Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ tư, ngày 1 tháng 12 năm 2021
English
a A
1.Vị trí địa lý
Quảng Ngãi trải dài từ 14°32′ đến 15°25′ Bắc, từ 108°06′ đến 109°04′ Đông, tựa vào dãy núi Trường Sơn hướng ra biển Đông, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía tây giáp tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông. Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 883 km về phía Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 838 km về phía Nam.
2.Khí hậu
Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa. Nhiệt độ trung bình 25-26,9°C. Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa nắng. Khí hậu có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc vì địa hình địa thế phía nam, và do thế núi địa phương tạo ra. Lượng mưa của tỉnh là 2.198 mm/năm nhưng chỉ tập trung nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12 còn các tháng khác thì khô hạn.
3.Đặc điểm địa hình
Quảng Ngãi nằm ở miền Trung Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng có những cánh đồng lúa, mía và biển cả chia làm các miền riêng biệt:
Miền núi: rộng gần bằng 2/3 diện tích toàn tỉnh, có nhiều đá và khả năng khai thác kém. Núi cao hiểm trở, rừng rậm bao la nơi có lâm sản dồi dào, đặc biệt có quế Trà Bồng, một lâm sản quý. Quảng Ngãi có nhiều núi cao như núi Cà Đam tục gọi "Hòn Ông, Hòn Bà" cao độ 1.600m ngăn cách Sơn Hà và Trà Bồng; về phía tây bắc có núi Đá Vách (Thạch Bích) cao độ 1.500m ngăn cách Sơn Hà và Minh Long, núi U Bò cao độ 1.200m. Núi cao trung bình 700m như núi Cao Môn ở ngoài Trường Luỹ phía tây Huyện Đức Phổ. Các núi ở Quảng Ngãi có một số liệt vào hạng danh sơn, được vịnh làm thắng cảnh như : Thiên Ấn, Thiên Bút, Thạch Bích, Vân Phong ...
Miền đồng bằng: đất đai phần lớn là phù sa do các sông bồi lên thành phần cát khá cao của đất với sự xói mòn huỷ phá do thời tiết mưa nắng đặc biệt ở Quảng Ngãi. Chất đất ở đây tương đối nghèo, sự thoát thuỷ lại khá nhanh, thêm vào đó sự khô hạn kéo dài chứng tỏ một sự thiếu nước trong nhiều tháng của năm, một mầu sắc nhạt ở bề mặt đất cho biết sự thiếu chất bùn. Tuy nhiên, Quảng Ngãi còn có nhiều vùng ruộng rộng, thích hợp cho việc cày cấy, nhờ thế nước của các sông lớn phát nguồn từ dãy Trường Sơn chảy xuyên qua đồng bằng rồi ra biển.
Hải đảo Lý Sơn: nằm về phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền 24 km, vĩ độ Bắc 15'40 và kinh độ 19' có hải đảo Lý Sơn tục gọi là Cù Lao Ré vì trước kia có nhiều cây Ré dùng làm dây rất dai và bền.
Hải đảo hình đa giác không đều cạnh, chiều dài lớn nhất 7 km, chiều ngang 3 km, diện tích ước chừng 19 km2, hình ảnh nổi bật của hải đảo này là con đường dài hai bên có những hàng rào bông bụt đổ nhô lên giữa lá xanh, những khoảnh đất bồi nhưng được phủ cát trắng, trên máy bay trông nhưng rộng muối. Núi chiếm 1/4 diện tích của đảo, bốn phái cao, ở giữa trũng thấp, có đồi rẫy nằm vào khoảng giữa núi.
4.Dân số
Dân số của tỉnh là 1.306.307 người (theo số liệu năm 2007), nhưng theo số liệu điều tra năm 2009, dân số của tỉnh chỉ còn 1.217.159 người, như vậy dân số của tỉnh đang có xu hướng giảm về cơ học. Số dân vùng đồng bằng là 1.010.668, vùng núi là 186.689 người và vùng hải đảo là 19.802 người. Với diện tích 5.152,67 km2, mật độ dân số của tỉnh là 236 người/km2. Dân tộc trong tỉnh gồm người Việt (Kinh), Hrê, Cor, Xơ Đăng...
5.Tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất thuộc hệ thống phân loại của FAO - UNESCO, trên diện tích 513.688,14 ha, Quảng Ngãi có 9 nhóm đất chính với 25 đơn vị đất và 68 đơn vị đất phụ. Chín nhóm đất chính là: cồn cát, đất cát ven biển, đất mặn, đất phù sa, đất giây, đất xám, đất đỏ vàng, đất đen, đất nứt nẻ, đất xói mòn trơ trọi đá. Trong đó, nhóm đất xám có vị trí quan trọng (chiếm 74,65% diện tích đất tự nhiên) thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và nhóm đất phù sa thuộc hạ lưu các sông (chiếm 19,3% diện tích đất tự nhiên), thích hợp với trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu.
Diện tích đất của Quảng Ngãi được sử dụng gồm 322.034,59 ha đất nông nghiệp (62,5% diện tích đất tự nhiên), 45.636,2 ha đất phi nông nghiệp (8,86% diện tích đất tự nhiên) và 147.595,9ha đất chưa sử dụng (28,64% diện tích đất tự nhiên).
b. Tài nguyên rừng
Rừng Quảng Ngãi phong phú về lâm, thổ sản với nhiều loại gỗ như: trắc, huỳnh, đinh hương, sến, kiền kiền, gụ, giồi…,tổng trữ lượng gỗ khoảng 9,8 triệu m3. So với các tỉnh trong vùng duyên hải miền Trung, vốn rừng tự nhiên của Quảng Ngãi rất ít, chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo, nhưng nếu so về trữ lượng (tính trên 1 ha) thì trữ lượng các loại rừng của Quảng Ngãi lại cao hơn mức trung bình của cả nước.
c. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản không đa dạng về chủng loại, chủ yếu là khoáng sản phục vụ cho công nghiệp vật liệu xây dựng, nước khoáng và một số khoáng sản khác.
Những khoáng sản có thể khai thác trong 10 năm tới là: graphít trữ lượng khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cho phép đưa vào khai thác 2,5 triệu tấn, hàm lượng cácbon trung bình 20%, có nơi 24% nằm trên địa bàn huyện Sơn Tịnh; silimanhit trữ lượng 1 triệu tấn, phân bổ ở Hưng Nhượng (Sơn Tịnh); than bùn ở Bình Phú (Bình Sơn) trữ lượng 476 nghìn m3; cao lanh ở Sơn Tịnh trữ lượng khoảng 4 triệu tấn. Đá xây dựng gồm các loại đá làm vật liệu xây dựng, rải đường giao thông, áp tường, lát nền, trữ lượng trên 7 tỷ m3, phân bố ở Đức Phổ, Trà Bồng và một số huyện khác; nước khoáng ở Thạch Bích (Trà Bồng), Đức Lân (Mộ Đức), Nghĩa Thuận (Tư Nghĩa) và Sơn Tịnh.
1. Danh lam thắng cảnh
a) Về du lịch văn hóa - lịch sử
Thành Châu Sa: còn gọi là thành Hời, nằm ở xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, đông giáp Đồng Dinh, tây giáp núi Bàn Cờ, nam giáp sông Trà Khúc, bắc giáp núi Đầu Voi. Thành Châu Sa đắp bằng đất, gồm thành nội và thành ngoại. Thành nội có bình đồ hình chữ nhật, bề mặt thành rộng 5,2m trong khi thành ngoại có hai bờ chạy giáp sông Trà Khúc, dài trung bình 600m, có thế phòng thủ kiên cố chống địch từ bên ngoài. Thành Châu Sa được xây dựng vào khoảng thế kỷ IX, X nhằm bảo vệ mặt Nam của kinh đô Trà Kiệu.
Hệ thống phòng thành Cổ Lũy: nằm ở xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, hữu ngạn sông Trà và sát cửa biển, do người Chàm xây dựng vào khoảng thế kỷ IX, X, được người Pháp miêu tả là một cổ thành chắc chắn có tính quân sự. Hệ thống thành là một tiền đồn gồm ba thành liên kết nhau nhằm ngăn thuyền bè đối phương vào cửa Đại Cổ Luỹ, có sự liên kết với thành Châu Sa ở tả ngạn sông Trà Khúc.
Thành Bàn Cờ: nằm ở thôn Phương Bình, xã Nghĩa Thương, huyện Tư Nghĩa, do người Chàm xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ X. Thành đắp bằng đất, dựa vào một quả đồi tự nhiên, cao 25m, có 4 vòng thành vuông vức, chân xoãi rộng 11m, tạo hình thang cân. Đỉnh thành bằng phẳng, diện tích 500m2, ở đây không tồn tại một dấu vết kiến trúc nào, có thể là một vọng lâu dùng quan sát chung quanh. Nhân dân ở đây gọi là động Bàn Cờ, vì nó vuông vức tựa như bàn cờ.
Thành Cổ Quảng Ngãi: còn gọi tên là Cẩm Thành (thành Gấm) nằm cách Quốc lộ 1A 200m về phía đông, nay thuộc phường Nguyễn Nghiêm - thị xã (TX) Quảng Ngãi. Cổ thành Quảng Ngãi kiến trúc theo kiểu vô-băng (vauban) có hình bình đồ vuông, mỗi cạnh trên 500m, tổng diện tích trên 26 ha. Mặt tiền của cổ thành quay về hướng bắc, nhìn ra kinh đô Huế. Thành lấy sông Trà Khúc làm nhược thuỷ, lấy núi Thiên Ấn làm minh đường, hai bên hữu long, tả hổ là núi Ông (Quảng Phú) và núi Đá Đen (Phú Thọ), lấy ngọn Thiên Bút làm hậu chẩm. Thành nằm giữa một vùng thiên nhiên đẹp, tạo nên sự tổng hòa cảnh quan kiến trúc ngoạn mục.
Thiên Ấn Niên hà & Long Đầu hý thủy: nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, về phía bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi, núi Thiên Ấn chỉ cao hơn 100m, giống một cái triện (ấn), nhín phía nào cũng thấy núi có hình thang cân. Núi chỉ cách đầu cầu Trà Khúc chừng 2km về hướng đông, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh.
Núi Ấn  bên dòng sông Trà
b) Về du lịch sinh thái
Bãi biển Mỹ Khê: nằm trên quốc lộ 24B cách thị xã Quảng Ngãi 15 km, cách cảng Dung Quất 16 km và gần cảng Sa Kỳ, thuộc địa phận thôn Cổ Luỹ, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Mỹ Khê là bãi tắm lý tưởng của tỉnh Quảng Ngãi với không gian mênh mông, bãi cát mịn, độ dốc thoải, được che chắn kín đáo, chạy dài 7 km, phía sau là rừng dương xanh thẳm, bên cạnh là con sông Kinh mang vị ngọt của thượng nguồn đỏ về và vị mặn của biển đem lại nhiều đặc sản biển phong phú.
Bãi biển Mỹ Khê
Hàng năm khách đến bãi biển Mỹ Khê ngày càng đông. Ngoài việc nghỉ ngơi, tắm biển và hít thở bầu không khí trong lành, du khách còn có dịp thăm quan tưởng niệm khu chứng tích chiến tranh Sơn Mỹ. Tỉnh Quảng Ngãi đã có qui hoạch tổng thể khu du lịch Mỹ Khê với diện tích 342 ha để xây dựng các khu vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi như khách sạn Mỹ Khê, khu camping dành làm nơi cắm trại.
Biển Dung Quất: Nằm về phía đông bắc cách thị xã Quảng Ngãi khoảng 70 km. Biển Dung Quất có độ sâu lý tưởng. Bến Dung Quất đang được xây dựng thành cảng nước sâu cho tàu hàng vạn tấn cập bến. Trong tương lai Dung Quất trở thành cảng dầu khí lớn nhất Việt Nam. Với thành phố Vạn Tường hiện đại xây dựng trong nay mai, Quảng Ngãi, mảnh đất giàu tiềm năng, điểm thu hút đầu tư nước ngoài ở miền Trung và là điểm du lịch hấp dẫn khách trong nước và ngoài nước.
Nét đẹp Sa Hùynh: Sa Huỳnh nằm ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc huyện Đức Phổ, cách thị xã tỉnh lỵ 60 km. Sa Huỳnh là bãi biển đẹp, nổi tiếng là vựa muối quan trọng ở miền Trung. Bãi biển Sa Huỳnh nằm sát quốc lộ 1A, ở km 985, có ga xe lửa Sa Huỳnh, cho nên từ Hà Nội vào hay từ thành phố Hồ Chí Minh ra, du khách có thể dừng chân ghé lại đây rất thuận lợi. Địa danh Sa Huỳnh phải viết cho đúng là Sa Hoàng, có nghĩa là cát vàng. Thật vậy, màu cát ở đây không trắng như ở nơi khác mà lại có màu vàng óng ánh thật đẹp. Sở dĩ, phải viết thành Sa Huỳnh, vì chữ “ Hoàng” trùng tên Chúa Nguyễn Hoàng thời Nguyễn sơ.
Nét đẹp Sa Huỳnh
Từ lâu, Sa Huỳnh được biết đến như là di chỉ khảo cổ học với “Văn hóa Sa Huỳnh “. Đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học người Pháp như Vinet, Labare, Colani đã phát hiện ở Sa Huỳnh hàng loạt mộ chum và nhiều hiện vật tiêu biểu cho nền văn hóa cổ xưa bị chìm khuất dưới lòng đất qua thời gian dài lịch sử.
Thác Trắng: Thác trắng là một trong những thác đẹp nhất ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Thác nằm gần thôn Tịnh Ðố, xã Thanh An, huyện Minh Long. Từ huyện lỵ đi đến thác khoảng 7km. Thác Trắng Minh Long nằm giữa vùng núi Trường Sơn trùng điệp. Ðộ cao của thác khoảng 40-50mét. Từ trên cao, nước chảy xuống trắng xóa như dát bạc trên sườn núi đá dốc đứng. Dưới chân thác có hồ nước sâu tự nhiên rộng hàng trăm mét vuông, xanh biếc và mát lạnh. Giữa mùa hè nóng bức mà đến thác Trắng với không khí mát lành thì thật tuyệt.
Vẻ đẹp Sa Cần: Sa Cần là một trong năm cửa biển của người Quảng Ngãi, nằm ở phía đông bắc huyện Bình Sơn, nơi sông Trà Bồng đổ ra biển. Sông Trà Bồng chạy đến gần cửa biển thì mở rộng lòng, nước rất êm. Giữa lòng sông nổi lên một quả núi nhỏ với nhiều tảng đá lớn chồng chất lên nhau, gọi là hòn Bà, sách Ðại Nam Nhất thống chí gọi là "Ghềnh Thạch Bàn". Bên ngoài cửa biển, đối diện với hòn Bà và lớn hơn hòn Bà là hòn Ông, cũng nhiều đá nhưng có cây cối xanh tốt.
Vẻ đẹp Sa Cần
2.Lễ hội truyền thống
Lễ hội nghinh cá Ônghay còn gọi là lễ cúng cá "Ông" (cá voi) gắn liền với tục thờ cá ông phổ biến từ đèo Ngang trở vào đến Hà Tiên, đảo Phú Quốc, là loại lễ hội nước lớn nhất của ngư dân. Bằng nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ cầu ngư, lễ tế cá "Ông", lễ cúng "Ông", lễ nghinh "Ông", lễ nghinh ông Thuỷ tướng, nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá "Ông" là sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ biến trong các thế hệ ngư dân ở các địa phương nói trên.
Lễ hội nghinh cá Ông
Lễ khao lề thế línhlà một lễ hội được nhân dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi duy trì hàng trăm năm nay. Đây là lễ hội độc đáo với truyền thống uống nước nhớ nguồn nhằm ghi nhớ công ơn người xưa hay nhóm An Vĩnh thuộc hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật và cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về. Lễ hội được tổ chức tại Âm Linh Tự (một di tích được xếp hạng quốc gia) vào các ngày 18, 19, 20 tháng 4 Âm lịch hàng năm.
Lễ khao lề thế lính
Lễ hội đâm trâuđây là lễ hội của người Cor, người Ca Dong được tổ chức rất công phu và nghệ thuật. Mùa đâm trâu được tổ chức vào tháng 2 Âm lịch, khi mà hoa Pơ Lăng đỏ thắm trên các triền đồi. Khác biệt ở lễ hội đâm trâu của đồng bào Ca Dong không chỉ về thời gian, mà được tổ chức theo từng gia đình. Nhiều năm, số lượng trâu hiến tế lên đến hàng chục con. Theo quan niệm của đồng bào Ca Dong, đâm trâu là để cầu may cho gia đình tai qua nạn khỏi và sức mạnh đến với các thành viên trong gia đình. Hiến tế trâu càng to, lễ càng lớn thì càng có thêm sức mạnh.
Lễ hội đâm trâu
Lễ hội cầu ngư :lễ hội thường diễn ra vào trung tuần tháng 3 Âm lịch và là lễ hội dân gian truyền thống của ngư dân nhiều địa phương vùng biển. Ngư dân địa phương thường kết hợp lễ hội cầu ngư, lễ hội Cá Ông cùng với lễ hội ra quân đánh bắt cá vụ Nam hàng năm. Lễ hội cầu ngư của cư dân các làng chài duyên hải miền Trung, ngoài ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu... đem lại cuộc sống ngày càng no đủ hơn, còn thể hiện ý thức "Uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của các vị tiền hiền, có công lập làng, dựng nghề.
Lễ hội đua thuyền truyền thống
Lễ hội đua thuyền truyền thống : Lễ hội đua thuyền được diễn ra tại huyện Lý Sơn và Tịnh Long. Lễ hội ở Lý Sơn có thể xuất hiện sau lễ hội người Tịnh Long, cũng không thể thu hút nhiều người ở vùng khác đến như Tịnh Long, vì Lý Sơn là một đảo nhỏ, cách đất liền 25 km, nhưng chắc chắn việc đua thuyền ở đây có quy mô và quy củ hơn nhiều. Hàng năm vào rằm tháng Bảy, cúng tế các vị tiền hiền, người ta cũng tổ chức đua thuyền, nhưng chủ yếu vẫn là đua thuyền vào dịp đầu Xuân, kéo dài 4 ngày, từ mồng 4 đến mồng 8 tháng Giêng Âm lịch. Người ta tin rằng những thuyền đua thắng cuộc thì việc làm ăn trong năm sẽ được khấm khá, phát đạt và gặp nhiều may mắn.
Quảng Ngãi có những món ăn rất đơn giản nhưng nó lại trở thành đặc sản do hương vị đặc biệt thơm ngon và không giống ở nơi đâu.
3.Đặc sản - sản phẩm nổi tiếng
Cá bống sông Trà: dòng sông Trà bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, đổ ra biển với chiều dài trên dưới 39km, cá tôm không nhiều về chủng loại cũng như số lượng nhưng con nào ăn cũng ngon, đặc biệt là cá bống. Cá bống kho tiêu là món ăn đặc biệt của vùng sông nước Trà Giang. Ngon nhất phải nói đến loại cá bống cát ở sông Trà gọi là "Trà Giang sa ngư". Cá bống cát ở sông Trà có nhiều loại, từ loại cá bống cát nhỏ con, màu vàng nhạt, cỡ bằng ngón tay út cho đến loại cá bống vồ, to con, và loại cá bống mú có thân hình tím sẫm như loại cá mú biển.
Đặc sản cá Bống sông Trà
Kẹo mạch nha: Mạch nha của Quảng Ngãi có mùi thơm dìu dịu, vị thanh thanh, trong mà không cần nấu với bột, ngọt mà không cần nấu với đường. Ai đã từng đến xứ Quảng, lúc trở về đều không quên mang theo những lon mạch nha, hình thức nhãn hiệu tuy đơn sơ nhưng kẹo trong, ngon, sản phẩm đặc biệt của một vùng.
Gỏi cá cơm: đây là món tuy đơn giản, dân dã nhưng rất độc đáo. Một gắp rau sống, một hoặc hai gắp gỏi cá cơm tùy ý để vào chiếc bánh tráng mỏng và cuốn lại, chấm nước tương, nếu thích cay dùng thêm tí ớt, tí tỏi và nhấp thêm một chút rượu gạo, để dẫn đường làm cho miếng gỏi cá cơm thêm thi vị. Tất cả các vị ngọt bùi, cay đắng, chua chát... tan vào miếng gỏi cá cơm. Một bữa gỏi cho năm, bảy người không tốn kém bao nhiêu mà hương vị của nó khiến ta nhớ mãi.
Mắm Nhum: Nhum là một động vật thuộc loại nhuyễn thể, có họ hàng với trai, sò; sống ở những gành đá ven bờ biển nước ấm, lẫn trong rong rêu, từ Bình Định đến Quảng Ngãi. Thịt nhum có thể kho để ăn cơm, trộn trứng chưng cách thủỵ.., nhưng ngon nhất là làm mắm. Mắm nhum sền sệt, mầu đỏ đục, thơm lựng, từng là đặc sản tiến vua xưa của người dân Quảng Ngãi.
Mắm nhum

 

1. Bản đồ hành chính

 

Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi

 

2. Các đơn vị hành chính
Tỉnh Quảng Ngãi bao gồm 1 thành phố trực thuộc (thành phố Quảng Ngãi) và 13 huyện trong đó có 1 huyện đảo (huyện đảo Lý Sơn),6 huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi. Các huyện của Quảng Ngãi gồm huyện: Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tây, Sơn Tịnh, Tây Trà, Trà Bồng, Tư Nghĩa.

ĐẶC ĐIỂM VÀ TIỀM NĂNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NGÃI

Đánh giá tổng quát tình hình kinh tế - xã hội và tiềm năng đầu tư trong giai đoạn 2006-2010 cho thấy hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu được thực hiện đạt và vượt, tỉnh ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng. Các ngành, vùng kinh tế, nhất là Khu kinh tế Dung Quất phát triển mạnh; việc hoàn thành và vận hành 100% công suất nhà máy lọc dầu, cùng với kết quả đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế kỹ thuật đã đưa quy mô kinh tế của tỉnh tăng lên đáng kể. Lĩnh vực văn hoá, xã hội có bước chuyển biến tiến bộ; đời sống của nhân dân được cải thiện.

Bên cạnh những ưu điểm trên còn những mặt tồn tại, hạn chế như sau: Một số chỉ tiêu chủ yếu như: giá trị sản xuất nông nghiệp; sản lượng mía cây; phủ sóng phát thanh, truyền hình; tỷ lệ xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng - an ninh và nhiều chỉ tiêu cụ thể của ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội thực hiện chưa đạt. Kinh tế phát triển chưa thật bền vững; chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm và doanh nghiệp thấp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn phát triển chậm; nông nghiệp phát triển chưa toàn diện; loại hình dịch vụ thiếu đa dạng. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ. Sản xuất và đời sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư còn chênh lệch lớn. Một số mặt trên lĩnh vực văn hoá, xã hội phát triển chậm.

1. Kinh tế tăng trưởng tốc độ cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, quy mô kinh tế tăng đáng kể, đã ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm 18,53%, vượt chỉ tiêu, gấp 1,8 lần giai đoạn 2001 - 2005. Quy mô tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 26.938 tỷ đồng, gấp 4,1 lần năm 2005. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.198 USD, gấp 3,75 lần năm 2005. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 89.257 tỷ đồng, gấp 4,6 lần giai đoạn 2001 - 2005. Tỷ trọng công nghiệp từ 30% tăng lên 58,3%; dịch vụ từ 35,2% giảm xuống 22,9%; nông nghiệp từ 34,8% giảm xuống 18,8%. Tỷ trọng lao động công nghiệp từ 12,7% tăng lên 17%; lao động dịch vụ từ 19,8% tăng lên 22%; lao động nông nghiệp từ 67,5% giảm xuống 61%.

1.1. Công nghiệp - xây dựng phát triển nhanh, trong đó công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng có bước phát triển nhảy vọt.

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân trên 40%/năm; riêng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 15.354 tỷ đồng, gấp 8,6 lần năm 2005, cả giai đoạn 5 năm tăng bình quân 53,6%/năm. Quy mô và năng lực sản xuất của ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng tăng lên đáng kể. Nhiều sản phẩm mới của công nghiệp lọc hoá dầu, cơ khí, đóng tàu, vật liệu xây dựng, chế biến đồ gỗ, nguyên liệu giấy… đã tạo lập được vị thế trên thị trường.

1.2. Nông nghiệp tiếp tục phát triển, nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống của nông dân được nâng lên.

Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng bình quân 3,42%/năm; trong đó nông nghiệp tăng 2,4%, lâm nghiệp tăng 4,81%, thuỷ sản tăng 5,43%. Sản lượng lương thực tăng bình quân 1,74%/năm; năm 2010 đạt 448.800 tấn, vượt chỉ tiêu 6,8%, bảo đảm lương thực trong tỉnh. Vùng nguyên liệu mì, keo phát triển đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đàn trâu, bò tăng cả số lượng và chất lượng, đàn trâu tăng bình quân 2,07%, đàn bò tăng bình quân 3,54%, tỷ lệ bò lai đạt 45% tổng đàn; tỷ trọng chăn nuôi chiếm 31,5% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp.

Sản lượng thuỷ sản bình quân hàng năm tăng 1,8%, năm 2010 đạt 99.700 tấn, vượt chỉ tiêu 4,9%. Nuôi trồng thuỷ sản tăng khá, sản lượng tôm nuôi hàng năm tăng 16,7%; năm 2010 đạt 6.500 tấn, vượt chỉ tiêu 54,7%. Năng lực đánh bắt hải sản tăng lên; công tác quản lý, đăng ký, đăng kiểm tàu cá chuyển biến tích cực.

1.3. Dịch vụ có bước phát triển khá, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Giá trị sản xuất toàn ngành bình quân tăng 13,5%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ bình quân tăng 28,4%/năm, năm 2010 đạt 16.800 tỷ đồng, gấp 3,48 lần năm 2005. Một số ngành dịch vụ phát triển khá nhanh, nhất là dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tín dụng. Ngành du lịch đã có một số chuyển biến tích cực, doanh thu bình quân hàng năm tăng 25,3%. Một số dự án đầu tư phát triển du lịch đang được triển khai tại Khe Hai, Mỹ Khê, Sa Huỳnh. Việc xây dựng các tuyến du lịch, mở rộng liên doanh, liên kết bước đầu đạt kết quả.

1.5. Huy động các nguồn vốn đạt kết quả khá. Thu, chi ngân sách trên địa bàn vượt kế hoạch đề ra.

Hoạt động xuất, nhập khẩu đạt kết quả vượt bậc. Kim ngạch xuất khẩu bình quân tăng 49,3%/năm. Kim ngạch nhập khẩu bình quân tăng 221%/năm, chủ yếu là nhập khẩu máy móc, thiết bị, dầu thô phục vụ sản xuất.

Nhiều chính sách, giải pháp tích cực đã được triển khai thực hiện để huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Nhờ đó, tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 89.250 tỷ đồng, bình quân tăng 23,3%/năm, vượt chỉ tiêu kế hoạch, gấp 4,6 lần giai đoạn 2001 - 2005.

Công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách có nhiều tiến bộ. Thu ngân sách hàng năm luôn vượt dự toán. Năm 2010, nhờ nhà máy lọc dầu đi vào sản xuất nên thu ngân sách tăng cao, đạt trên 10.455 tỷ đồng, gấp 19,1 lần năm 2005. Chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 22,9%/năm, cơ cấu chi chuyển dịch theo hướng tăng cho đầu tư phát triển và bảo đảm an sinh xã hội.

2. Giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ có bước chuyển biến tích cực; các vấn đề xã hội được chú trọng thực hiện, đời sống tinh thần của nhân dân được nâng lên

2. 1. Giáo dục và đào tạo phát triển cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, góp phần đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Hệ thống trường học, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường ở các cấp học đều tăng. Cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị dạy học, nhà công vụ giáo viên được tăng cường. Đã tập trung đào tạo, bồi dưỡng và cơ bản hoàn thành việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; đồng thời tăng cường các biện pháp quản lý, khắc phục một bước bệnh thành tích trong giáo dục. Chất lượng giáo dục có chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh khá, giỏi, học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng ngày càng cao.

Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề phát triển mạnh. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có 23 cơ sở đào tạo nghề. Sự hình thành trường Đại học Phạm Văn Đồng, Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở Miền Trung) và các trường cao đẳng nghề đã góp phần tích cực vào đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương. Năm năm qua, đã đào tạo nghề cho 35.600 lao động, ước tính có khoảng 70% đã tìm được việc làm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 14,6% năm 2005 lên 28% năm 2010, đạt chỉ tiêu đề ra.

2.2. Khoa học và công nghệ phát triển, tạo động lực thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Công tác quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ có nhiều tiến bộ. Đội ngũ trí thức, nghiên cứu khoa học tăng lên; cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư; hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ có hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu các đề tài khoa học đã cung cấp được một số luận cứ góp phần xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức thành công các cuộc hội thảo khoa học. Lĩnh vực khoa học công nghệ có bước tiến mới, một số công nghệ hiện đại đã được đưa vào ứng dụng như: công nghệ lọc, hóa dầu, chế tạo cơ khí, đóng tàu... Đã tập trung chỉ đạo ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Toàn tỉnh, có trên 70 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và trên 250 nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ được bảo hộ, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp.

2.3. Hoạt động văn hoá, thể dục thể thao ngày càng được mở rộng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân.

Các hoạt động văn hoá được đẩy mạnh. Tính tích cực, tự giác của nhân dân được nâng lên. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" đi dần vào chiều sâu, chú trọng chất lượng. Di sản văn hoá được bảo tồn, các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp được phát huy; di tích lịch sử, văn hoá được đầu tư tôn tạo. Các thiết chế văn hoá ở cơ sở từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Xã hội hoá các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao được nhân dân hưởng ứng. Toàn tỉnh có 80% gia đình; 65%, thôn, tổ dân phố; 85% cơ quan và 8% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hoá.

Phong trào thể dục, thể thao tiếp tục phát triển. Số người thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao đạt khoảng 25% dân số, số gia đình thể thao đạt khoảng 14%. Một số môn thể thao thành tích cao được quan tâm đầu tư, số lượng vận động viên tham gia thi đấu và đoạt huy chương cấp quốc gia  hàng năm tăng lên.

2.4. Cùng với quá trình phát triển kinh tế đã chú trọng thực hiện các chính sách xã hội và bảo đảm an sinh xã hội.

Phong trào đền ơn, đáp nghĩa được đẩy mạnh, đời sống người có công cách mạng được nâng lên. Hoàn thành Đề án xây dựng 17.000 ngôi nhà cho hộ nghèo, hộ chính sách trước thời hạn 2 năm và đang tích cực hỗ trợ xây nhà cho trên 12.000 hộ nghèo, hộ chính sách còn lại. Chính sách an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng. Triển khai Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế đạt kết quả tích cực, Luật bảo hiểm thất nghiệp bước đầu đạt kết quả.

 Công tác giảm nghèo được chú trọng thực hiện, nhất là ở miền núi. Nhiều giải pháp tích cực đã được triển khai, tạo điều kiện cho hộ nghèo vươn lên phát triển sản xuất, ổn định đời sống, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 15%. Cùng với sự phát triển kinh tế, nhất là phát triển công nghiệp và dịch vụ, bình quân mỗi năm tạo thêm việc làm và giải quyết việc làm mới cho 33.800 lao động; trong 05 năm, đã đưa gần 3.360 người đi xuất khẩu lao động; tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,1% năm 2005 xuống còn 4,5% năm 2010./.

 
Hệ thống ứng dụng nội Bộ
 
 
 
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.