Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 4 tháng 10 năm 2022
English
a A
Ngày 02/08/2022-16:35:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2022 tỉnh Hậu Giang

Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang 7 tháng năm 2022 phát triển khá so với cùng kỳ, đặc biệt trong tháng 7 nhiều hoạt động xúc tiến thương mại được tổ chức, góp phần thúc đẩy các chỉ tiêu kinh tế trong 7 tháng tiếp tục duy trì ở mức tăng trưởng khá như: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,21%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 20,26%, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng tăng 7,03%. Cụ thể kết quả hoạt động của từng ngành, lĩnh vực như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng, ngành Nông nghiệp tiếp tục theo dõi tình hình sản xuất và thu hoạch vụ lúa Hè thu 2022 theo kế hoạch đề ra. Đồng thời triển khai lịch xuống giống và kế hoạch sản xuất vụ Thu đông 2022 đảm bảo đạt hiệu quả. Thường xuyên thăm đồng và nắm tình hình sinh vật gây hại, kịp thời hướng dẫn người dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật kịp thời trên tất cả các loại cây trồng khác ở các huyện, thị xã, thành phố. Tiếp tục theo dõi tình hình mưa bão; Chủ động phối hợp với các đơn vị chuyên môn và địa phương để có biện pháp chỉ đạo kịp thời, góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai. Cụ thể từng lĩnh vực như sau:

1.1 Nông nghiệp

1.1.1. Trồng trọt

Lúa Hè thu 2022: Hiện nay đã xuống giống dứt điểm được 76.368,8 ha, đạt 101,15% kế hoạch tỉnh (75.500 ha), giảm 0,32% (bằng 247,2 ha) so với cùng kỳ. Các giống lúa sử dụng chủ yếu là 03 giống thuộc nhóm giống chất lượng cao như: OM5451, OM18, Đài Thơm 8, cụ thể: OM18 chiếm 69%, OM5451 chiếm 20%, Đài Thơm 8 chiếm 7%, còn lại là các giống khác như: RVT, IR50404,… chiếm 4%. Lúa đang ở giai đoạn mạ đến trổ chín. Hiện đã thu hoạch được 25.869,6 ha ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố, tập trung nhiều nhất là ở huyện Châu Thành A và Vị Thủy[1].

Mía niên vụ 2021-2022: Hiện nay đã xuống giống dứt điểm được 3.842,2 ha, đạt 96,06% kế hoạch tỉnh (4.000 ha), giảm 23,3% (bằng 1.167,5 ha) so với cùng kỳ, diện tích mía toàn tỉnh tập trung ở huyện Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Đến nay, đã thu hoạch được 230 ha, giá bán 1.800-2.000 đồng/kg (bán mía nước). Mía còn lại ở giai đoạn 6-8 tháng tuổi, đang sinh trưởng và phát triển tốt. Trong tháng có 59 ha bị sinh vật gây hại (tăng 1 ha so với tháng trước) gồm chuột, rệp sáp, sâu đục thân, rầy đầu vàng, rỉ sắt, đốm vòng,... đa số là gây hại nhẹ trên mía giai đoạn vươn lóng, phân bố ở huyện Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy.

Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước được 1.752,93 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 7,65%[2] (bằng 145,27 ha). Năng suất đạt 60,42 tạ/ha, giảm 0,05% (bằng 0,03 tạ/ha). Sản lượng ước được 8.899,09 tấn, so cùng kỳ năm trước giảm 9,67% (bằng 952,48 tấn).

Cây rau, đậu các loại: Diện tích gieo trồng được 20.597 ha, so với năm trước tăng 10,51% (bằng 1.959 ha). Ước sản lượng được 209.422 tấn, tăng 13,30% (bằng 24.582 tấn). Do người nông dân thay đổi mùa vụ nên diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch tăng mạnh so với cùng kỳ.

Một số cây lâu năm ăn quả chủ yếu:

- Cây dứa (khóm): Diện tích hiện có ước được 3.044,49 ha, đạt 101,48% so kế hoạch năm (3.000 ha) và tăng 8,20% (bằng 230,73 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng 7 tháng ước được 19.231,47 tấn, đạt 42,74% so kế hoạch năm (45.000 tấn) và tăng 9,51% (bằng 1.670,09 tấn) so với cùng kỳ. Tập trung ở thành phố Vị Thanh và huyện Long Mỹ. Đây là sản phẩm chủ lực của tỉnh.

- Cây bưởi: Diện tích hiện có ước được 1.601,32 ha, đạt 98,85% so kế hoạch năm (1.620 ha) và tăng 0,47% (bằng 7,50 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng 7 tháng ước được 5.672,19 tấn, đạt 37,81% so kế hoạch năm (15.000 tấn) và tăng 6,24% (bằng 333,15 tấn) so với cùng kỳ, do diện tích cho trái và năng suất thu hoạch tăng khá.

- Cây mít: Diện tích hiện có ước được 9.266,79 ha, đạt 95,93% so kế hoạch năm (9.660 ha) và tăng 27,79% (bằng 2.015,25 ha) so với cùng kỳ, diện tích tăng chủ yếu ở các huyện như: Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Sản lượng ước 7 tháng được 40.413,69 tấn, đạt 44,90% so kế hoạch năm (90.000 tấn) và tăng 29,80% (bằng 9.277,47 tấn) so với cùng kỳ, do diện tích và năng suất thu hoạch tăng khá.

- Cây chanh không hạt: Diện tích hiện có 2.794,53 ha, đạt 112,68% so kế hoạch năm (2.480 ha) và tăng 14,66% (bằng 357,27 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng ước 7 tháng được 9.141,73 tấn, đạt 27,79% so kế hoạch năm (32.900 tấn) và tăng 29,32% (bằng 2.072,83 tấn) so với cùng kỳ. Do diện tích thu hoạch tăng và năng suất đạt cao.

- Cây mãng cầu: Diện tích hiện có ước được 694,29 ha, đạt 92,57% so kế hoạch năm (750 ha) và giảm 1,73% (bằng 12,23 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng 7 tháng ước được 2.388,02 tấn, đạt 28,09% so kế hoạch năm (8.500 tấn) và tăng 7,92% (bằng 175,15 tấn) so với cùng kỳ. Do diện tích và năng suất thu hoạch tăng.

1.1.2. Chăn nuôi

Ước tính tháng 7/2022, số đầu con gia súc, gia cầm so với cùng kỳ cụ thể như sau:

- Đàn trâu, bò: Đàn trâu được 1.425 con, đạt 94,37% kế hoạch năm (1.510 con), giảm 3,72%[3] (bằng 55 con) so với cùng kỳ. Đàn bò được 3.681 con, đạt 101,4% kế hoạch năm (3.630 con), tăng 2,94% (bằng 105 con) so với cùng kỳ.

- Đàn heo (tính cả heo con chưa tách mẹ): Được 143.570 con, đạt 106,35% kế hoạch năm (135.000 con), tăng 13,47% (bằng 17.043 con) so với cùng kỳ. Trong đó: Heo thịt 101.315 con, tăng 10,29% (bằng 9.451 con). Nguyên nhân tổng đàn heo trên địa bàn tăng là do tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, công tác phòng chống dịch bệnh được quản lý chặt chẽ, những hộ nuôi nhỏ lẻ đã tái đàn trở lại, những hộ nuôi quy mô gia trại, trang trại tiếp tục sản xuất, tái đàn và mở rộng quy mô chuồng trại. Từ đó tổng đàn từng bước được khôi phục góp phần tăng về số lượng và sản lượng. Bên cạnh đó, Ngành chức năng của tỉnh luôn chỉ đạo chặt chẽ việc tái đàn heo đúng theo thời điểm để phù hợp với tình hình thực tế địa phương cũng như rà soát, xác định những cơ sở chăn nuôi lớn đảm bảo thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi.

- Đàn gia cầm: Được 4.340,32 ngàn con, đạt 97,54% kế hoạch năm (4.450 ngàn con), tăng 1,7% (bằng 72,65 ngàn con) so với cùng kỳ. Trong đó: đàn gà 1.610,47 ngàn con, tăng 4,96% (bằng 76,12 ngàn con) so cùng kỳ. Nhìn chung đàn gia cầm trên địa bàn tỉnh hiện nay đã nuôi ổn định.

Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng lực lượng thú y thường xuyên thực hiện công tác tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm và tiêm phòng một số bệnh thường gặp trên gia súc, gia cầm như: Dịch tả heo, bệnh lở mồm long móng, dịch tả vịt,…Thực hiện công tác tiêu độc, sát trùng trên các chuyến xe, tàu vận chuyển động vật, sản phẩm động vật; giám sát vệ sinh, tiêu độc, khử trùng tại các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh.

1.2. Lâm nghiệp

Công tác bảo vệ rừng, thẩm định, giám sát, kiểm tra, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định, công tác phòng chống cháy rừng đã quán triệt và làm tốt nên từ đầu năm đến nay không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

Ước thực hiện 7 tháng năm 2022, số cây lâm nghiệp trồng phân tán được 1.201,40 ngàn cây, so với cùng kỳ tăng 1,40% (bằng 16,53 ngàn cây). Sản lượng gỗ khai thác khoảng 6.505 m3, tăng 1,45% (bằng 93 m3). Sản lượng củi khai thác ước được 56.707 ste, tăng 1,03% (bằng 577 ste) so với cùng kỳ.

1.3. Thủy sản

Trong tháng 7/2022, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 2.589,09 ha, tăng 8,56% (bằng 204,23 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tăng chủ yếu do hộ nuôi trên ruộng lúa có hiệu quả. Tính chung 7 tháng năm 2022, diện tích nuôi thủy sản (không tính diện tích nuôi lồng bè, bể bồn) ước tính được 7.739,14 ha, đạt 89,47% so kế hoạch năm (8.650 ha) và tăng 5,84% (bằng 427,20 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Diện tích nuôi cá được 7.564,40 ha[4], tăng 5,82% (bằng 416,03 ha); diện tích nuôi tôm được 108,50 ha[5], tăng 10,58% (bằng 10,38 ha); diện tích nuôi thủy sản khác được 66,24 ha, tăng 1,21% (bằng 0,79 ha).

Tổng sản lượng thủy sản tháng 7/2022 ước được 3.295,84 tấn, tăng 6,08% (bằng 189,02 tấn) so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng ước được 31.703,26 tấn, đạt 38,20% so kế hoạch năm (83.000 tấn) và tăng 3,01% (bằng 927,72 tấn) so với cùng kỳ[6]. Chia ra:

- Sản lượng thủy sản khai thác 7 tháng ước được 1.690,10 tấn, đạt 62,60% so kế hoạch năm (2.700 tấn) và giảm 1,33% (bằng 22,72 tấn) so cùng kỳ. Do nguồn lợi thủy sản khai thác nội địa từ tự nhiên đang có chiều hướng giảm.

- Sản lượng thủy sản nuôi trồng 7 tháng ước được 30.013,16 tấn, đạt 37,38% so kế hoạch năm (80.300 tấn) và tăng 3,27% (bằng 950,44 tấn) so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá thát lát thu hoạch được 1.249,62 tấn, tăng 21,38% (bằng 220,12 tấn) so cùng kỳ, sản lượng lươn thu hoạch được 328,83 tấn, tăng 6,83% (bằng 21,04 tấn) so với cùng kỳ. Hiện tại, hai sản phẩm này đang được người dân mở rộng diện tích, thể tích nuôi vì đem lại thu nhập tương đối ổn định và đây là hai sản phẩm chủ lực của tỉnh. Nuôi lươn theo tiêu chuẩn “Sạch” xuất khẩu đang là hướng đi được nông dân, Hợp tác xã, doanh nghiệp trong tỉnh áp dụng, hiện trên địa bàn tỉnh đang có một doanh nghiệp liên kết với nông dân nuôi lươn đạt yêu cầu về chất lượng để chế biến cung cấp cho các hệ thống siêu thị trong nước và xuất khẩu.

2. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 7/2022: Tính theo giá so sánh 2010, được 3.203,13 tỷ đồng, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 28,27% so với cùng kỳ năm trước; tính theo giá hiện hành, được 4.980,41 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 42,47% so với cùng kỳ năm trước[7].

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 7 tháng năm 2022:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 19.763,74 tỷ đồng, tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước và đạt 58,19% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá hiện hành, được 30.053,59 tỷ đồng, tăng 23,24% so với cùng kỳ năm trước và đạt 58,61% so với kế hoạch năm. Trong đó:

+ Khu vực kinh tế nhà nước, có 2 doanh nghiệp đóng góp giá trị sản xuất 1.620,71 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 5,39% trong toàn ngành và tăng rất cao so với cùng kỳ;

+ Khu vực kinh tế tư nhân, có 225 doanh nghiệp và trên 4.237 cơ sở cá thể công nghiệp, đóng góp giá trị sản xuất 21.302,45 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 70,88% trong toàn ngành và tăng 19,27% so với cùng kỳ;

+ Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có 10 doanh nghiệp và đóng góp giá trị sản xuất 7.130,54 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 23,73% trong toàn ngành và tăng 10,93% so với cùng kỳ.

Nguyên nhân là do doanh nghiệp hoạt động ổn định, sau khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát tốt và một số doanh nghiệp mới đầu tư hoàn thành, đi vào hoạt động như: Công ty TNHH MTV Vật liệu xây dựng Xanh Hamaco, sản xuất xi măng các loại; Nhà máy nhiệt điện dầu khí Sông Hậu I, sản xuất nhiệt điện than; Công ty TNHH MTV Nhựa Sinh Học Hậu Giang,… các doanh nghiệp trên đã đóng góp trên 1.571,05 tỷ đồng (theo giá hiện hành) vào giá trị sản xuất chung của ngành công nghiệp. Vì vậy, giá trị sản xuất ước 7 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh trong 7 tháng năm 2022 như sau:

- Sản lượng sản xuất tôm đông lạnh được 22.881,21 tấn, tăng 23,32% so với cùng kỳ, tạo ra giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) được 6.237,11 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 50,95% trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và chiếm tỷ trọng 20,75% trong toàn ngành. Nguyên nhân là do Công ty CP thủy sản Minh Phú Hậu Giang, từ đầu năm đến nay nhận được nhiều hợp đồng lớn, nên tuyển thêm lao động để tăng sản lượng sản xuất (lao động doanh nghiệp tăng 3,68% và sản lượng sản xuất của doanh nghiệp tăng 22,74% so với cùng kỳ). Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất 7 tháng tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước.

- Sản lượng sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản được 185.376,46 tấn, tăng 17,68% so với cùng kỳ, tạo ra giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) được 1.590,53 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 12,99% ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và chiếm tỷ trọng 5,29% trong toàn ngành. Nguyên nhân là do Công ty Thức Ăn Chăn Nuôi Rico Hậu Giang; Công ty TNHH Thanh Khôi; Công ty TNHH MNS Feed Hậu Giang tăng sản lượng sản xuất trong những tháng vừa qua để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi của các hộ nông dân trong tỉnh nói riêng và trong khu vực nói chung.

- Sản lượng sản xuất bia đóng chai được 61,36 triệu lít, tăng 16,95% so với cùng kỳ, tạo ra giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) được 176,11 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 6,16% trong ngành sản xuất đồ uống và chiếm tỷ trọng 0,59% trong toàn ngành. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang với sản phẩm chính là bia các loại, sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, các cơ sở dịch vụ ăn uống, du lịch hoạt động trở lại, công ty cũng tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong khu vực, nên giá trị sản xuất ngành này tăng so với cùng kỳ.

- Sản lượng sản xuất nước uống có vị hoa quả được 122,57 triệu lít, tăng 33,57% so với cùng kỳ, tạo ra giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) được 1.770,04 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 61,95% trong ngành sản xuất đồ uống và chiếm tỷ trọng 5,89% trong toàn ngành. Nguyên nhân tăng là do Công ty TNHH MTV Masan HG, mới đầu tư hoàn thành dây chuyền sản xuất, nước uống tăng lực vị cà phê Wake up 247 từ những tháng cuối năm 2021 đến nay, với sản lượng sản xuất trên 7,6 triệu lít/tháng và Công ty TNHH Number One Hậu Giang tăng sản lượng đột biến từ tháng 3/2022 đến nay (sản lượng 7 tháng đầu năm của doanh nghiệp tăng 33,58% so với cùng kỳ), nên đã làm tăng giá trị sản xuất 7 tháng năm 2022 ngành này nói riêng và giá trị sản xuất của toàn tỉnh nói chung so với cùng kỳ.

- Sản lượng sản xuất giày dép các loại được 10.294,79 ngàn đôi, tăng 9,91% so với cùng kỳ, tạo ra giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) được 2.974,75 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 90,35% trong ngành sản xuất giày dép các loại và chiếm tỷ trọng 9,90% trong toàn ngành. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 02 doanh nghiệp FDI và 01 doanh nghiệp trong nước hoạt động trong ngành này. Trong đó, Công ty TNHH Lạc Tỷ 2 với quy mô trên 10.000 lao động, sản phẩm chính là giày thành phẩm. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ là do năm 2022 doanh nghiệp hoạt động ổn định hơn so với cùng kỳ (tháng 7/2021 doanh nghiệp bị bùng phát ổ dịch Covid-19, nên doanh nghiệp phải thực hiện sản xuất theo phương châm 3 tại chổ, với quy mô khoản 30%-50% lao động). Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất 7 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ.

- Điện sản xuất được 849,23 triệu kwh, tăng rất cao so với cùng kỳ, tạo ra giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) được 1.507,99 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 85,91% trong ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí và chiếm tỷ trọng 5,02% trong toàn ngành. Nguyên nhân là do các tổ máy của Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu I, chính thức vận hành thương mại và theo nhu cầu thực tế từ tháng 6/2022, nên dự tính chỉ số sản xuất 7 tháng năm 2022 tăng đột biến so với cùng kỳ.

- Ở chiều ngược lại do ảnh hưởng của dịch Covid-19, từ đầu năm đến nay và giá xăng dầu tăng cao so với cùng kỳ, nên một số doanh nghiệp chưa phục hồi trở lại như trước dịch, làm một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ như: Sản lượng sản xuất giấy và bìa giấy các loại được 270.043 tấn, giảm 1,74% so với cùng kỳ; sản lượng phi lê cá và các loại thịt cá khác được 74 tấn, giảm 75,90% so với cùng kỳ; sản lượng thuốc trừ côn trùng được 150,06 tấn, giảm 44,70% so với cùng kỳ; sản lượng thuốc diệt nấm được 137,95 tấn, giảm 68,92% so với cùng kỳ; sản lượng thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hoà sinh trưởng cây trồng được 121,92 tấn, giảm 2,88% so với cùng kỳ,… các sản phẩm trên có giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) trên 4.626,87 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 15,39% trong toàn ngành và giảm 7,35% về giá trị so với cùng kỳ. Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của tỉnh.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp ước thực hiện 7 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh có tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, giá xăng, dầu biến động tăng giảm khó lường so với cùng kỳ. Do vậy, các doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cũng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy Công ty TNHH Sunpro Capital Group Limited, đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao trong các tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) dự tính tháng 7/2022 tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 19,71% so với cùng kỳ. Trong đó:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 2,07% so với tháng trước và tăng 17,33% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do cùng thời điểm này năm trước, dịch Covid-19 đang bùng phát mạnh, nên một số doanh nghiệp phải tạm ngưng hoạt động hoặc giảm quy mô sản xuất, đảm bảo công tác phòng chống dịch tại doanh nghiệp. Vì vậy, dự tính tháng 7/2022 một số ngành tăng đột biến so với cùng kỳ như: Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thủy sản, tăng 0,66% so với tháng trước và tăng 31,06% so với cùng kỳ; chế biến và bảo quản rau quả tăng 8,43% so với tháng trước và tăng 46,29% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 5,45% so với tháng trước và tăng 23,06% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất đồ uống, tăng 5,62% so với tháng trước và tăng 77,78% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất trang phục, giảm 2,83% so với tháng trước và tăng 59,40% so với cùng kỳ; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 54,23% so với cùng năm trước.

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 735,16% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty điện lực Hậu Giang đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, hạn chế tối đa không để tình trạng mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục. Ngoài ra, tăng một phần là do các tổ máy của Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu I, chính thức vận hành thương mại và theo nhu cầu thực tế, nên dự tính sản lượng điện sản xuất đạt trên 155 triệu kwh/tháng. Vì vậy, đã làm tăng đột biến chỉ số ngành này so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 8,58% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do hiện nay trên địa bàn tỉnh có 05 doanh nghiệp đang hoạt động ổn định trong ngành này. Trong đó, Công ty CP cấp nước và VSMT Nông Thôn Hậu Giang mới đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định từ năm 2021 đến nay, với sản lượng trên 810 ngàn M3/tháng. Vì vậy, đã làm chỉ số sản xuất ngành này tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) dự tính 7 tháng năm 2022 tăng 14,21% so với cùng kỳ. Trong đó, Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực làm tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp với mức tăng 12,13%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 586,31%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,94%.

Một số ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh, duy trì sản xuất ổn định và có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản tăng 23,41%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 17,68%; sản xuất đồ uống tăng 28,36%; sản xuất trang phục tăng 46,44%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,73%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,46%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 24,49%; sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 613,19%,… Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm hoặc tăng thấp hơn mức tăng chung của toàn ngành như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 2,88%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 42,14%,... Nguyên nhân là do chi phí nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào tăng cao như: Xăng dầu, phí vận chuyển, nguyên liệu nhập khẩu,… nên một số doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng đã ký, không để hàng tồn kho nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng cả tỉnh tăng chưa đúng như tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

Tình hình sử dụng lao động: Tính đến thời điểm 01/7/2022, chỉ số sử dụng lao động toàn ngành công nghiệp tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 35,69% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng tăng 5,13% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng cao hơn mức tăng chung toàn ngành so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,80%; sản xuất đồ uống tăng 69,98%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 51,80%; sản xuất và phân phối điện tăng 73,29%,... Riêng một số ngành sử dụng nhiều lao động nhưng giảm so với cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 15,80%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 3,49%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 6,35%,... nên làm cho chỉ số sử dụng lao động chung của toàn tỉnh trong 7 tháng năm 2022 tăng không cao so với cùng kỳ.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Tính từ ngày 20/6/2022 – 20/7/2022, có 71 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký là 516,58 tỷ đồng (so với cùng kỳ tăng 102% về số doanh nghiệp và tăng 190% về số vốn). Lũy kế từ đầu năm có 560 doanh nghiệp đăng ký thành lập, với tổng số vốn 3.545,57 tỷ đồng (so với cùng kỳ tăng 50% về số doanh nghiệp và tăng 163% về vốn); có 14 doanh nghiệp đăng ký giải thể, tổng vốn 6 tỷ đồng (so với cùng kỳ tăng 300% về số doanh nghiệp). Lũy kế từ đầu năm có 98 doanh nghiệp đăng ký thủ tục giải thể, với tổng số vốn 109,02 tỷ đồng (so với cùng kỳ tăng 78%); Có 8 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng, tổng vốn 50,5 tỷ đồng (so với cùng kỳ giảm 12% về số doanh nghiệp, về vốn tăng 11%). Lũy kế từ đầu năm có 169 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, với tổng vốn 992,67 tỷ đồng (so với cùng kỳ tăng 94% về số doanh nghiệp, về vốn tăng 138%). Nguyên nhân do kinh doanh không hiệu quả.

4. Vốn đầu tư

Kế hoạch vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2022 là 18.843,90 tỷ đồng (theo Quyết định số 2441/QĐ-UBND ngày 10/12/2021, Quyết định số 2528/QĐ-UBND ngày 22/12/2021 và Quyết định số 62/QĐ-UBND ngày 10/01/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang,theo Quyết định số 218/QĐ-UBND ngày 27/01/2022 về việc giao chỉ tiêu Kế hoạch đầu tư công năm 2022 vốn ngân sách địa phương (lần 2), Quyết định số 467/QĐ-UBND ngày 11/03/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang về việc giao chỉ tiều Kế hoạch đầu tư công năm 2022 vốn ngân sách Trung ương (lần 3) hỗ trợ đầu tư trên địa bàn) bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước là 3.193,30 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn là 850,60 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là 14.800 tỷ đồng.

Ước tính tháng 7/2022, vốn đầu tư thực hiện được 1.790,50 tỷ đồng, bằng 97,43% so với tháng trước và bằng 120,13% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 280,50 tỷ đồng, bằng 96,61% so với tháng tr­ước và bằng 155,76% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 80,75 tỷ đồng, bằng 89,42% so với tháng tr­ước và bằng 84,47% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.429,25 tỷ đồng, bằng 98,09% so với tháng tr­ước và bằng 117,65% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính 7 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 11.711,30 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm tr­ước bằng 109,03% và đạt 62,15% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.527,22 tỷ đồng, bằng 128,36% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 47,83% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 562,10 tỷ đồng, bằng 79,55% so với cùng kỳ năm trước và đạt 66,08% so với kế hoạch năm.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 9.621,98 tỷ đồng, bằng 108,78% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 65,01% so với kế hoạch năm.

Nguyên nhân ước vốn đầu tư thực hiện tăng so với cùng kỳ là do thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho các đơn vị thi công tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh; chủ đầu tư tập trung hoàn thành các thủ tục phê duyệt thiết kế, dự toán, tiến độ chuẩn bị các thủ tục đầu tư và tiến độ thực hiện các công trình ở một số chủ đầu tư được đảm bảo thời gian. Bên cạnh đó, được sự quan tâm của Tỉnh ủy và UBND tỉnh trong việc chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn, vướng mắc, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.

5. Tài chính, tín dụng

5.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 7/2022 được 735,93 tỷ đồng, luỹ kế được 8.351,62 tỷ đồng, đạt 95,51% dự toán Trung ương và đạt 72,94% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó:

- Trung ương trợ cấp được 314,26 tỷ đồng, luỹ kế được 2.418,81 tỷ đồng, đạt 57,56% dự toán Trung ương, đạt 55,65% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

- Thu nội địa được 380 tỷ đồng, luỹ kế được 3.173,14 tỷ đồng, đạt 78,50% dự toán Trung ương và đạt 73,79% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 7/2022 được 725,72 tỷ đồng, luỹ kế được 5.197,74 tỷ đồng, đạt 67,32% dự toán Trung ương và đạt 49,97% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

- Chi xây dựng cơ bản được 298,18 tỷ đồng, luỹ kế được 2.675,49 tỷ đồng, đạt 82,76% dự toán Trung ương và đạt 55,44% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

- Chi thường xuyên được 427,55 tỷ đồng, luỹ kế được 2.429,57 tỷ đồng, đạt 55,68% dự toán Trung ương và đạt 46,21% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

5.2. Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30/6/2022, tổng vốn huy động toàn địa bàn là 18.605 tỷ đồng, tăng trưởng 9,23% so với cuối năm 2021. Vốn huy động đáp ứng được 60,28% cho hoạt động tín dụng. Huy động đối với kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 9.652 tỷ đồng (chiếm 51,88%), kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 8.953 tỷ đồng (chiếm 48,12%). Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 12.341 tỷ đồng (chiếm 66,33% tổng); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 5.372 tỷ đồng (chiếm 28,87%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 850 tỷ đồng (chiếm 4,57%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 42 tỷ đồng (chiếm 0,23%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng phổ biến từ mức 3,0-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng phổ biến từ 4,0-6,9%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên phổ biến từ 4,9-6,9%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 7/2022, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 18.714 tỷ đồng, tăng trưởng 0,59% so với cuối tháng 6/2022, tương ứng tăng trưởng 9,87% so với cuối năm 2021.

Đến ngày 30/6/2022, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn là 32.523 tỷ đồng, tăng trưởng 10,02% so với cuối năm 2021. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn là 16.477 tỷ đồng (chiếm 50,66%); dư nợ cho vay trung, dài hạn là 16.046 tỷ đồng (chiếm 49,34%). Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước đạt 22.353 tỷ đồng (chiếm 68,73%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần là 6.899 tỷ đồng (chiếm 21,21%); Ngân hàng Chính sách xã hội là 3.227 tỷ đồng (chiếm 9,92%) và Quỹ tín dụng Nhân dân là 44 tỷ đồng (chiếm 0,14%). Đến thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam ở mức 4,5%/năm; cho vay trung, dài hạn phổ biến ở mức 8,8 - 12,4%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 9,0 - 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 7/2022, dư nợ đạt 32.660 tỷ đồng, tăng trưởng 0,42% so với cuối tháng 6/2022, tương ứng tăng trưởng 10,49% so với cuối năm 2021.

Nợ quá hạn đến cuối tháng 6/2022 là 881 tỷ đồng, chiếm 2,71%/tổng dư nợ; nợ xấu là 486 tỷ đồng, chiếm 1,49%/tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 395 tỷ đồng, chiếm 44,84%/tổng nợ quá hạn. Ước thực hiện đến cuối tháng 7/2022, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra (thấp hơn 3%/tổng dư nợ).

Dư nợ các Đề án, Chương trình, Chính sách tín dụng trọng điểm theo Chỉ đạo của Chính phủ, NHNN Việt Nam và chính quyền địa phương đạt được kết quả sau:

- Cho vay thu mua lúa, gạo xuất khẩu và tiêu dùng dư nợ 2.540 tỷ đồng, tăng trưởng 14,88% so với cuối năm 2021.

- Cho vay nuôi trồng, chế biến thủy sản dư nợ 3.643 tỷ đồng, giảm 1,06% so với cuối năm 2021, với 1.533 hộ dân và 12 doanh nghiệp còn dư nợ; nợ xấu 17 tỷ đồng, chiếm 0,47%.

- Cho vay hỗ trợ lãi suất nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản theo Quyết định 68/QĐ-TTg dư nợ 17,76 tỷ đồng, giảm 18,79% so với cuối năm 2021.

- Cho vay theo Đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi (Đề án 1.000) dư nợ 0,14 tỷ đồng, giảm 80,82% so với cuối năm 2021, 04 hộ dân còn dư nợ.

- Cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP dư nợ 30,42 tỷ đồng, giảm 14,65% so với cuối năm 2021; với 221 cá nhân còn dư nợ.

- Chương trình cho vay thực hiện chính sách nhà ở xã hội theo Thông tư số 25/2015/TT-NHNN dư nợ 119 tỷ đồng, với 302 khách hàng được hỗ trợ.

- Các chương trình tín dụng chính sách dư nợ đạt 3.227 tỷ đồng, tăng trưởng 9,39% với cuối năm 2021.

- Cho vay lĩnh vực kinh tế tập thể dư nợ 264 tỷ đồng, tăng trưởng 52,60% so với cuối năm 2021, với 42 hợp tác xã và 506 tổ hợp tác còn dư nợ.

- Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp có doanh số cho vay đạt 8.909 tỷ đồng, dư nợ đạt 8.741 tỷ đồng, tăng trưởng 15,50% so với cuối năm 2021, với 538 doanh nghiệp được tiếp cận vốn.

- Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn dư nợ 21.366 tỷ đồng, tăng trưởng 6,61% so với cuối năm 2021, chiếm 65,70%/tổng dư nợ.

- Cho vay xây dựng nông thôn mới toàn địa bàn dư nợ 12.289 tỷ đồng, tăng trưởng 9,93% so với cuối năm 2021, với 154.680 hộ dân, 158 doanh nghiệp và 23 HTX còn dư nợ.

- Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19: Lũy kế từ 23/01/2020 đến nay, toàn ngành Ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ: nợ gốc 2.742 tỷ đồng, nợ lãi 50,59 tỷ đồng, số khách hàng là 1.163 khách hàng; tổng giá trị nợ được miễn, giảm lãi 172 tỷ đồng, 300 khách hàng, số tiền lãi được miễn, giảm là 0,78 tỷ đồng; doanh số cho vay mới lũy kế từ ngày 23/01/2020 đến nay là 10.114 tỷ đồng.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

6.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Bước sang tháng 7, thị trường hoạt động kinh doanh lĩnh vực bán lẻ, dịch vụ tiêu dùng, ăn uống trên địa bàn có nhiều sự biến động theo tình hình biến động của thị trường trong nước, giá các nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước tăng cao và chưa ổn định. Trung tuần tháng 7, Tỉnh đã tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Hậu Giang năm 2022, cùng với việc diễn ra nhiều sự kiện xúc tiến thương mại thúc đẩy đầu tư, các sự kiện văn hóa, thể thao được tổ chức, đặc biệt giải Marathon Vietcombank Mekong Delta diễn ra từ ngày 16-17/7/2022 với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Tất cả đã góp phần thúc đẩy làm doanh thu bán lẻ, doanh thu các hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và một số dịch vụ tiêu dùng tăng so với tháng trước.

Ước tính tháng 7/2022, doanh thu bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 4.482,23 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,05%, so với cùng kỳ năm trước bằng 151,47%. Thời điểm tháng 7/2021 là đỉnh điểm của đợt bùng phát dịch Covid-19, hầu hết tất cả các hoạt động kinh doanh đều phải ngừng hoạt động để phòng chống dịch, chỉ có một số ít các cơ sở kinh doanh các mặt hàng thiết yếu (hàng lương thực, thực phẩm, thuốc vật tư y tế,…) được phép hoạt động. Do đó, so với cùng kỳ doanh thu thương mại tăng rất cao. Cụ thể:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 3.309,13 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,75% và so với cùng kỳ năm trước tăng 37,58%. Trong tháng các nhóm hàng biến động nhiều và có sự tăng trưởng cao vẫn là nhóm hàng lương thực, thực phẩm, nhóm hàng xăng dầu, riêng vàng có sự biến động giảm giá nhẹ trong những ngày qua. Giá thức ăn tăng cũng là nguyên nhân chính làm giá bán heo hơi trên thị trường có xu hướng tăng giá mạnh từ đầu tháng đến nay, trong khi giá bán các mặt hàng xăng, dầu được điều chỉnh giảm khoảng 3.000 đồng/lít từ 0h ngày 11/7 sau 7 kỳ tăng giá, đây là lần giảm giá mạnh nhất tính từ đầu năm đến nay. Mặc dù giá xăng đã giảm nhưng giá nhiều loại hàng hóa vẫn không giảm, vẫn ở mức cao so với cùng kỳ. Vì vậy, dự tính chung doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành thực hiện được 700,40 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,17% và so với cùng kỳ năm trước bằng 189,42%. Nhiều sự kiện trong tháng 7 cùng được tổ chức trên địa bàn đã giúp thúc đẩy ngành hoạt động lưu trú và ăn uống tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước. Chia ra:

+ Doanh thu dịch vụ lưu trú được 8,33 tỷ đồng, so tháng trước bằng 106,18%, so cùng kỳ bằng 152,00%.

+ Doanh thu dịch vụ ăn uống được 692,07 tỷ đồng, so tháng trước bằng 103,13%, so cùng kỳ bằng 189,98%.

- Doanh thu các ngành dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 472,70 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 12,89% và so với cùng kỳ năm trước tăng 156,68%. Trong tháng, tình hình hoạt động của các ngành dịch vụ trên địa bàn diễn ra rất sôi động, nhiều sự kiện văn hóa thể thao, hội nghị xúc tiến đầu tư, các sự kiện hội chợ, trưng bày hàng tiêu dùng,… được tổ chức rầm rộ với quy mô khá lớn đã làm doanh thu trong tháng tăng cao.

Ước tính 7 tháng năm 2022, doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng và hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 30.445,21 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 120,26% và so với kế hoạch năm đạt 70,80%. Doanh thu ngành bán lẻ tiếp tục là động lực chính của sự tăng trưởng chung của ngành thương mại, dịch bệnh được kiểm soát tốt mọi hoạt động trở về trong trạng thái bình thường mới, các hoạt động kinh doanh bán lẻ của hầu hết các nhóm hàng chủ lực trên địa bàn đều có đà phục hồi phát triển mạnh. Ngành dịch vụ tiêu dùng cũng đánh dấu mức tăng trưởng ấn tượng so với cùng kỳ 2021, do hoạt động dịch vụ xổ số kiến thiết, là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu ngành dịch vụ có mức tăng trưởng cao, tăng 43,31%. Dịch vụ ăn uống đã có sự phục hồi trở lại khi cũng có giá trị tăng khá cao, ước 7 tháng tăng 13,54%. Cụ thể:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 23.194,78 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 19,83%. Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm tăng 21,11%; xăng dầu các loại tăng 96,31%; đá quý, kim loại quý tăng 4,86%; hàng may mặc tăng 3,01%; nhóm các sản phẩm hàng hóa khác tính chung tăng 17,58%. Các nhóm hàng khác còn lại đang từng bước dần phục hồi và phát triển trở lại sau thời gian bị ảnh hưởng của dịch bệnh.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 4.272,61 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,91%. Trong đó:

+ Doanh thu dịch vụ lưu trú được 54,71 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 79,05%.

+ Doanh thu dịch vụ ăn uống được 4.217,90 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 113,54%.

- Doanh thu các ngành dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) được 2.977,82 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 36,89%. Trong đó, dịch vụ bất động sản tăng 68,16%, dịch vụ vui chơi, giải trí tăng 43,31% (chủ yếu do hoạt động xổ số kiến thiết tăng cao), dịch vụ giáo dục đào tạo vẫn có mức tăng trưởng cao, dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng tăng 58,20% so với cùng kỳ là các hoạt động có mức tăng trưởng cao chủ yếu.

6.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Ước thực hiện tháng 7/2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 78,43 triệu USD, so với tháng trước bằng 101,75% và so với cùng kỳ năm trước bằng 128,32%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 57,27 triệu USD, so với tháng trước bằng 97,84% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,60%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 21,16 triệu USD, so với tháng trước bằng 114,11% và so với cùng kỳ năm trước bằng 164,90%.

Ước thực hiện 7 tháng năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 616,72 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 107,03%, so với kế hoạch năm đạt 58,29%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 382,55 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,63%, so với kế hoạch năm đạt 53,36%. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ năm trước là do ước giá trị xuất khẩu của nhóm hàng giày dép tăng 10,73%, giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 40,42%, hàng hóa khác tăng 116,38%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 208,64 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 100,73%, so với kế hoạch năm đạt 71,95%. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ năm trước là do ước giá trị nhập khẩu của các nhóm hàng giấy tăng 35,35%, hóa chất tăng 0,36%, hàng hóa khác tăng 39,69%,....

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 0,60 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 153,98%, so với kế hoạch năm đạt 59,90%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 24,93 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 85,89%, so với kế hoạch năm đạt 49,87%.

6.3. Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải, kho bãi của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực. Hoạt động vận chuyển hàng hóa, hành khách diễn ra mạnh mẽ để đáp ứng tốt nhu cầu của người dân. Dịch vụ vận tải, kho bãi đang trong giai đoạn bắt đầu phục hồi nhanh so với những tháng đầu năm. Do đó, ngành vận tải trong tháng 7 được dự báo sẽ có giá trị tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 7/2022, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện được 122,85 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,61% và so với cùng kỳ năm trước bằng 145,97%. Chia ra:

- Doanh thu đường bộ thực hiện được 75,89 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,63% và so với cùng kỳ năm trước bằng 179,63%.

- Doanh thu đường thủy thực hiện được 28,69 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 104,90% và so với cùng kỳ năm trước bằng 168,87%.

- Doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 18,27 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 101,54% và so với cùng kỳ năm trước bằng 73,30%.

Ước tính 7 tháng năm 2022, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện được 773,81 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,06%. Chia ra:

- Doanh thu đường bộ thực hiện được 458,23 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 148,19%.

- Doanh thu đường thủy thực hiện được 183,21 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 86,47%.

- Doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 132,37 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 70,26%.

6.3.1. Vận chuyển - luân chuyển hàng hóa

Một số tuyến đường do ảnh hưởng xấu của thời tiết trong những ngày qua nên đã có dấu hiệu hư hại, xuống cấp nhưng hiện đang được duy tu, khẩn trương sửa chữa. Tuyến đường đoạn Vĩnh Tường về trung tâm thị xã Long Mỹ được đầu tư mở rộng và đang từng bước hoàn thiện để sớm hoàn thành đưa vào sử dụng giúp kết nối với các tỉnh thành xung quanh trong vùng tạo nhiều thuận lợi hơn cho hoạt động vận chuyển hàng hóa.

Ước tính tháng 7/2022, toàn tỉnh vận chuyển được 606 nghìn tấn hàng hóa các loại (57.391,03 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 104,05% (103,66%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 203,29% (220,98%). Nguyên nhân, tháng 7/2021, dịch bệnh bùng phát mạnh, các cơ sở vận chuyển hàng hóa hầu hết tạm ngưng hoạt động để phòng chống dịch. Trong đó:

- Đường bộ thực hiện được 169,05 nghìn tấn (15.197,48 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,23% (101,30%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 217,47% (204,80%).

- Đường sông thực hiện được 436,95 nghìn tấn (42.193,55 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 104,77% (104,54%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 198,29% (227,46%).

Ước tính 7 tháng năm 2022, toàn tỉnh vận chuyển được 3.593,56 nghìn tấn hàng hóa các loại (333.236,90 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,18% (111,58%). Trong đó:

- Đường bộ thực hiện được 1.127,97 nghìn tấn (97.525,70 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 166,51% (145,70%).

- Đường sông thực hiện được 2.465,59 nghìn tấn (235.711,20 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 84,73% (101,72%).

6.3.2. Vận chuyển - luân chuyển hành khách

Đang trong kỳ nghỉ hè và tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát, nhu cầu đi lại tham quan du lịch của người dân được dự báo sẽ tăng cao. Hoạt động vận chuyển hành khách được dự báo có thể sẽ tăng hơn so với tháng trước và tăng cao so cùng kỳ. Nguyên nhân, cùng thời điểm cùng kỳ năm 2021 do ảnh hưởng dịch bệnh các cơ sở hoạt động xe khách, xe ôm,… đều phải tạm ngừng hoạt động để phòng chống dịch.

Vì vậy, ước tính tháng 7/2022, toàn tỉnh thực hiện được 2.925,16 nghìn lượt hành khách (56.013,66 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 104,12% (105,20%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 165,61% (164,99%). Trong đó:

- Đường bộ vận chuyển được 925,64 nghìn lượt hành khách (48.333,76 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 104,08% (105,39%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 232,13% (179,40%).

- Đường sông vận chuyển được 1.999,52 nghìn lượt hành khách (7.679,90 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 104,14% (104,01%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 146,21% (109,60%).

Ước tính 7 tháng năm 2022, toàn tỉnh thực hiện được 18.900,42 nghìn lượt hành khách (366.649,10 nghìn HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 94,25% (117,80%). Trong đó:

- Đường bộ vận chuyển được 6.284,50 nghìn lượt hành khách (313.467,93 nghìn HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 135,04% (132,70%).

- Đường sông vận chuyển được 12.615,92 nghìn lượt hành khách (53.181,17 nghìn HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 81,92% (70,88%).

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Giáo dục

Trong tháng, ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung chủ yếu vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

Giáo dục tiểu học - mầm non:

- Xây dựng kế hoạch năm học 2022-2023.

- Phối hợp với phòng Quản lý chất lượng – Cơ sở vật chất kiểm định chất lượng giáo dục, kiểm tra công nhận trường đạt chuẩn quốc gia đối với trường Mầm non, Mẫu giáo trên địa bàn tỉnh.

- Tập huấn tăng cường tiếng Việt cho cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số.

Giáo dục trung học - Giáo dục thường xuyên:

- Phê duyệt điểm chuẩn trúng tuyển vào lớp 10 công lập Kỳ tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông, Trung học phổ thông chuyên, Phổ thông dân tộc nội trú năm học 2022 - 2023.

- Khảo sát chuẩn bị tổng kết 10 năm tổ chức Cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học.

7.2. Văn hóa, thể thao

Trong tháng, toàn hệ thống Trung tâm Văn hóa tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ của đất nước, các nhiệm vụ chính trị, các công tác trọng tâm của địa phương theo chỉ đạo như: Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình và Ngày gia đình Việt Nam năm 2022; Tuần lễ thúc đẩy Chuyển đổi số phát triển kinh tế Vùng và xúc tiến đầu tư tỉnh Hậu Giang; Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Hậu Giang; Khai mạc Giải Marathon quốc tế Vietcombank Mekong Delta Hậu Giang và Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Hậu Giang lần thứ IX năm 2022; các hoạt động trong khuôn khổ Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam và Ngày Đại dương thế giới; Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người trên địa bàn tỉnh… Kết quả: In mới và lắp đặt: 1.480 m2 pano trên các tuyến đường chính; treo hơn 4.000 cờ các loại, 140 băng rol.

Hoạt động thư viện: Xây dựng Kế hoạch tham gia Cuộc thi Giới thiệu sách trực tuyến năm 2022 với chủ đề “Sách và Khát vọng cống hiến”; thu hồi sách luân chuyển các điểm trường học và các tủ sách tư nhân năm 2022. Trưng bày 125 quyển sách tại Thư viện tỉnh: Sách chuyên đề về Ngày Gia đình Việt Nam (28/6); sách mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; sách chuyên đề về cải cách hành chính và Tủ sách Bác Hồ. Đảm bảo giờ mở cửa phục vụ bạn đọc hàng ngày trong giờ hành chính, đảm bảo nguyên tắc 5K để phòng, chống dịch Covid-19. Bên cạnh đó, đơn vị kết hợp phục vụ bạn đọc thông qua website Thư viện, trong tháng 7/2022 phục vụ 12.952 lượt người truy cập (nâng tổng số lên 93.793 lượt) tra cứu và đọc sách với 25.904 lượt sách (nâng tổng số lên 193.570 lượt).

Hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm ảnh 06 cuộc phục vụ: Lễ hưởng ứng Hành trình đỏ, Giọt hồng trên đất Hậu Giang và tôn vinh người hiến máu tiêu biểu năm 2022; Họp báo thông tin Hội nghị xúc tiến đầu tư và giải Marathon quốc tế “Mêkông Delta Marathon tỉnh Hậu Giang năm 2022; Họp mặt kỷ niệm 97 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2022) và Tổng kết giải báo chí tỉnh Hậu Giang lần thứ XVIII Trung tâm Hội nghị tỉnh và triển lãm Hậu Giang xưa và nay qua tài liệu lưu trữ tại thị trấn Cây Dương; Tập huấn Nghiệp vụ công tác Đoàn, Hội, Đội tỉnh Hậu Giang năm 2022 … Tiếp tục sưu tầm tài liệu, hiện vật, hình ảnh hoàn chỉnh hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích lịch sử: Căn cứ Khu ủy, Quân khu ủy khu 9 và nơi ở thời niên thiếu của cố luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở Hậu Giang.

Sự nghiệp thể dục thể thao: Tham gia 08 giải đạt 05 Huy chương vàng (HCV), 03 Huy chương bạc (HCB), 19 Huy chương đồng (HCĐ), cụ thể: vô địch Cờ vua trẻ quốc gia tại Bà Rịa - Vũng Tàu, kết quả đạt 02 HCĐ; giải vô địch Karate Miền Nam tại Trà Vinh, kết quả đạt 02 HCV, 02 HCB, 07 HCĐ; vô địch Bóng rổ trẻ 5x5 U16 quốc gia năm 2022 tại Đắk Lắk, kết quả đạt 01 HCĐ; giải Điền kinh thành phố Hồ Chí Minh mở rộng năm 2022, kết quả đạt 01 HCV, 01 HCĐ; vô địch Vovinam trẻ quốc gia năm 2022 tại Quảng Nam, kết quả đạt 01 HCV, 03 HCĐ; Đua thuyền Rowing và Canoeing vô địch các CLB toàn quốc tại Đà Nẵng, kết quả đạt 02 HCĐ; vô địch trẻ Kickboxing toàn quốc năm 2022 tại Bình Định. Kết quả đạt 01 HCV, 01 HCB, 03 HCĐ; vô địch Điền kinh các nhóm tuổi trẻ quốc gia tại Kon Tum.

7.3. Lao động và an sinh xã hội

Trong tháng, tạo và giải quyết việc làm mới cho 1.291 (11.096)/15.000 lao động, đạt 73,97% kế hoạch năm.

Thực hiện Quyết định số 1062/QĐ-UBND ngày 03/6/2022 của UBND tỉnh về việc ủy quyền phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Đến thời điểm hiện tại, UBND cấp huyện đã phê duyệt hỗ trợ cho 102 người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp với số tiền 153 triệu đồng.

Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm: Đăng tải 46 (357) tin bài tuyên truyền về lĩnh vực việc làm, đào tạo nghề, Bảo hiểm thất nghiệp qua trang Fanpage, Zalo, Website của Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh; qua đó đã tiếp nhận thông tin, tư vấn kịp thời cho người lao động và doanh nghiệp có nhu cầu truy cập. Tổ chức 14 (41) Phiên giao dịch việc làm cho người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp với 701 (2.661) người tham dự.

Công tác hỗ trợ tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp: Thực hiện thỏa thuận và giao kết hợp đồng hỗ trợ tuyển dụng lao động đối với 02 (24)lượt doanh nghiệp. Tích cực tổ chức các hoạt động tuyên truyền, tư vấn đã hỗ trợ giới thiệu, cung ứng được 40 (4.811) lao động.

Công tác hỗ trợ người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng: Từ đầu năm đến nay đã hỗ trợ đưa 143 (198)/346 lao động (trong đó, có 111 lao động đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc), đạt 57,22 % kế hoạch năm. Tổ chức hỗ trợ chi phí ban đầu đợt 2 cho 26 lao động đã xuất cảnh với số tiền 210 (427,5) triệu đồng.

Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp: Trong tháng tuyển sinh đào tạo nghề được 283 (3.353)/6.500 người, đạt 43,2% kế hoạch năm. Trong đó, Cao đẳng 0 (56) người, Trung cấp 0 (223) người, sơ cấp và dưới 3 tháng 283 (3.074) người.

Đối với lĩnh vực người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 232 (1.095) hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 239 (1.075) hồ sơ. Trong đó, đạt 234 (1.002) hồ sơ, không đạt 05 (73) hồ sơ. Còn 20 hồ sơ đang trong thời gian xem xét, giải quyết.

Công tác bảo trợ xã hội và giảm nghèo: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 35.538 (246.365 lượt) đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 18.523,71 (127.817,9) triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 250 (1.529) trường hợp với số tiền 1.800 (11.008,8) triệu đồng; hỗ trợ khẩn cấp cho 16 (207) trường hợp với số tiền 310 (4.081) triệu đồng. Tiếp nhận, chăm sóc nuôi dưỡng 05 trường hợp người khuyết tật thần kinh, tâm thần có hành vi nguy hiểm, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và 01 trường hợp người lang thang xin ăn, nâng tổng số đối tượng đang chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm là 227 người.

Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội: Hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy, toàn tỉnh đã tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 126 (266) cuộc, với 5.055 (9.490) lượt người tham dự. Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội qua hình thức phát thanh được 98 (276) cuộc với 644 (2.169) phút tuyên truyền. Phát 2.860 tờ rơi, treo 77 băng rol hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy. Tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên địa bàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.768 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 110 người.

7.4. Y tế

Trong tháng, có 86 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, cộng dồn là 141 ca, tăng 90 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 163 ca mắc mới, cộng dồn là 260 ca, giảm 122 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do virút, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Tình hình dịch Covid-19:

- Số nhiễm trong tháng (tính đến ngày 13/7/2022) là 05 người, số tử vong trong tháng là 00 người. Tính từ đầu đợt dịch (ngày 08/7/2021) đến 18 giờ ngày 13/7/2022 tỉnh Hậu Giang có 52.567 người mắc, điều trị khỏi 52.253 người, chuyển viện 02 người, số người tử vong là 311 người, hiện đang điều trị là 01 người (điều trị tại nhà 01 người). Hiện tại các Bệnh viện/Trung tâm Y tế đang triển khai khoa điều trị người nhiễm Covid-19.

- Tính đến ngày 13/7/2022 tổng số liều vắc xin đã được tiêm vắc xin 1.895.950 (trong đó có 258.686 liều tiêm bổ sung, đạt 49,79%, 229.691 liều tiêm nhắc lần 1 đạt 38,84% và 89.396 liều tiêm nhắc lần 2 đạt 45,43%); 519.598 người người từ 18 tuổi trở đã tiêm đủ 2 mũi, đạt 97,32% người từ 18 tuổi trở lên nằm trong độ tuổi tiêm chủng; 534.117 người người từ 18 tuổi trở tiêm mũi 1, đạt tỷ lệ 100% trên tổng dân số tỉnh Hậu Giang từ 18 tuổi trở lên nằm trong độ tuổi tiêm chủng; 73.594 trẻ em từ 12-17 tuổi tiêm vắc xin mũi 1, đạt 105%; 71.844 trẻ em từ 12-17 tuổi được tiêm mũi 2, đạt 97,62%, 32.929 trẻ tiêm nhắc lần 1 đạt 45,83%; 77.000 trẻ em từ 05-11 tuổi tiêm vắc xin mũi 1 đạt 87,13%, 42.024 trẻ em từ 05-11 tuổi tiêm vắc xin mũi 2 đạt 54,71%).

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 859 trẻ, cộng dồn là 6.111 trẻ, đạt 54%; Tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 953 trẻ, cộng dồn là 6.622 trẻ, đạt 57,8%; Tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 874 thai phụ, cộng dồn là 6.214 thai phụ, đạt 60,2%.

Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng 00 ca, cộng dồn là 17 ca (giảm 38 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.887 ca; số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng 00 ca, cộng dồn là 00 ca (giảm 07 caso với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.048 ca; Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng 00 ca, cộng dồn là 00 ca (giảm 09 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 615 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone là 61 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 945 người.

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 7/2022: Tổng số lần khám là 115.889 lượt, cộng dồn là 670.254 lượt, đạt 55,55% kế hoạch, giảm 35,55% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 8.116 lượt, cộng dồn là 45.764 lượt, đạt 34,03% kế hoạch, giảm 29,68% so với cùng kỳ. Số ngày điều trị trung bình là 6,8 ngày, tăng 0,89 ngày so với cùng kỳ. Tỷ lệ tử vong là 0,74%, tăng 0,71% so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 2.691 trường hợp, giảm 1.470 trường hợp so với cùng kỳ.

7.5. Tai nạn giao thông

Trong tháng 7/2022, trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 05 người, bị thương 04 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông giảm 01 vụ, số người chết giảm 02 người và số người bị thương tăng 04 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tương đương, số người chết giảm 02 người và số người bị thương tăng 02 người. Nguyên nhân do không chú ý quan sát 02 vụ, chuyển hướng không đúng quy định 03 vụ, lỗi khác 01 vụ.

Tính chung 7 tháng (từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/7/2022), toàn tỉnh xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 38 người, bị thương 06 người. So cùng kỳ năm trước, số vụ tăng 02 vụ, số người chết tăng 06, số người bị thương giảm 03.

7.6. Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Tình hình sạt lỡ: Trong tháng xảy ra 06 vụ sạt lỡ, diện tích mất đất là 1.219m2, ước tổng thiệt hại 1.405 triệu đồng. Cùng kỳ năm 2021, tăng 03 vụ, diện tích mất đất tăng 405m2, ước thiệt hại tăng 677 triệu đồng (Tháng 7/2021 xảy ra 3 vụ sạt lỡ, diện tích mất đất 814m2, ước tổng thiệt hại 728 triệu đồng). Lũy kế từ đầu năm đến nay, xảy ra 17 trường hợp sạt lỡ, không có trường hợp nhà bị cuốn trôi, diện tích mất đất 2.834m2, ước tổng thiệt hại 2.062 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2021, giảm 11 vụ (diện tích mất đất giảm 1.508m2 và ước giá trị thiệt hại giảm 355 triệu đồng).

Mưa lớn, dông lốc: Trong tháng xảy ra 12 vụ dông lốc, làm sập 05 căn nhà, tốc mái 19 căn nhà, ngã 01 trụ viễn thông, ước thiệt hại 1.142 triệu đồng. Cùng kỳ năm 2021, không có xảy ra mưa lớn, giông lốc. Lũy kế từ đầu năm đến nay, sập 12 căn nhà, tốc mái 46 căn nhà và 02 phòng của Ban giám hiệu, ngã 01 trụ viễn thông ước thiệt hại 1.627 triệu đồng. Cùng kỳ năm 2021, xảy ra 02 vụ làm sập 08 căn nhà, tốc mái 16 căn nhà và 01 nhà kho, ước giá trị thiệt hại 2.244 triệu đồng.

Trong tháng, Cảnh sát môi trường phối hợp với Thanh tra môi trường đã kiểm tra một số đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh và đã phát hiện 05 vụ vi phạm và xử lý 09 vụ vi phạm về vận chuyển, chôn, lắp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; vi phạm các điều kiện về đảm bảo an toàn thực phẩm và vi phạm các quy định về vệ sinh thú y, với số tiền xử phạt là 43 triệu đồng. So với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 01 vụ, xử lý tăng 04 vụ, số tiền xử phạt tăng 26 triệu đồng (tháng 7 năm 2021, số vụ vi phạm môi trường phát hiện 04 vụ, xử lý 05 vụ, xử phạt 17 triệu đồng). Tính từ đầu năm đến nay, số vụ vi phạm môi trường phát hiện là 39 vụ, xử lý 36 vụ, với số tiền xử phạt là 564,50 triệu đồng, chủ yếu là vi phạm về an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt chuẩn cho phép và vi phạm quy định về vệ sinh thú y; vi phạm về thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và vi phạm về vận chuyển, chôn, lắp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. So với cùng kỳ năm 2021, số vụ vi phạm giảm 01 vụ, xử lý giảm 02 vụ, số tiền xử phạt giảm 146,5 triệu đồng (năm 2021, số vụ vi phạm môi trường phát hiện 40 vụ, xử lý 38 vụ, xử phạt 711 triệu đồng). Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân để kịp thời xử lý theo quy định.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Từ đầu năm đến nay đã xảy ra 04 vụ cháy, không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 1.400 triệu đồng./.

[1] Cụ thể: Huyện Châu thành A thu hoạch được 98,05%, Vị Thủy thu hoạch được 56,66% diện tích gieo sạ.

[2] Diện tích gieo trồng giảm do thay đổi mùa vụ.

[3] Nguyên nhân giảm là do điều kiện chăn thả ngày càng bị thu hẹp, hiệu quả kinh tế thấp nên người dân chuyển sang nuôi các vật nuôi khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

[4] Trong đó: Diện tích nuôi cá thát lát được 62,85 ha, tăng 1,42% (bằng 0,88 ha) so cùng kỳ.

[5] Trong đó: Diện tích nuôi tôm sú được 96,5 ha, tập trung ở huyện Long Mỹ (Nuôi trong ruộng lúa).

[6] Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh trên thủy sản ít xảy ra, nuôi cá tra công nghiệp được hộ nuôi đầu tư mở rộng, mô hình nuôi luân canh trong ruộng lúa và nuôi lồng bè, bể bồn đem lại thêm thu nhập cho người dân.

[7] Nguyên nhân là do các doanh nghiệp hoạt động ổn định và hiệu quả hơn cùng kỳ năm trước (trong tháng 7 năm 2021 có một số doanh nghiệp bùng phát dịch Covid-19, nên phải tạm ngưng hoạt động trên 20 ngày). Vì vậy, nên làm sản lượng sản xuất một số sản phẩm tăng đột biến so với cùng kỳ như: Tôm đông lạnh sản lượng sản xuất được 3.876,37 tấn, tăng 33,19% so với cùng kỳ; thức ăn gia súc sản lượng sản xuất được 24.301,59 tấn, tăng 23,06% so với cùng kỳ; Nước có vị hoa quả (cam, táo,…) sản lượng sản xuất được 18,1 triệu lít, tăng 92,59% so với cùng kỳ; sản xuất giày, dép bằng da sản lượng sản xuất được 1.604,32 ngàn đôi, tăng 60,49% so với cùng kỳ,… Ngoài ra, tăng một phần là do nhà máy nhiệt điện Sông Hậu I mới đầu tư hoàn thành và đi vào hoạt động ổn định từ ngày 01/6/2022 đến nay. Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất tháng này tăng cao so với cùng kỳ năm trước.


File đính kèm:
Bao_cao_KTXH_thang_7.2022.doc
So_lieu_KTXH_thang_7.2022.xlsx

Cục Thống kê tỉnh Hậu Giang

    Tổng số lượt xem: 84
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.