Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ bảy, ngày 23 tháng 10 năm 2021
English
a A
Hà Nam nằm ở tọa độ địa lý trên 20o vĩ độ Bắc và giữa 105o - 110o kinh độ Đông, phía Tây-Nam châu thổ sông Hồng, trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ.
Tỉnh Hà Nam cách thủ đô Hà Nội hơn 50 km, là cửa ngõ phía nam của thủ đô; phía bắc giáp với tỉnh Hà Tây, phía đông giáp với Hưng Yên và Thái Bình, nam giáp Nam Định và Ninh Bình, phía tây giáp Hòa Bình.  Vị trí địa lý này tạo rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh.
Nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam, trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua với chiều dài gần 50 km và các tuyến đường giao thông quan trọng khác như quốc lộ 21, quốc lộ 21B, quốc lộ 38. Hơn 4.000 km đường bộ bao gồm các đường quốc lộ, tỉnh lộ cùng các tuyến giao thông liên huyện, liên xã, thị xã, thị trấn đã được rải nhựa hoặc bê tông hóa, hơn 200km đường thủy có luồng lạch đi lại thuận tiện với 42 cầu đường đã được xây dựng kiên cố và hàng nghìn km đường giao thông nông thôn tạo thành một mạng lưới giao thông khép kín, tạo điều kiện thuận lợi về đi lại và vận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới. Từ thị xã Phủ Lý có thể đi tới các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Vị trí chiến lược quan trọng cùng hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt tạo cho Hà Nam lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội và vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ.
Tài nguyên đất đai với địa hình đa dạng là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh. Hà Nam có diện tích tự nhiên 851 km2 nằm trong vùng trũng của đồng bằng sông Hồng và giáp với vùng núi của tỉnh Hòa Bình và vùng Tây Bắc. Phía tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi đất và đồi rừng. Đất đai ở vùng này rất thích hợp với các loại cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả. Vùng đồng bằng phía đông của tỉnh được tạo nên bởi phù sa của các sông lớn như sông Đáy, sông Châu, sông Hồng. Đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa nước, hoa màu, rau, đậu, thực phẩm. Những dải đất bồi ven sông đặc biệt thích hợp với các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, dâu, lạc, đỗ tương và cây ăn quả. Ngoài ra đây cũng là vùng thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và phát triển nghề chăn nuôi gia cầm dưới nước.
Đá vôi, nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu của Hà Nam, có trữ lượng lớn tới hơn 7 tỷ m3. Đây là nguyên liệu quan trọng cho phát triển các nghành công nghiệp sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng. Phần lớn các tài nguyên khoáng sản phân bố gần trục đường giao thông, thuận tiện cho việc khai thác, vận chuyển và chế biến. Sản phẩm xi măng Bút Sơn của Hà Nam hiện đã có mặt trong hầu hết các công trình xây dựng lớn của đất nước. Với tiềm năng khoáng sản , trong tương lai, Hà Nam có thể trở thành một trong những trung tâm công nghiệp vật liệu xây dựng lớn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt. Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23 - 24oC, số giờ nắng trung bình khoảng 1.300-1.500 giờ/năm. Trong năm thường có 8 - 9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 20oC (trong đó có 5 tháng có nhiệt độ trung bình trên 25oC) và chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưói 20oC, nhưng không có tháng nào nhiệt độ dưới 16oC. Hai mùa chính trong năm (mùa hạ, mùa đông) với các hướng gió thịnh hành: về mùa hạ gió nam, tây nam và đông nam; mùa đông gió bắc, đông và đông bắc. Lượng mưa trung bình khoảng 1.900 mm, năm có lượng mưa cao nhất tới 3.176 mm (năm 1994), năm có lượng mưa thấp nhất cũng là 1.265 mm (năm 1998). Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%, không có tháng nào có độ ẩm trung bình dưới 77%. Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng 3 (95,5%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng 11 (82,5%). Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau là mùa hạ và mùa đông cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp tương đối là mùa xuân và mùa thu. Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3; mùa xuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4 và mùa thu thường kéo dài từ tháng 10 đến giữa tháng 11.
Hà Nam có lượng mưa trung bình cho khối lượng tài nguyên nước rơi khoảng 1,602 tỷ m3. Dòng chảy mặt từ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ hàng năm đưa vào lãnh thổ khoảng 14,050 tỷ m3 nước. Dòng chảy ngầm chuyển qua lãnh thổ cũng giúp cho Hà Nam luôn luôn được bổ sung nước ngầm từ các vùng khác. Nước ngầm ở Hà Nam tồn tại trong nhiều tầng và chất lượng tốt, đủ đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo thống kê mới nhất, dân số của Hà Nam là 811.126 người, với mật độ dân số là 941 người/km2, tỷ lệ tăng tự nhiên là 1,14 %/năm. Trong đó dân số nông thôn là 742.660 người, dân số sinh sống ở khu vực đô thị là 68.466 người (chỉ chiếm 8,5%). Số người trong độ tuổi lao động toàn tỉnh năm 2003 là 479.949 người (trong đó 240.735 nữ), chiếm 58,5% dân số. Số lao động tham gia thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân là gần 407,7 nghìn người, chiếm gần 85% nguồn lao động toàn tỉnh. Phần đông lao động có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ. Lực lượng lao động khoa học - kỹ thuật dồi dào với khoảng 11.900 người có trình độ từ cao đẳng, đại học và trên đại học (chiếm 3% lực lượng lao động) gồm có: trên cử nhân 34 người, cử nhân 4.250 người, cao đẳng 7.240 người. Số lao động có trình độ trung cấp khoảng 13.000 người và sơ cấp, công nhân kỹ thuật là 10.400 người. Số lao động đã được đào tạo nghề là 99,7 nghìn người, trong đó số người đã có chứng chỉ đào tạo nghề là 41,5 nghìn người (chiếm hơn 10% lao động). Hơn 81,4% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh là lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản. Số lao động trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm hiện còn trên 11,5 nghìn người, chiếm gần 3% lực lượng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động. Hàng năm dân số Hà Nam tăng thêm khoảng 8 - 9 nghìn người, tạo thêm nguồn lao động dồi dào, bổ sung cho nền kinh tế quốc dân. Về trình độ dân trí, Hà Nam đã được công nhận là tỉnh phổ cập giáo dục trung học cơ sở, bình quân số năm học của một lao động là 8,1 năm/người (hệ 12 năm).
Vị trí địa lý, sự đa dạng về đất đai, địa hình và thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu thuỷ văn thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ,hạ tầng kinh tế - xã hội đã phát triển của Hà Nam là những yếu tố tích cực để phát triển một nền công nghiệp hiện đại, nông nghiệp tiên tiến và đa dạng, cả về chăn nuôi và trồng trọt, lâm nghiệp và thủy sản. Tiềm năng về phát triển kinh tế của tỉnh còn rất lớn, với sự đầu tư mạnh mẽ, khai thác và sử dụng một cách hợp lý sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong tương lai./.

1. Danh lam thắng cảnh - Lễ hội truyền thống:

a/ Lễ hội truyền thống khu Di tích Lịch sử Văn hoá đình, chùa Châu

Lễ hội chùa Châu

Được xây dựng từ xa xưa và được trùng tu năm Thành Thái thứ 9, là nơi thờ tự các vị thần có công phò vua giúp nước, đình, chùa Châu còn lưu giữ được cuốn Thần phả và trên 20 đạo sắc các triều đại phong từ triều vua Chính Hoá, Cảnh Thịnh và triều đại nhà Nguyễn như: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đình Châu là nơi thờ Đức Cao Sơn Thượng đẳng thần và Điện suý Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, một danh tướng triều Trần. Lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc với các hoạt động tế, lễ, rước, giao hiếu diễn ra giữa tiểu khu Châu Giang và thôn Tháp. Song song với lễ hội, các hoạt động thể dục thể thao như bóng chuyền hơi, cầu lông, đua thuyền, kéo co… cũng được tổ chức, thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân.

b/ Lễ hội đền Trúc

Đền Trúc nằm ở thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam. Đền Trúc thờ danh tướng Lý Thường Kiệt. Hàng năm, nhân dân Quyển Sơn mở cửa đền mở hội từ ngày 1 tháng giêng đến 1 tháng hai âm lịch. Lễ hội được mở vào những ngày nông nhàn nên dân quanh vùng và du khách thập phương nô nức kéo về dự hội. Không gian lễ hội từ xưa mở. Lễ hội hát dậm và đua thuyền đền Trúc là một hoạt động đầy sức sống của dân gian, ca ngợi chiến công của Lý Thường Kiệt, ca ngợi quê hương đầy ắp không khí lịch sử, truyền thống văn hóa.

c/ Lễ hội vật Liễu Đôi

Lễ hội vật Liễu Đôi

Vật Liễu Đôi là một lễ hội làng tiêu biểu của văn hoá Hà Nam. Hàng năm, vào ngày 05 tháng giêng âm lịch, tại làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam lại diễn ra lễ hội vật để ghi nhớ công lao của chàng trai họ Đoàn giỏi võ đã có công đánh giặc cứu nước. Tham dự hội là dân làng Liễu Đôi và các làng có truyền thống vật võ gần xa. Hội vật võ Liễu Đôi cho phép phụ nữ được tham gia, chị em cũng được ra dóng với đao, côn, kiếm, quyền… không thua kém con trai.

Lễ hội vật Liễu Đôi thể hiện tinh thần thượng võ, đoàn kết của nhân dân Việt Nam, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông, góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Mùa lễ hội vật Xuân Kỷ Sửu 2009, diễn ra tại Long Đọi Sơn cùng với Lễ hội Tịch điền với sự tham gia của 06 đội các huyện, thành phố. Ban tổ chức đã trao 16 bộ huy chương gồm 09 bộ dân tộc, 07 bộ tự do cho các đô vật. Đồng thời, giải nhất toàn đoàn thuộc về huyện Lý Nhân; giải nhì toàn đoàn thuộc về huyện Kim Bảng; giải ba toàn đoàn thuộc về huyện Bình Lục./. 

d/ Làng mây tre đan Ngọc Động

Làng mây tre đan Ngọc Đông

Xã Hoàng Đông (Duy Tiên) có diện tích tự nhiên gần 7km2, dân số 6.894 người. Xã có 6 thôn, nơi đây có nghề mây tre đan truyền thống. Trong khi nhiều làng nghề truyền thống gặp không ít khó khăn thì nghề mây tre đan ở đây lại đang trên đà phát triển.

Ngày mới ra đời, ở đây chủ yếu sản xuất ghế mây. Sản phẩm này ngay lập tức được nhiều người chấp nhận bởi mẫu mã đẹp lại phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Càng ngày tiếng tăm của làng nghề càng vang xa, người về đặt mua sản phẩm, người bán nguyên liệu ngày một tấp nập.

Làng nghề ở Ngọc Động đã tồn tại qua bao thăng trầm. Lớp thợ hôm nay dám nghĩ dám làm để những sản phẩm của mình tiếp tục nối tiếp truyền thống của những người đi trước. Sản phẩm mây tre đan Ngọc Động được khẳng định chẳng những trên thị trường trong nước mà còn cả ở nước ngoài. Đó là một niềm vui không những của riêng người dân Ngọc Động mà còn là niềm tự hào của ngành TTCN tỉnh Hà Nam.

e/ Về Kẽm Trống thăm "Nam thiên đệ tam động"

Cách Hà Nội 80 km về phía Nam, Kẽm Trống (xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn) là một danh thắng độc đáo được tạo ra bởi sông Đáy là ranh giới giữa Hà Nam - Ninh Bình. Năm 1962, Kẽm Trống được công nhận là một di tích thắng cảnh quốc gia.

Những dãy núi quanh Kẽm Trống có nhiều hang động. Nhưng được nhắc đến nhiều nhất trong đó là Địch Lộng. Nơi này nổi tiếng bởi ngoài vẻ đẹp của động, còn có một khu đình chùa cổ kính. Quần thể động - chùa Địch Lộng đẹp tới mức đã được vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữ "Nam thiên đệ tam động", có nghĩa là động đẹp thứ ba ở trời Nam.

Tương truyền, vào năm 1739, một tiều phu đi kiếm củi, leo lên núi đã phát hiện ra cửa động. Khi vào trong, thấy có nhiều nhũ đá đẹp, đặc biệt trông thấy một nhũ đá có hình giống như tượng Phật nên lập bàn thờ Phật ở đó. Đến năm 1740 thì hình thành chùa.

Cùng với nét đẹp mê hồn, Động - Chùa Địch Lộng còn là di tích lịch sử trong kháng chiến chống Pháp và là nơi điều trị cho các nạn nhân của bom đạn Mỹ những năm chiến tranh ác liệt.

f/ Đền Lảnh Giang

Đền Lảnh Giang

 

Đền Lảnh Giang thuộc thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên bên bờ hữu ngạn sông Hồng, sát cạnh chân đê nối với các tỉnh Hà Tây, Hà Nội, Nam Định nên rất thuận tiện cho giao lưu bằng đường sông và đường bộ.

Đền Lảnh Giang thờ 3 vị tướng thời Hùng Duệ Vương. Căn cứ vào cuốn thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (Sự tích ra đời của một vị thuỷ thần triều vua Hùng) cùng sắc phong câu đối, truyền thuyết của địa phương thì ba vị tướng này đều là con của Bát Hải Long Vương và nàng Quý. Khi giặc phương bắc kéo tới bao vây bờ cõi đánh chiếm nước ta, định cướp ngôi báu của Hùng Duệ Vương thì ba ông đã giúp vua Hùng đánh tan giặc giữ yên bờ cõi giang sơn.

Đền Lảnh Giang là một công trình kiến trúc quy mô mang đậm nét phong cách cổ truyền của dân tộc. Tổng thể kiến trúc gồm ba toà với 14 gian lớn nhỏ làm theo kiểu chữ Công. Hai bên có nhà khách, mặt bằng nội công ngoại quốc. Đặc biệt toà Trung đường làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái cong…

g/ Núi Ngọc

Núi Ngọc

Quả núi nằm sát mặt nước sông Đáy. Núi Ngọc là một ngọn núi đá vôi trong hệ thống núi đá kéo dài từ Hòa Bình xuống hướng tây bắc đông nam qua xã Tượng Lĩnh – Khả Phong – Liên Sơn của huyện Kim Bảng. Tuy nhiên núi Ngọc nằm tách riêng, ngăn cách vệt dãy núi kia bằng con sông Đáy.

Núi Ngọc không cao lắm. Ở đây cây cối mọc nhiều, cây to cây nhỏ mọc chen nhau cành lá xum xuê do dân địa phương có ý thức giữ gìn. Trên núi có một cây si cổ thụ, tương truyền có tới hàng trăm tuổi. Đứng trên ngọn núi, du khách có cảm tưởng như được tách riêng biệt khỏi sự ồn ào náo nhiệt của cuộc sống hiện đại để hòa mình vào sự yên tĩnh thuần khiết của thiên nhiên với núi, sông, cây cỏ. Ngay dưới chân núi có một ngôi đền cổ thờ một ông nghè có công với dân làng.

h/ Động Phúc Long

Từ thị xã Phủ Lý theo quốc lộ 1A đi về phía Ninh Bình 2 km, rẽ phải theo đường qua cầu Đọ về Châu Sơn 4 km sẽ đến động. Động Phúc Long nằm trong khu vực núi Chùa thôn Châu, thuộc núi Kiện Khê (còn gọi là núi Thiên Kiện). Núi Chùa là một trong số những ngọn núi nối đuôi nhau ở địa phận thôn Châu Sơn và thôn La Mát thuộc Kiện Khê. Núi Chùa là ngọn trung tâm, trên đó có chùa Hang, có khu miếu ở phía bắc chùa. Vua Trần Duệ Tông (1373-1377) đã cho lập đền thờ trên núi, đền thờ này bị nhà Nguyễn phá vào năm Tân Dậu (1801) và cho xây lại ở thôn Châu như vị trí hiện nay. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, tục truyền trên núi Thiên Kiện có cây tùng cổ có rồng quần ở trên, vua Trần Thái Tông đã lập hành cung và Trần Đế Nghiễn cho quân vận chuyển tiền đồng về cất giấu năm 1379 ở nơi đây. Thời Pháp thuộc, Viễn Đông bác cổ đã liệt hạng núi Chùa là cổ tích danh thắng (ngày 01 tháng 6 năm 1925).

2. Danh nhân

a/ Nam Cao

Nam Cao (1917-1951) là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt, có một số tác phẩm đạt đến mức cổ điển của văn học hiện đại Việt Nam.

Ông cũng là một trong những người đặt nền móng và là một trong những tác giả đầu tiên của nền văn học mới với chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (từ năm 1945).

Càng ngày người ta càng thấy rõ một phần đáng kể trong di sản sáng tác của Nam Cao có khả năng trường tồn, nhập vào nguồn vốn cổ điển của văn học Việt Nam, có khả năng tươi lại, mới lại trong sự cảm thụ của các thế hệ độc giả ngày mai

b/ Bùi Kỷ - Nhà giáo, nhà biên khảo ngữ văn

Bùi Kỷ (1888-1960), tên chữ là Ưu Thiên, tên hiệu là Tử Chương sinh ngày 5-1-1888 ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân (nay thuộc thị xã Phủ Lý) tỉnh Hà Nam, mất ngày 19-5-1960 tại Hà Nội. Bùi Kỷ sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng Nho học.

Học giả Bùi Kỷ còn là cây bút sáng tác văn học ở khá nhiều thể loại: văn (nghị luận, phú, văn tế, câu đối...), thơ (thơ chữ Hán, thơ tiếng việt); ở đây tác giả dường như không có ý định vượt ra ngoài phạm vi kiểu văn học Đông Á Trung đại. Ở đây tác giả, vẫn như các thế hệ nhà nho trước kia, dùng văn thơ như nơi để nói chí, tỏ lòng, để thể hiện thế giới tinh thần của mình trong những nét thanh cao với nhiều ưu tư lo đời, thương đời lại cũng dùng văn thơ như phương thức răn mình, răn đời. Phần sáng tác thơ mà Bùi Kỷ tập hợp thành tập Ưu Thiên đồ mặc, chưa in thành sách, chỉ đăng báo ít bài, nay hầu như đã thất lạc, có lẽ là nơi thể hiện rõ nhất tâm tình tác giả.

c/ Tiến sĩ khoa học Trần Mai Thiên - Người mê cá chép Việt

Tiến sĩ khoa học Trần Mai Thiên (con trai nhà văn Nam Cao), nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, nghiên cứu cá chép từ năm 1965, khi là sinh viên năm thứ ba tại khoa Sinh Trường đại học Tổng hợp Leningrad của Liên Xô trước đây. Ông được đánh giá là người mở ra không gian mới về lai và chọn giống cá chép.

3. Đặc sản:

a/ Gạo tám

Từ đời này qua đời khác, người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ đều gọi loại gạo đặc sản của đồng ruộng hai bên bờ sông Ninh Cơ với cái tên giản dị, mộc mạc đáng yêu như cô thôn nữ, đằm thắm, dịu dàng - gạo tám. Cái tên chứa đựng nhiều ý nghĩa, vừa gợi nhớ đến tình làng nghĩa xóm, vừa khẳng định đã là gạo tám thì phải thơm, phải ngọt, dẻo.

Gạo tám có hai loại, tuy cùng hình dáng, hương vị giống nhau nhưng chất lượng chênh lệch. Chỉ những người sành sỏi mới phân biệt được đâu là tám cổ ngỗng, đâu là tám xoan.

Tám cổ ngỗng trồng không kén đất, trên cánh đồng lúa mùa ta có thể thấy những mảnh ruộng cấy tám cổ ngỗng trải dài, những ngọn lúa vàng vươn cao, đu đưa cổ con ngỗng đang vươn ra ngúc ngoắc, loại gạo này dùng để kinh doanh và bán cho các nhà hàng cơm vì sản lượng nhiều, nhưng vị thơm và dẻo không bằng tám xoan.

Gạo tám xoan phải trồng ở những nơi ruộng bùn pha cát, kề bên bờ sông, khi mưa dầm không úng, nắng hạn không khô. Loại gạo này để dành cho ngày tết, ngày giỗ hay để chiêu đãi những thượng khách, bạn bè thân hoặc đong năm, ba cân làm quà biếu... hạt gạo tám xoan thon, dài mỏng mình, mầu trắng xanh như cô con gái "mỏng mày hay hạt". Chỉ cần một vốc gạo nhỏ cũng đã toả mùa thơm ngát. Nồi cơm vừa chín tới, hé mở nắp vung là trong nhà, ngoài ngõ đã ngửi thấy mùi thơm lừng. Nấu tám xoan muốn ngon phải nấu bằng niêu đất hay nồi gang đun lửa rơm. Cơm tám xoan nếu ăn cùng thức ăn xào hay chan canh sẽ mất hết vị ngon, dẻo của gạo; hợp nhất với gạo tám xoan là ăn với giò lụa, chả quế, rưới thêm ít nước mắm nhĩ, rắc chút  hạt tiêu. Sau một ngày lao động mệt mỏi, được nâng bát cơm nóng hổi, thơm lừng ăn kèm cá bống, cá quả kho khô, cá rô rán giòn... hoặc tôm, thịt rim thì ngon biết mấy.

b/ Nghề làm bánh đa nem ở Nguyên Lý

Xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân là một nơi đất chật, người đông. Xã có 548 ha đất canh tác, 2865 hộ và 11.858 nhân khẩu. Nói đến Nguyên Lý người ta nghĩ ngay đến nơi làm bánh đa nem nổi tiếng. Đây không những là một nghề truyền thống mà còn là một bí quyết gia truyền để phát triển kinh tế.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử bánh đa nem Nguyên Lý vẫn tồn tại và phát triển, đây cũng là nét đẹp văn hoá của một làng nghề truyền thống

c/ Chuối ngự đồng chiêm

Chuối ngự

 

Dọc bờ sông Châu Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự. Nhưng ngon nhất, vẫn là chuối ngự làng chiêm trũng Ðại Hoàng (Lý Nhân, Hà Nam).

Cây chuối ngự, theo các cụ kể ít ra đã có từ thời nhà Trần. Từ phủ Thiên Trường đến ngoại thành Nam Ðịnh, các làng xóm ở Hà Nam, nhiều vùng đất là quê hương, là thái ấp các vua quan nhà Trần. Những ông vua thương dân, đánh giặc giỏi, lại được dân quý trọng, trồng lên loại sản vật quý giá dâng vua: chuối ngự.

d/ Bánh đúc

 

Bánh đúc

Bánh đúc vốn là món ăn dân dã của con nhà nghèo. Tuổi thơ của nhà văn Nam Cao đầy ắp những kỷ niệm về món bánh bình dân "bột xay rất nhuyễn", vôi bỏ vừa, mịn, chắc đấy mà không nồng chút nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước... dầm tí tương cua thì thật tuyệt" này.

Hương vị bánh đúc như làn gió đồng quê thổi man mát trong lòng thành phố. Đi xa, thỉnh thoảng nhớ về Hà Nội, nghĩ đến hương vị bánh đúc là lại muốn chảy nước miếng./.

1. Bản đồ hành chính:

Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam
2. Các đơn vị hành chính:
Tỉnh Hà Nam bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện và thành phố: Thành phố Phủ Lý (tỉnh lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, huyện Thanh Liêm và huyện Bình Lục.
Với tổng diện tích là 849,5 km2, dân số 792.800 người, mật độ 933 người/km2, trong đó:
Thành phố Phủ Lý, diện tích là 8,4 km2, dân số 38.600 người, mật độ 4.595 người/km2
Huyện Duy Tiên, diện tích là 142,5 km2, dân số 136.200 người, mật độ 956 người/km2
Huyện Kim Bảng, diện tích là 198,3 km2, dân số 143.700 người, mật độ 725 người/km2
Huyện Lý Nhân, diện tích là 166,8 km2, dân số 185.200 người, mật độ 1.110 người/km2
Huyện Thanh Liêm, diện tích là 178,5 km2, dân số 136.300 người, mật độ 764 người/km2
Huyện Bình Lục, diện tích là 154,9 km2, dân số 152.800 người, mật độ 986 người/km2
Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam 2006 – 2010
5 năm 2006 - 2010, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII trong điều kiện có nhiều thuận lợi: Qua 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng; Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì nhịp độ tăng trưởng cao; kết cấu hạ tầng được cải thiện rõ rệt; thu hút đầu tư có bước phát triển mạnh; công nghiệp có bước phát triển vượt bậc; sản xuất nông nghiệp vẫn được mùa, đời sống nhân dân được cải thiện.
Tuy nhiên, 5 năm qua cũng có nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp: Từ lạm phát, giá cả tăng cao đến khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, thương mại, đầu tư, đời sống. Trong khi đó, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt; dịch bệnh diễn biến khó lường; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, thiếu nhân lực có chất lượng cao… làm hạn chế kết quả thực hiện các mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và kế hoạch 5 năm 2006 - 2010: có 9/14 chỉ tiêu ước vượt mục tiêu đề ra, 5 chỉ tiêu đạt mục tiêu; cụ thể:
(1) Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 13,2%/năm, vượt chỉ tiêu Đại hội XVII (chỉ tiêu 12%).
(2)Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng:
                                                        Năm 2006                                 Năm 2010
Nông, lâm nghiệp:                                 28,4%                                       21,2%           
Công nghiệp-XD:                                   39,8%                                       48,2%
Dịch vụ:                                                31,8%                                       30,6%
(3) GDP bình quân đầu người đạt 16,83 triệu đồng, vượt chỉ tiêu.
(4) Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 27,3%, vượt chỉ tiêu.
(5) Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4,3%, vượt chỉ tiêu.
(6) Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 23,4%, vượt chỉ tiêu.
(7) Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 33,2%, vượt chỉ tiêu.
(8) Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 21,15%, vượt chỉ tiêu.
(9) Giải quyết việc làm mới cho 65.868 lao động, vượt chỉ tiêu.
(10) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 7,9%o, vượt chỉ tiêu.
               Giảm tỷ lệ sinh đạt 0,15%o.
(11) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đạt 19%, vượt chỉ tiêu.
(12) Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn hiện hành giảm còn 7%, đạt chỉ tiêu.
(13) Tỷ lệ dân số thành thị được dùng nước hợp vệ sinh đạt 100%, đạt chỉ tiêu. Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 75%, đạt chỉ tiêu.
(14) Tỷ lệ lao động qua đào tạo 35%, đạt chỉ tiêu.
Tăng trưởng kinh tế nhanh (13,2%/năm so với 9,1%/năm bình quân 2001 - 2005) và chất lượng tăng trưởng có bước cải thiện. GDP bình quân đầu người có bước tăng đột phá (2005 đạt 5,29 triệu đồng/người ≈55% mức bình quân cả nước, năm 2010 đạt 16,87 triệu đồng/người ≈ mức 74% bình quân cả nước).
Cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến nhanh, tích cực: công nghiệp - xây dựng 48,2%, nông lâm nghiệp 21,2%, dịch vụ 30,6%.
Tổng đầu tư toàn xã hội có bước tăng trưởng rất cao, đạt trên 31.078 tỷ đồng, tăng bình quân 40,1%/năm. Trong đó, vốn đầu tư được tập trung phát triển kết cấu hạ tầng: giao thông, đô thị, khu công nghiệp, xoá đói giảm nghèo, nông nghiệp, nông thôn… đã góp phần quan trọng thúc đẩy quan trọng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi bộ mặt đô thị, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu, nhiệm vụ, phát triển ngành, lĩnh vực chính như sau:
1. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Sản xuất công nghiệpđạt tốc độ tăng trưởng cao, có chuyển biến về cơ cấu sản xuất. Giá trị sản xuất 5 năm đạt 27.490 tỷ đồng, bình quân tăng 23,4%/năm (vượt mức bình quân chỉ tiêu Đại hội 2,9%/năm); nâng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng trong GDP từ 39,6%/năm 2005 lên 47,5% năm 2010.
Mặc dù sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá song hiệu quả sản xuất và tính chủ động chưa cao, sức cạnh tranh còn hạn chế. Doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh chủ yếu vẫn là nhỏ và vừa. Doanh nghiệp FDI chiếm tỷ lệ chưa cao và ít doanh nghiệp thuộc các nước công nghiệp phát triển; chưa thu hút được ngành công nghiệp mũi nhọn và đóng góp ngân sách chưa tương xứng.
2. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng nông thôn mới:
Sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản phát triển khá toàn diện, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nội bộ ngành theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi thuỷ sản, sản xuất hàng hoá và nâng cao chất lượng nông sản. Giá trị sản xuất 5 năm đạt 8.773,6 tỷ đồng, bình quân tăng 4,3%/năm, vượt kế hoạch. Sản lượng bình quân lương thực đạt 448.560 tấn/năm, vượt chỉ tiêu Đại hội trên 30 nghìn tấn. Tỷ trọng chăn nuôi, thuỷ sản tăng từ 31,2% năm 2005 lên 39,5% năm 2010. Năm 2010, tổng đàn trâu 2.788 con, đàn bò 34.688 con, đàn lợn 367.750 con; Thịt hơi xuất chuồng 63.159 tấn; Sản lượng thuỷ sản 18.011 tấn.
Lĩnh vực thuỷ lợi, nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn được quan tâm củng cố và đầu tư xây dựng mới. Công tác thuỷ lợi, phòng chống lụt bão đã được chủ động triển khai. Hệ thống đê, kè, cống được tu bổ, nâng cấp. Các địa phương thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiện trạng và kịp thời xử lý các sự cố về đê, kè, cống; xây dựng các phương án trọng điểm, phương án phân lũ, cứu hộ, cứu nạn, sẵn sàng ứng phó với những diễn biến bất thường của thời tiết.
3. Thương mại dịch vụ:
Thương mại, dịch vụ phát triển đa dạng cả về quy mô, ngành nghề, thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, góp phần bình ổn thị trường, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá 5 năm đạt 23.829,7 tỷ đồng, bình quân tăng 21,15%/năm, (vượt chỉ tiêu ĐH 9,15%/năm).
Giá trị hàng hoá xuất khẩu 5 năm đạt 593,8 triệu USD, tăng bình quân 33,2%/năm (vượt chỉ tiêu ĐH 23,2%/năm). Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo, mây giang đan, may mặc, thêu ren, lụa tơ tằm. Số doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh.
Du lịch:Hoàn thành đầu tư, nâng cấp, đưa vào khai thác công trình Bến thuỷ đi Chùa Hương, Chùa Long Đọi sơn... Tiếp tục đầu tư hạ tầng khu du lịch Tam Chúc - Ba Sao, chùa Bà Đanh, Đền Trần Thương... Đã hình thành một số tua, tuyến du lịch trên địa bàn; Hình thành và phát triển các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch, kinh doanh lữ hành.
4. Giáo dục - đào tạo; Khoa học - Công nghệ:
Giáo dục đào tạo tiếp tục giữ vững quy mô, có bước phát triển mới về chất lượng, nâng cao giáo dục toàn diện, từng bước đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đến hết năm 2010, toàn tỉnh có 228 trường đạt chuẩn Quốc gia (trong đó: 50/120 trường mầm non, đạt tỷ lệ 41,7%; 131/140 trường tiểu học, đạt tỷ lệ 93,6%; 41/120 trường THCS, đạt tỷ lệ 34,2%; 6/25 trường THPT, đạt tỷ lệ 24%).
Khoa học công nghệ tập trung hướng vào phục vụ sản xuất và đời sống, chú trọng chuyển giao công nghệ, phát triển mô hình ứng dụng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường, công nghiệp hoá nông thôn. Đã có trên 100 đề tài, dự án, sáng kiến kỹ thuật ứng dụng vào thực tiễn như chuyển đổi ruộng trũng sang sản xuất đa canh theo mô hình trang trại; quy trình sản xuất giống lúa bố mẹ phục vụ sản xuất hạt lai F1; thâm canh cây đậu tương, đổi mới công nghệ xi măng, lò đứng sang lò quay; xử lý nước thải, rác thải; ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước ở các cơ quan với tổng kinh phí 67,6 tỷ đồng; trong đó ngân sách Nhà nước chiếm 32,7%. Đã xây dựng cơ chế khuyến khích thu hút, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh.
5. Công tác quốc phòng, an ninh, nội chính:
Củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng khu vực phòng thủ và tổ chức tốt các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện gắn với khắc phục hậu quả thiên tai.
Công tác xây dựng lượng vũ trang địa phương vững mạnh về mọi mặt được chú trọng. Chất lượng chính trị, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng được nâng cao. Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cho các đối tượng. Hàng năm, tuyển chọn công dân nhập ngũ hoàn thành chỉ tiêu đúng luật, đảm bảo chất lượng. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Thường xuyên quan tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, đảm bảo an ninh trên các lĩnh vực, không để xảy ra bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
* Những tồn tại, hạn chế trong giai đoạn 2006-2010
- Tăng trưởng kinh tế có tốc độ cao, nhưng khối lượng gia tăng, quy mô nền kinh tế vẫn nhỏ. Dịch vụ vẫn chậm phát triển dẫn đến cơ cấu kinh tế chưa hợp lý.
- Xây dựng, triển khai các Chương trình, Đề án thực hiện Nghị quyết XVII chậm. Một số Chương trình, Đề án chưa đạt mục tiêu đề ra hoặc hiệu quả hạn chế.
- Chưa thu hút được các Tập đoàn kinh tế lớn, doanh nghiệp FDI có quy mô lớn của các nước công nghiệp phát triển vào đầu tư; chưa có chương trình xúc tiến, thu hút đầu tư dài hạn.
- Đầu tư xây dựng vẫn còn nhiều dự án chậm tiến độ; công tác GPMB còn gặp khó khăn.
- Thu ngân sách đạt thấp so tăng trưởng kinh tế, mất cân đối lớn so yêu cầu chi; vẫn còn tình trạng thất thu trong quản lý tài nguyên, khoáng sản, dịch vụ...
- Lĩnh vực văn hoá xã hội còn nhiều tồn tại, nhất là chất lượng khám chữa bệnh, vệ sinh ATTP; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Giải quyết việc làm, nhất là xuất khẩu lao động còn khó khăn.
- Môi trường bị ô nhiễm, nhất là lưu vực sông Nhuệ-Đáy, môi trường nông thôn, làng nghề./.
 
Hệ thống ứng dụng nội Bộ
 
 
 
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.