Trong quý I/2022, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Phát hiện 25 vụ vi phạm lâm luật, xử lý 26 vụ, tịch thu 33,7 m3gỗ các loại.

Trồng rừng và khai thác lâm sản

Ướctháng 3/2022

Ước quý I/2022

So với cùng kỳ năm 2021 (%)

Tháng 3/2022

Quý I/2022

1. Trồng rừng tập trung (Ha)

897

1.473

117,56

117,84

2. Số cây LN trồng phân tán (1000 cây)

464

1.092

187,10

125,09

3. Sản lượng gỗ khai thác (M3)

112.256

213.271

101,17

102,29

4. Sản lượng củi khai thác (Ster)

10.990

25.145

100,75

103,74

1.3. Thủy sản

Trong quý I/2022, thời tiết ngư trường tương đối thuận lợi nhưng do giá nhiên liệu tăng đã ảnh hưởng đến thu nhập của ngư dân nên số chuyến biển giảm đi. Sản lượng thuỷ sản khai thác có tăng nhưng giá trị kinh tế thấp, chủ yếu là cá nục, cá cơm...Sản lượng thủy sản nuôi trồng tương đối ổn định.

Sản lượng thủy sản tháng 3/2022 ước tính đạt 4.053,1 tấn, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá 2.679,6 tấn, tăng 3,19%; tôm 513,5 tấn, tăng 0,98%; thủy sản khác 860 tấn, giảm 7,63%. Tính chung quý I/2022, sản lượng thủy sản ước tính đạt 8.041,4 tấn, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá 5.265,3 tấn, tăng 3,25%; tôm 939 tấn, tăng 4,50%; thủy sản khác 1.837,1 tấn, giảm 5,11%. Cụ thể:

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 3/2022 ước tính đạt 1.212,6 tấn, tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 709,6 tấn, giảm 0,15%; tôm 495 tấn, tăng 2,70%. Tính chung quý I/2022, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 2.054 tấn, tăng 0,88% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 1.200 tấn, tăng 0,33%; tôm 846 tấn, tăng 1,68%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 3/2022 ước tính đạt 2.840,5 tấn, tăng 0,18% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 1.970 tấn, tăng 4,45%; thủy sản khác 852 tấn, giảm 7,69%. Tính chung quý I/2022, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 5.987,4 tấn, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: cá 4.065,3 tấn, tăng 4,14%; thủy sản khác 1.829,1 tấn, giảm 5,13%.

Sản lượng thủy sản

Ước tháng 3/2022

(Tấn)

Ước

Quý I/2022

(Tấn)

So với cùng kỳ năm 2021 (%)

Tháng 3/2022

Quý I/2022

Tổng sản lượng thủy sản

4.053,1

8.041,0

100,42

101,34

1. Chia theo loại thủy sản

- Cá

2.679,6

5.265,0

103,19

103,25

- Tôm

513,5

939,0

100,98

104,45

- Thủy sản khác

860,0

1.837,0

92,37

94,89

2. Chia theo nuôi trồng, khai thác

- Nuôi trồng

1.212,6

2.064,0

100,99

100,88

- Khai thác

2.840,5

5.987,0

100,18

101,50

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2022 tăng 5,80% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng thấp nhất của quý I các năm từ 2018 đến nay[1]; cho thấy ngành công nghiệp đang gặp khó khăn, chưa phục hồi. Trong mức tăng chung của ngành công nghiệp, sản xuất và phân phối điện tăng cao nhất 31,24% do những tháng cuối năm 2021 có một số dự án điện gió hoàn thành đi vào vận hành; ngành khai khoáng quy mô nhỏ, tăng trưởng ổn định 6,61%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,14% do một số doanh nghiệp khó khăn về nguyên vật liệu và đơn hàng tiêu thụ, một số doanh nghiệp thiếu lao động do dịch COVID-19 với biến thể mớiOmicron diễn biến phức tạp, số ca bệnh tăng cao,một số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mới chưa có chổ đứng trên thị trường…

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2022 ước tính tăng 15,97% so với tháng trước và tăng 8,47% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành khai khoáng tăng 7,55% và giảm 8,66%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,97% và tăng 2,22%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,11% và tăng 42,2%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,06% và tăng 17,86%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2022 tăng khá cao so với tháng trước chủ yếu do thời gian làm việc nhiều hơn tháng trước (tháng Hai trùng vào Tết Nguyên đán).

Tính chung quý I/2022, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 5,80% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: ngành khai khoáng tăng 6,61%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,14%; sản xuất và phân phối điện tăng 31,24%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,70%.

Trong ngành công nghiệp cấp 2, các ngành có chỉ số sản xuất quý I/2022 so với cùng kỳ năm trước tăng cao hơn chỉ số chung là: dệt tăng 59,86%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 35%; sản xuất và phân phối điện tăng 31,24%; khai thác quặng kim loại tăng 20,75%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,04%; khai thác xử lý và cung cấp nước tăng 11,63%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,47%. Các ngành có chỉ số tăng thấp hơn chỉ số chung là: sản xuất trang phục tăng 4,99%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 2,19%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 1,70%. Ở chiều ngược lại, các ngành có chỉ số sản xuất giảm: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 0,66%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 6,72%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 10,52%; khai khoáng khác giảm 15,42%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 17,16%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 19,04%; sản xuất da và sản phẩm có liên quan giảm 22,37%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 26,65%; sản xuất đồ uống giảm 27,43%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 46,60%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Tháng 3/2022 so với tháng 02/2022

(%)

Tháng 3/2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

Quý I/2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

Toàn ngành công nghiệp

115,97

108,47

105,80

- Khai khoáng

107,55

91,37

106,61

- Công nghiệp chế biến, chế tạo

116,97

102,20

99,86

- Sản xuất và phân phối điện

117,11

142,20

131,24

- Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

99,94

117,86

105,70

Một số sản phẩm chủ yếu trong quý I/2022 so với cùng kỳ năm trước tăng cao: săm dùng cho xe máy, xe đạp tăng 64,91%; điện sản xuất tăng 47,69%; dăm gỗ tăng 29,17%; dầu nhựa thông tăng 26,99%...Một số sản phẩm tăng thấp: tinh bột sắn tăng 14,26%; com lê, quần áo tăng 13,47%; ván ép tăng 10,34%; gỗ cưa hoặc xẻ tăng 9,65%; nước máy tăng 9,32%; điện thương phẩm tăng 7,79%; thủy hải sản chế biến tăng 6,28%...Một số sản phẩm giảm: nước hoa quả, tăng lực giảm 1,91%; xi măng giảm 3,32%; lốp dùng cho xe máy, xe đạp giảm 5,66%; gạch khối bằng bê tông giảm 16,71%; đá xây dựng giảm 20,97%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 27,07%; bia lon giảm 29,03%; phân hóa học giảm 37,82%; tấm lợp proximăng giảm 46,42%...

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2022 giảm 0,47% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 3,43% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó: lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 0,06% và giảm 21,29%, doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,71% và tăng 21,72%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,98% và tăng 35,95%. Xét theo ngành hoạt động, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng bằng cùng thời điểm tháng trước và giảm 7,18% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,46% và giảm 3,80%; sản xuất và phân phối điện giảm 1,10% và tăng 2,28%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,20% và giảm 2,34%. Nguyên nhân số lao động đang làm việc giảm so với cùng thời điểm năm trước là do công tác quản lý khai thác khoáng sản ngày càng chặt chẽ hơn nên các doanh nghiệp khai thác khoáng sản thu hẹp quy mô, dịch COVID-19 với biến thể mớiOmicron diễn biến phức tạp, số ca bệnh tăng cao, người lao động nghỉ làm việc nhiều.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Quý I/2022, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 31,03% và số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 34,92% so với cùng kỳ năm trước cho thấyNghị quyết số 128/NQ-CP đã góp phần quan trọng trong khôi phục sản xuất và thúc đẩy thị trường, từng bước tạo niềm tin cho các doanh nghiệp.Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tăng 36,08% và số doanh nghiệp giải thể tăng 57,14%, đây phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, dễ chịu tổn thương do tác động của thị trường.

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm đến 15/3/2022, toàn tỉnh có 114 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 31,03% so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 1.106 tỷ đồng, tăng 25,97%; số vốnđăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,70 tỷ đồng, giảm 3,87%. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động là 132 doanh nghiệp, tăng 36,08% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp giải thể là11doanh nghiệp, tăng 57,14%; số doanh nghiệp trở lại hoạt động là 85 doanh nghiệp, tăng 34,92%. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ thuộc các ngành xây dựng, thương mại và dịch vụ gặp khó khăn về vốn, để bị tổn thương do tác động từ bên ngoài, kinh doanh kém hiệu quả…

Trong số doanh nghiệp thành lập mới quý I/2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 5 doanh nghiệp, tăng 66,67% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp xây dựng có 33 doanh nghiệp, giảm 5,71%; khu vực dịch vụ có 76 doanh nghiệp, tăng 55,10%.

4. Hoạt động dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng Ba, sau Tết Nguyên đán hoạt động thương mại và dịch vụ trở lại bình thường. Trên thị trường giá một số hàng hoá nguyên, nhiên, vật liệu tăng theo giá thị trường thế giới làm cho giá các hàng hoá khác tăng theo. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2022 tăng 5,55% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì chỉ tăng 2,56% cho thấy tăng chủ yếu do yếu tố giá cả. Tính chung quý I/2022, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 5,53% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2021 tăng 9,67%), nếu loại trừ yếu tố giá cả chỉ tăng 3,16% cho thấy cầu tiêu dùng phục hồi chậm.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2022 ước tính đạt 1.970,29 tỷ đồng, tăng 3,24% so với tháng trước và tăng 5,55% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu bán lẻ hàng hóa 1.596,65 tỷ đồng, tăng 3,65% và tăng 5,50%; doanh thu lưu trú và ăn uống 258,99 tỷ đồng, tăng 2,61% và tăng 6,27%; doanh thu dịch vụ khác 114,65 tỷ đồng, giảm 0,77% và tăng 4,65%. Hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành do ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến nay vẫn nên chưa hoạt động trở lại.

Tính chung quý I/2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 5.843,66 tỷ đồng, tăng 5,53% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3,16%.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 4.719,92 tỷ đồng, chiếm 80,77% tổng mức và tăng 5,62% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng có tổng mức bán lẻ hàng hóa lớn và tăng khá như: ô tô các loại tăng 29,55%; lương thực, thực phẩm tăng 12,54%...; ngược lại, các nhóm hàng hoá có tổng mức hàng hoá lớn và giảm như: gỗ và vật liệu xây dựng giảm 4,57%, đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 3,39%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước tính đạt 773,73 tỷ đồng, chiếm 13,24% tổng mức và tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu dịch vụ lưu trú 21,15 tỷ đồng, tăng 12,66%; doanh thu dịch vụ ăn uống 752,58 tỷ đồng, tăng 5,59%. Quý I/2022, khách du lịch nội địa tăng trở lại nên hoạt động kinh doanh lưu trú có dấu hiệu khới sắc.

Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 350,01 tỷ đồng, chiếm 5,99% tổng mức và tăng 3,92% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Ước tháng 3/2022

( Tỷ đồng)

Ước quý

I/2022

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng mức

(Tỷ đồng)

Cơ cấu

(%)

Tháng 3/2022

Quý

I/2022

Tổng số

1.970,29

5.843,66

100,00

105,55

105,53

- Bán lẻ hàng hóa

1.596,65

4.719,92

80,77

105,50

105,62

- Lưu trú và ăn uống

258,99

773,73

13,24

106,27

105,77

- Du lịch lữ hành

-

-

-

-

-

- Dịch vụ khác

114,65

350,01

5,99

104,65

103,92

4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Tháng 3/2022, sau Tết nguyên đán hoạt động kinh doanh vận tải trở lại bình thường; giá nhiên liệu tăng cao đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh vận tải. Tháng 3/2021, ước tính hành khách vận chuyển giảm 5,92%, hàng hoá vận chuyển tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2022, hành khách vận chuyển giảm 5,28%, hàng hoá vận chuyển tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. .

Doanh thu vận tải tháng 3/2022 ước tính đạt 164,75 tỷ đồng, tăng 1,64% so với tháng trước và tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu vận tải hành khách 27,77 tỷ đồng, giảm 4,55% và giảm 8,61%; doanh thu vận tải hàng hóa 117,47 tỷ đồng, tăng 3,29% và tăng 2,56%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 19,51 tỷ đồng, tăng 1,25% và tăng 11,25%. Tính chung quý I/2022, doanh thu vận tải ước tính đạt 489,98 tỷ đồng, tăng 1,33% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: doanh thu vận tải hành khách 82,62 tỷ đồng, giảm 6,21%; doanh thu vận tải hàng hóa 345,56 tỷ đồng, tăng 2,62%; doanh thu dịch vụ hổ trợ vận tải 61,80 tỷ đồng, tăng 5,20%.

Số lượt hành khách vận chuyển tháng 3/2022 ước tính đạt 525,3 nghìn HK, giảm 29% so với tháng trước và giảm 5,92% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 39.859,3 nghìn HK.km, giảm 36,06% và giảm 14,25%. Tính chung quý I/2022, số lượt hành khách vận chuyển ước tính đạt 1.873 nghìn HK, giảm 5,28% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển 149.261,8 nghìn HK.km, giảm 6,82%. Vận tải hành khách tháng Ba giảm mạnh so với tháng trước do tháng Hai trùng vào Tết nguyên đán nhu cầu đi lại tăng cao. Vận tải hành khách tháng Ba và quý I/2022 giảm so với cùng kỳ năm trước do dịch COVID-19 với biến thể mớiOmicron diễn biến phức tạp và giá cước vận tải tăng nên người dân ngại đi lại.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 3/2022 ước tính đạt 931,2 nghìn tấn, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 65.452,8 nghìn tấn.km, tăng 0,79% và giảm 3,88%. Tính chung quý I/2022, khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tính đạt 2.777,5 nghìn tấn, tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển 195.529,8 nghìn tấn.km, tăng 1,68%. Vận tải hàng hoá tháng Ba và quý I/2022 chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu vận tải hàng hoá phục vụ sản xuất kinh doanh nội tỉnh trong điều kiện kinh tế đang phục hồi.

Vận tải hành khách và hàng hóa

Ước tháng 3/2022

Ước quý I/2022

So với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 3/2022

Quý

I/2022

1. Vận tải hành khách

- Vận chuyển (Nghìn HK)

525,3

1.873,0

94,08

94,72

- Luân chuyển (Nghìn HK.Km)

39.859,3

149.261,8

85,75

93,18

2. Vận tải hàng hóa

- Vận chuyển (Nghìn tấn)

931,2

2.777,5

102,17

101,86

- Luân chuyển (Nghìn tấn.Km)

65.452,8

195.529,8

96,12

101,68

4.3. Khách lưu trú và du lịch lữ hành

Quý I/2022, tỉnhtiếp tục thực hiện các biện pháp phòng chống dịch COVID-19 theo cấp độ 2 của Nghị định 128/NĐ-CP; trên phạm vi cả nước hoạt động du lịch, giao thương trở lại bình thường nên hoạt động kinh doanh lưu trú đã có những chuyển biến tích cực nhưng phục hồi chậm; riêng hoạt động du lịch lữ hành các đơn vị vẫn chưa hoạt động trở lại. Số lượt khách lưu trú tháng 3/2022 tăng 2,79% so với tháng trước và tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2022, số lượt khách lưu trú tăng 6,41% so với cùng kỳ năm trước.

Số lượt khách lưu trú tháng 3/2022 ước tính đạt 15.013 lượt, tăng 2,79% so với tháng trước và tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú (chỉ tính khách ngũ qua đêm) 15.093 ngày khách, tăng 4,27% và tăng 8,10%.

Tính chung quý I/2022, số lượt khách lưu trú ước tính đạt 44.869 lượt, tăng 6,41% so với cùng kỳ năm trước; số ngày khách lưu trú 44.361 ngày khách, tăng 7,66%.

4.4. Hoạt động bưu chính, viễn thông

Hoạt động bưu chính, viễn thông phát triển ổn định. Các công ty bưu chính, viễn thông đa dạng hóa các gói dịch vụ, nâng cấp băng thông cho thiết bị di động…phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 215 điểm cung cấp dịch vụ bưu chính, trong đó có: 86 bưu cục cấp 2, cấp 3 và điểm phục vụ; 01 bưu cục hệ 1; có 114/125 xã, phường có điểm bưu điện văn hóa xã; 08 chi nhánh chuyển phát và kho bưu chính; 03 văn phòng đại diện; 03 thùng thư công cộng độc lập. Có 101/125 xã, phường, thị trấn và 9/10 huyện, thị xã, thành phố có báo đến trong ngày (huyện đảo Cồn Cỏ chưa có). Bán kính phục vụ bình quân 2,381 km/1 điểm phục vụ; số dân được phục vụ 3.020 người/1 điểm phục vụ.

Tổng số trạm thu phát sóng điện thoại di động (BTS) là 2.977 trạm (819 trạm 2G, 1.100 trạm 3G, 1.058 trạm 4G).

Ước tính đến 31/3/2022, toàn tỉnh có 674.826 thuê bao điện thoại, tăng 3,47% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó có 7.928 thuê bao cố định, giảm 11,69% và 666.898 thuê bao di động, tăng 3,69%. Số thuê bao Internet hiện có là 112.161 thuê bao, tăng 11,93% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ người sử dụng điện thoại di động 80%, tỷ lệ người sử dụng internet 89,19%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng

Quý I/2022, thực hiện Nghị quyết128/NQ-CP quy định tạm thời về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19;hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh trở lại trạng thái bình thường nên nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng, tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế cuối tháng 02/2022 tăng khá 4,91% so với cuối năm 2021; do lãi suất tiền gửi tiết kiệm thấp hơn so với các canh đầu tư khác nên huy động vốn trên địa bàn chỉ tăng nhẹ 0,23%.

Lãi suất cho vay trên địa bàn Quảng Trị trong quý I/2022 cơ bản ổn định so với cuối năm 2021, thị trường tiền tệ ổn định. Hiện lãi suất cho vay VND ngắn hạn phổ biến từ 4,5-8%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn phổ biến 7-10/năm.

Huy động vốn trên địa bàn đến 28/02/2022 đạt 30.617 tỷ đồng, tăng 0,23% (+69 tỷ đồng) so với cuối năm 2021; bao gồm: tiền gửi tiết kiệm 24.119 tỷ đồng, tăng 2,52% (+592 tỷ đồng); tiền gửi thanh toán 4.347 tỷ đồng, giảm 5,84% (-269 tỷ đồng); huy động khác 1.432 tỷ đồng, giảm 15,01% (-253 tỷ đồng); phát hành giấy tờ có giá 719 tỷ đồng, tăng 0,14% (-01 tỷ đồng). Ước đến 31/3/2022, huy động vốn trên địa bàn đạt 30.700 tỷ đồng, tăng 0,50% (+154 tỷ đồng) so với cuối năm 2021.

Tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đến 28/02/2022 đạt 45.886 tỷ đồng, tăng 4,91% (+2.146 tỷ đồng) so với cuối năm 2021; bao gồm: dư nợ cho vay ngắn hạn 23.159 tỷ đồng, chiếm 50,47%, tăng 5,71% (+1.251 tỷ đồng); dư nợ cho vay trung và dài hạn 22.727 tỷ đồng, chiếm 49,53%, tăng 4,1% (+895 tỷ đồng). Ước tính đến 31/3/2022, dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đạt 46.362 tỷ đồng, tăng 6% (+2.634 tỷ đồng) so với cuối năm 2021.

Nợ xấu đến 28/02/2022 là 472,7 tỷ đồng, chiếm 1,03% tổng dư nợ. Ước tính đến 31/3/2022 nợ xấu là 463,6 tỷ đồng, chiếm 1% tổng dư nợ.

2. Thu, chi ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quý I/2022 đạt khá cao so với dự toán và tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước, nhất là các khoản thu về đất. Chi ngân sách nhà nước, cũng như hàng năm quý I/2022 tỷ lệ chi còn thấp so với dự toán; chỉ đảm bảo nhu cầu quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính, giáo dục, y tế…

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu năm đến ngày 18/3/2022 đạt 1.553,77 tỷ đồng, bằng 37,44% dự toán địa phương và tăng 98% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: thu nội địa 1.426 tỷ đồng, bằng 40,74% dự toán và tăng 167,50% so với cùng kỳ năm trước; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 112,20 tỷ đồng, bằng 17,26% dự toán và giảm 46,60%. Trong thu nội địa, một số khoản thu lớn như: thu tiền sử dụng đất 792,39 tỷ đồng, tăng 587,04% so với cùng kỳ năm trước; thu ngoài quốc doanh 199,92 tỷ đồng, tăng 11,50%; thu cho thuê mặt đất, mặt nước 103,46 tỷ đồng, tăng 1.325,88%; lệ phí trước bạ 63,93 tỷ đồng, tăng 45,94%; thuế bảo vệ môi trường 56,26 tỷ đồng, giảm 8,18%; thu từ doanh nghiệp nhà nước 54,45 tỷ đồng, giảm 12,40%...

Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến 18/3/2022 đạt 2.227,48 tỷ đồng, bằng 23,59% dự toán địa phương và tăng 32% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: chi đầu tư phát triển 419,56 tỷ đồng, bằng 24,36% dự toán và tăng 167% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên 1.086,04 tỷ đồng, bằng 20,13% dự toán và tăng 11%. Trong chi thường xuyên, một số khoản chi lớn như: chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề 465,55 tỷ đồng, tăng 0,84% so với cùng kỳ năm trước; chi quản lý hành chính 253,05 tỷ đồng, tăng 2,43%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội 125,60 tỷ đồng, tăng 81,84%; chi sự nghiệp kinh tế 81,71 tỷ đồng, tăng 7,68%; chi sự nghiệp y tế, dân số và KHH gia đình 61,51 tỷ đồng, tăng 12,97%...

Thu, chi ngân sách nhà nước

Thực hiện đến 18/3/2022

( Tỷ đồng)

Thực hiện đến 18/3/2022 so với dự toán ĐP 2022 (%)

Thực hiện đến 18/3/2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

1. Tổng thu NSNN trên địa bàn

1.553,77

37,44

198,00

TĐ: - Thu nội địa

1.426,00

40,74

267,50

- Thu từ hoạt động XNK

112,20

17,26

53,40

2. Tổng chi NSNN địa phương

2.227,48

23,59

132,00

TĐ: - Chi đầu tư phát triển

419,56

24,36

267,00

- Chi thường xuyên

1.086,04

20,13

111,00

3. Đầu tư và xây dựng

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2022 (giá hiện hành) ước tính đạt 4.741,49 tỷ đồng, tăng 16,15% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy tín hiệu tích cực trong việc huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển. Trong đó: nguồn vốn khu vực nhà nước tăng cao nhất 23,40%, đây là kết quả của việc đôn đốc, chỉ đạo triển khai quyết liệt, hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước tăng 15,56%, chủ yếu là vốn đầu tư thực hiện các dự án điện gió.

Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý I/2022 (giá hiện hành) ước tính đạt 4.741,49 tỷ đồng, tăng 16,15% so với cùng kỳ năm trước (Quý I/2021 tăng 10,75%); bao gồm: vốn khu vực nhà nước 992,24 tỷ đồng, chiếm 20,93% và tăng 23,40% so với cùng kỳ năm trước; vốn của dân cư và tư nhân 3.739,73 tỷ đồng, chiếm 78,87% và tăng 15,56%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 9,52 tỷ đồng, chiếm 0,20% và giảm 77,40%.

Trong vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý I/2022, vốn đầu tư xây dựng cơ bản 3.958,21 tỷ đồng, tăng 18,38% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư mua sắm TSCĐ không qua xây dựng cơ bản 668,43 tỷ đồng, tăng 71,42%; vốn đầu tư nâng cấp, sửa chửa lớn TSCĐ 109,60 tỷ đồng, giảm 66,42%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 5,25 tỷ đồng, giảm 28,72%.

Trong tổng vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước quý I/2022, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 505,18 tỷ đồng, bằng 15,52% kế hoạch năm 2022 và tăng 8,01% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 407,84 tỷ đồng, bằng 15,66% kế hoạch và tăng 2,90%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 89,21 tỷ đồng, bằng15,60% kế hoạch và tăng 29,90%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 8,14 tỷ đồng, bằng 10,41% kế hoạch và tăng 201,22%. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I/2022 đã có những chuyển biến tích cực, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành ở địa phương nhằm thực hiện hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của Chính phủ.

Vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn

Ước thực hiện

quý I/2022

(Tỷ đồng)

Ước thực hiện

quý I/2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tổng số

4.741,49

116,15

- Vốn khu vực nhà nước

992,24

123,40

- Vốn của dân cư và tư nhân

3.739,73

115,56

- Vốn đầu tư trực tiếp NN

9.52

22,60

Tình hình thu hút vốn đầu tư:Trong quý I/2022, trên địa bàn tỉnh đã thu hút 11 dự án đầu tư với số vốn đăng ký là 348,9 tỷ đồng; trong đó: trong khu công nghiệp, khu kinh tế thu hút 04 dự án với số vốn đăng ký là 158,9 tỷ đồng.

Vốn FDI:Trong quý I/2022, không có dự án FDI đăng ký đầu tư mới. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 19 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 2.488 triệu USD. Ước tính vốn thực hiện của các dự án đầu tư nước ngoài quý I/2022 là 0,42 triệu USD, giảm 27,59% so với cùng kỳ năm trước.

Về tiến độ giải ngân vốn:tình hình giải ngân vốn đầu tư những tháng đầu năm còn chậm. Tính đến 15/3/2022, Kho bạc Nhà nước tỉnh giải ngân 254,8 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương do tỉnh quản lý, chỉ đạt 7,80% kế hoạch vốn UBND tỉnh phân bổ đợt 1 năm 2022.

4.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Giá nhiên liệu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới, giá điện sinh hoạt và giá ga tăng, giá nhiều nhóm hàng tăng do phí vận tải tăng…là các yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2022 tăng 0,40% so với tháng trước, đây là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm qua[2]. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2022 tăng 1,58% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,91% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ sốgiá tiêu dùng bình quân quý I/2022 tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 0,83% của cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2022 tăng 0,40% so với tháng trước, tăng 1,58% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,91% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2022 tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 2,29% của chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2022 so với cùng kỳ năm trước có 7/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng là: giao thông tăng 16,38%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,55%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,37%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,78%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1,14%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,70%; giáo dục tăng 0,67%. Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,77% (lương thực giảm 0,66%, thực phẩm giảm 2,82%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,63%); may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,27%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%. Nhóm hàng hoá thuốc và dịch vụ y tế giá ổn định.

Chỉ số giá vàng tháng 3/2022 tăng 7,04% so với tháng trước, tăng 9,95% so với tháng 12 năm trước và tăng 20,05% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân quý I/2022 tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2022 tăng 0,68% so với tháng trước, tăng 0,05% so với tháng 12 năm trước và giảm 0,63% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân quý I/2022 giảm 1,03 so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

Tháng 3 năm 2022 so với

BQ

quý I/ 2022 so với cùng kỳ năm trước (%)

Tháng 3/2021

(%)

Tháng 12/2021

(%)

Tháng 02/2022

(%)

1. Chỉ số giá tiêu dùng

102,91

101,58

100,40

102,29

2. Chỉ số giá vàng

120,05

109,75

107,04

113,13

3. Chỉ số giá đô la Mỹ

99,37

100,05

100,68

98,97

III. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Năm 2021, mặc dù gặp nhiều khó nhưng kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt được kết quả đáng ghi nhận, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 6,5%. Bước vào năm 2022, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân toàn tỉnh tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra trong năm 2022.

Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, tại thời điểm cuối năm 2021 toàn tỉnh có 10.431 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,82% và 10.367 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 5,78%.

Trong quý I/2022, Tỉnh đã triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 31/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm. Chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ Nhân dân đón Tết, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương tiến hành rà soát, nắm chắc tình hình đời sống của các gia đình chính sách, hộ nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, nhất là các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để có giải pháp giúp đỡ, hỗ trợ kịp thời, hiệu quả theo chủ trương mọi người, mọi nhà đều vui Xuân, đón Tết. Các ngành, các địa phương đã tổ chức thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo chu đáo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân…Trong quý I/2022, tình hình thiếu đói trong dân không xảy ra.

Trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022, tỉnh Quảng Trị đã trao tặng 99.998 suất quà cho người có công, gia đình chính sách người có công, người nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng khác với tổng kinh phí là 50.296,7 triệu đồng. Trong đó:

- Quà của Chủ tịch nước là 8.183,7 triệu đồng để tặng 26.820 suất quà cho người có công và gia đìnhchính sách người có công.

- Quà từ Ngân sách địa phương (tỉnh/huyện/xã) là 3.953 triệu đồng để tặng 7.906 suất quà cho gia đình người có công, gia đình chính sách có công với cách mạng, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng chính sách khác.

- Quà từ nguồn kinh phí xã hội hóa là 38.250 triệu đồng để trao tặng 65.272 suất quà cho hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Ngoài ra tỉnh đã phân bổ 1.065 tấn gạo để cứu trợ cho hộ nghèo, hộ bảo trợ xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp hoàn cảnh khó khăn (14.907 hộ, 70.982 nhân khẩu) trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022

Thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, Nghị quyết 126/NQ-CP của Chính phủ; Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và Quyết định 33/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 đến ngày 14/03/2022: tổng số kinh phí đã hỗ trợ là 75.642 triệu đồng; trong đó: số người lao động được hỗ trợ là 43.833 người với số tiền 30.002 triệu đồng; số đơn vị sử dụng lao động được hỗ trợ là 11.254 đơn vị với số tiền 32.162 triệu đồng; số người dân được hỗ trợ là 10.331 người với số tiền 13.478 triệu đồng. Riêng trong quý I/2022, số tiền đã hỗ trợ 63.767 triệu đồng.

Tiếp tục triển khai Nghị Quyết 116/NQ-CP của Chính phủ, Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng do đại dịch COVID-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Tính đến ngày 18/03/2022, đã có 38.541 lao động đề nghị hỗ trợ, cơ quan BHXH đã giải quyết chi trả cho 35.867 lao động đủ điều kiện hưởng với số tiền tương ứng 88.200 triệu đồng; số đơn vị được Thông báo giảm đóng BHTN là: 1.467 đơn vị với 30.208 lao động, số tiền dự kiến giảm mức đóng BHTN từ 1% xuống 0% quỹ tiền lương tháng của người lao động thuộc đối tượng đang tham gia BHTN thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động trong 12 tháng, kể từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 30/9/2022 là 17.600 triệu đồng. Riêng trong quý I/2022 đã giải quyết chi trả cho 4.823 lao động đủ điều kiện hưởng với số tiền 13.300 triệu đồng; số tiền các đơn vị được thông báo giảm đóng BHTN là 2.500 triệu đồng.

2. Giáo dục và Đào tạo

Trước tình hình dịch bệnh COVID-19 có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục, ngành giáo dục đã bám sát các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh để chỉ đạo các đơn vị, trường học mở cửa trường học trở lại an toàn, ổn định tình hình dạy học bình thường, tập trung vào các hoạt động chuyên môn, rà soát phân loại học sinh để có biện pháp hỗ trợ, phụ đạo kịp thời, kiên trì mục tiêu chất lượng. Các đơn vị trường học chủ động, linh hoạt trong việc đề xuất hình thức dạy học phù hợp tình hình dịch bệnh COVID-19 tại đơn vị.

Triển khai mô hình “Trường học văn minh, học sinh thân thiện, không tệ nạn xã hội” trong các cơ sở giáo dục, đào tạo theo Kế hoạch số 207/KH-UBND ngày 25/12/2021 của UBND tỉnh.

Tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi văn hoá quốc gia lớp 12 THPT tại tỉnh Quảng Trị vào ngày 4-5/3/2022 gồm 09 môn thi với 54 thí sinh dự thi. Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai chấm thi.

Tổ chức Cuộc thi Khoa học kỹ thuật học sinh trung học năm học 2021 - 2022 và tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm Cuộc thi KHKT dành cho học sinh trung học tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2011 - 2021; Hội thi giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp THPT cấp tỉnh năm học 2021 - 2022; Hội thi giáo viên dạy giỏi mầm non cấp tỉnh năm học 2021 - 2022; Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp Giáo dục thường xuyên.

Tổ chức Kỳ thi học sinh giỏi văn hóa lớp 9 năm học 2021 - 2022 vào ngày 16/3/2022 theo Công văn số 430/SGDĐT-QLCLCNTT ngày 08/3/2022 của Sở. Tổ chức tốt thi Nghề phổ thông cho học sinh tại các điểm thi đặt tại các huyện, thị xã, thành phố.

Triển khai xây dựng học liệu, video bài giảng để dạy học qua truyền hình, internet đối với giáo dục trung học và hỗ trợ phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non tại gia đình trong điều kiện dịch COVID-19. Tổ chức “Ngày hội giao lưu Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” cấp tỉnh.

Tiếp tục chuẩn bị các điều kiện để áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới tại địa phương, Sở Giáo dục và Đào tạo đã chủ động phối hợp với các Nhà xuất bản sách giáo khoa tổ chức Hội thảo lựa chọn sách giáo khoa theo đúng tiêu chí quy định, phù hợp với tình hình địa phương, giáo dục Quảng Trị và đảm bảo thời gian để sớm có được các Bộ sách giáo khoa đưa vào sử dụng ngay từ đầu năm học 2022 – 2023.

Trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, các đơn vị, trường học đã huy động các nguồn lực xã hội, sự đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, tổ chức nhiều chương trình có ý nghĩa như “Xuân đầm ấm - Tết yêu thương”, “Xuân yêu thương”, “Thắp sáng ước mơ”, “Đêm yêu thương”, “Tết vì bạn nghèo”, đã trao 5.063 suất quà cho cán bộ, giáo viên, học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

3. Tình hình dịch bệnh, HIV/AIDS và ngộ độc thực phẩm

Trong quý I/2022, trên địa bàn tỉnh dịch bệnh COVID-19 đang có diễn biến phức tạp, số ca bệnh trong cộng đồng tăng cao so với những năm trước. Công tác phòng chống dịch COVID-19 thực hiện theo Nghị quyết 128/NQ-CP, tỉnh đang áp dụng các biện pháp phòng chống dịch cấp độ 2 đối với 8/10 đơn vị cấp huyện và cấp độ 1 đối với 2/10 đơn vị cấp huyện.

Kể từ khi có dịch COVID-19 đến 17/03/2022, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 49.917 ca bệnh, có 46 ca tử vong (năm 2020 có 07 ca mắc, 01 ca tử vong; năm 2021 có 2.237 ca mắc, 03 ca tử vong; năm 2022 có 47.673 ca mắc, 42 ca tử vong). Riêng trong tháng 3/2022 (từ 16/02/2022 đến 17/03/2022) có 40.306 ca mắc.Hiện còn 612 ca bệnh đang điều trị tại cơ sở y tế và 14.072 ca bệnh đang cách ly tại nhà, tại nơi lưu trú.

Từ tháng 4/2021 đến 14/03/2022, tỉnh đã được Bộ Y tế phân bổ 1.258.612 liều vắc xin phòng COVID-19, số vắc xin đã sử dụng là 1.215738 liều, đạt 96,6%. Số người từ 18 tuổi trở lên được tiêm ít nhất 1 mũi vắc xin là 451.267 người (đạt 99,51%); Số người từ 18 tuổi trở lên tiêm đủ 2 mũi vắc xin là 421.256 người (đạt 92,89 %); Trẻ em 12-17 tuổi đã được tiêm 1 mũi vắc xin là 65.173 người (đạt 99,38%), tiêm đủ 2 mũi vắc xin là 60.089 người (đạt 91,62%).

Trong tháng trên địa bàn tỉnh có 497 trường hợp mắc bệnh cúm; 02 trường hợp mắc bệnh lỵ Amip; 08 trường hợp mắc bệnh lỵ trực trùng; 02 trường hợp mắc bệnh quai bị; 06 trường hợp mắc thuỷ đậu; 80 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy. Tính chung quý I/2022, trên địa bàn tỉnh có 1.232 trường hợp mắc bệnh cúm, giảm 34,68% so với cùng kỳ năm trước; 06 trường hợp mắc bệnh lỵ Amip, giảm 71,43%; 32 trường hợp mắc bệnh lỵ trực trùng, giảm 49,21%; 07 trường hợp mắc bệnh quai bị, tăng 75%; 11 trường hợp mắc thuỷ đậu, giảm 68,57%; 277 trường hợp mắc bệnh tiêu chảy, giảm 15,29%; 11 trường hợp mắc bệnh viêm gan virut, giảm 68,57%; 04 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 90,48%; không có trường hợp sốt rét và tay chân miệng....Trong quý I/2022, hầu hết các loại bệnh dịch xảy ra trên địa bàn tỉnh đều giảm so cùng kỳ năm trước. Không có trường hợp tử vong do bệnh dịch.

Trong tháng không phát hiện trường hợp nhiễm HIV. Tính đến nay, số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị là 269 người (số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 11 trẻ, số bà mẹ mang thai nhiễm HIV sinh con là 40 bà mẹ); số bệnh nhân tử vong do AIDS toàn tỉnh tính đến thời điểm trên là 99 người.

Trong quý I/2022 trên địa bàn tỉnh không có ngộ độc thực phẩm lớn xảy ra.

4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Quý I/2022, toàn tỉnh đã tổ chức thực hiện tốt công tác trang trí khánh tiết, tuyên truyền cổ động trực quan chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng trong năm 2022: Kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Nhâm Dần – năm 2022; tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao mừng Đảng, mừng Xuân Nhâm Dần – 2022; các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2022; tổ chức thành công Lễ phát động Cuộc thi sáng tác biểu tượng “Ước nguyện Hòa Bình” Quảng Trị 2022. Chuẩn bị các phương án, điều kiện tổ chức các hoạt động kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (07/04/1907-07/4/2022), các hoạt động trong khuôn khổ Lễ hội Thống nhất non sông năm 2022.

Do tình hình dịch bệnh COVID-19 còn diễn biến phức tạp, để đảm bảo các yêu cầu về công tác phòng, chống dịch và thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan, đồng thời chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức các hoạt động phù hợp với tình hình dịch bệnh, Trong dịp Tết, trên địa bàn tỉnh diễn ra các hoạt động:

- Đoàn Nghệ thuật truyền thống tỉnh xây dựng và biểu diễn chương trình Nghệ thuật “Ấm nồng tình Xuân” mừng Đảng, mừng xuân Nhâm Dần – 2022. Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Trị tổ chức ghi hình và phát sóng Chương trình nghệ thuật “Ấm nồng tình Xuân” trên sóng Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh và trên các kênh thông tin, mạng xã hội để phục vụ Nhân dân dịp Tết.

- Thư viện tỉnh tổ chức Khai mạc Hội Báo Xuân Nhâm Dần năm 2022 với các hoạt động: trưng bày mô hình sách chuyên đề chào mừng kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2022); sách chuyên đề phong tục lễ Tết và chào Xuân Nhâm Dần 2022 (với hơn 100 tờ báo, tạp chí Trung ương và 63 tờ báo của các địa phương) từ ngày 26/01/2022 đến ngày 11/02/2022.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục, thể thao quần chúng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; Triển khai chương trình bơi an toàn phòng chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022-2030; hướng dẫn tập luyện thể dục, thể thao bảo vệ, nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật cho công chức, viên chức, công nhân lao động giai đoạn 2021-2025.

Tăng cường công tác xã hội hóa thể dục, thể thao; đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao cho người khuyết tật. Công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học công tác xã hội hóa hoạt động TDTT tiếp tục được quan tâm chú trọng.

Tiếp tục quan tâm công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng vận động viên; tập trung các môn thể thao thành tích cao có thế mạnh của tỉnh. Tham gia thi đấu Giải Billiards & Snooker vô địch Cúp quốc gia (vòng 1); Giải vô địch các câu lạc bộ vật cổ điển, vật tự do quốc gia năm 2022; Giải vô địch Cử tạ thanh thiếu niên quốc gia tại Hà Nội.

Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp và một số giải thể thao trong khuôn khổ Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Quảng Trị lần thứ VIII năm 2021-2022 (Giải Bi sắt, Karatedo, Cờ tướng, Bơi); Chuẩn bị lực lượng vận động viên tham gia Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ IX năm 2022.

5. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, tháng 3/2022 (từ 15/02/2022 đến 14/3/2022), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông, giảm 50% so với tháng trước và giảm 36,36% so với cùng kỳ năm trước; làm chết 05 người, giảm 58,33% và giảm 44,44%; bị thương 03 người, giảm 70% và giảm 62,50%. Tất cả các vụ tai nạn giao thông trong tháng 3/2022 đều xảy ra trên đường bộ.

Tính chung quý I/2022 (Từ 15/12/2021 đến 14/3/2022) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông, giảm 38,89% so với cùng kỳ năm trước; làm chết 21 người, giảm 40%; bị thương 22 người, giảm 52,17%. Tất cả các vụ tai nạn giao thông quý I/2022 đều xảy ra trên đường bộ.

Trong tất cả các vụ tại nạn giao thông trong quý I/2022, va chạm giao thông xảy ra 01 vụ, làm 01 người bị thương; tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng xảy ra 11 vụ, làm 12 người bị thương; tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra 18 vụ, làm 15 người chết và 07 người bị thương; tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng xảy ra 03 vụ, làm 06 người chết và 02 người bị thương.

6. Thiệt hại thiên tai, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng Ba và quý I/2022, trên địa bàn tỉnh thời tiết tương đối thuận lợi; nhiệt độ có thấp hơn trung bình nhiều năm nhưng chưa xảy ra rét hại; không có thiên tai lớn gây thiệt hại xảy ra.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy, bằng tháng trước và tăng 200% (+04 vụ ) so với cùng kỳ năm trước (đã điều tra làm rõ 04 vụ, trong đó có 02 vụ do chập điện, 02 vụ do sơ suất trong sử dụng lửa); làm 01 người chết; ước tính giá trị thiệt hại về tài sản 31 triệu đồng, giảm 35,42% so với tháng trước và tăng 55% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, từ đầu năm đến nay đã xảy ra 15 vụ cháy, tăng 66,67% (+06 vụ) so với cùng kỳ năm trước (đã điều tra làm rõ 10 vụ, trong đó 07 vụ do chập điện, 03 vụ do sơ suất trong sử dụng lửa); làm 01 người chết; ước tính giá trị thiệt hại về tài sản 201 triệu đồng, tăng 136,47%.

Trong tháng phát hiện và xử lý 12 vụ vi phạm môi trường xảy ra trên địa bàn tỉnh, giảm 42,86% (-09 vụ) so tháng trước và tăng 50% (+04 vụ) so với cùng kỳ năm trước (có 08 vụ vi phạm khai thác tài nguyên khoáng sản, 01 vụ vi phạm về ngư nghiệp, 01 vụ vi phạm về kiểm dịch thú y và 02 vụ vi phạm khác); số tiền xử phạt 140,80 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay đã phát hiện và xử lý 88 vụ vi phạm môi trường, tăng 62,96% (+34 vụ) so với cùng kỳ năm trước (có 39 vụ vi phạm khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép; 12 vụ vi phạm xử lý chất thải rắn trong công nghiệp chưa đúng quy định; 01 vụ vi phạm trong ngư nghiệp; 02 vụ vi phạm về xây dựng, môi trường đô thị; 03 vụ vi phạm về y tế; 14 vụ vi phạm về an toàn thực phẩm; 05 vi phạm về kiểm dịch thú y; 06 vụ vi phạm về phát triển, bảo vệ rừng và 06 vụ vi phạm khác); số tiền xử phạt 546,50 triệu đồng.


Cục Thống kê tỉnh Quảng Trị

  • Tổng số lượt xem: 193
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.