Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ năm, ngày 7 tháng 7 năm 2022
English
a A

1. Vị trí địa lý:

Bình Phước là một tỉnh miền núi ở phía Tây của vùng Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương và phía Bắc tỉnh Đắk Lắk và Campuchia.

2. Khí hậu:

Tỉnh Bình Phước nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

Nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và ổn định từ 25,8 - 26,2°C . Nhiệt độ bình quân thấp nhất 21,5 – 22°C. Nhiệt độ bình quân cao nhất từ 31,7 - 32,2°C. Nhìn chung sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, song chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm thì khá lớn, khoảng 7 đến 9° C nhất là vào các tháng mùa khô. Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 3,4,5 (từ 37-37,2°C) và thấp nhất vào tháng 12 là 19°C.

Nằm trong vùng dồi dào nắng. Tổng số giờ nắng trong năm từ 2400 - 2500 giờ. Số giờ nắng bình quân trong ngày từ 6,2 - 6,6 giờ. Thời gian nắng nhiều nhất vào tháng 1, 2, 3, 4 và thời gian ít nắng nhất vào tháng 7, 8, 9.

Lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ 2.045 – 2.325 mm. Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 - 11, chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất 376 mm (tháng 7). Mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10 - 15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2, 3.

3. Đặc điểm địa hình:

Địa hình vùng lãnh thổ Bình Phước là cao nguyên ở phía Bắc và Đông Bắc, dạng địa hình đồi núi, thấp dần về phía Tây và Tây Nam.

4. Dân số:

Dân cư toàn tỉnh­ có tổng số là 835,3 nghìn người, trong đó dân số nông thôn chiếm đa số 83,9%, dân số thành thị chỉ chiếm 16,1%, mật độ dân số trung bình: 122 người/km2. Dân cư tập trung cao nhất ở thị xã Đồng Xoài,  huyện Bình Long với mật độ lần lượt là 363 người/km2, 185 người/km2, dân cư huyện Bù Đăng thưa thớt nhất 73 người/km2.

Dân tộc Stiêng ở Bình Phước

Bình Phước có 41 dân tộc đang sinh sống, chủ yếu là người Việt, Stiêng, Khmer, Nùng, Tày.

5. Tài nguyên thiên nhiên:

a. Tài nguyên đất

Tỉnh Bình Phước có tổng diện tích tự nhiên là 6.874,6 km2, có 7 nhóm đất chính với 13 loại đất. Theo phân loại, đất chất lượng cao trở lên có 420.213 ha, chiếm 61,17% tổng diện tích đất tự nhiên, đất có chất lượng trung bình là 252.066 ha, chiếm 36,78% diện tích đất tự nhiên và đất có chất lượng kém, hoặc cần đầu tư chỉ có 7.884 ha, chiếm 1,15% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Là một trong những tỉnh có chất lượng đất khá tốt so với cả nước và là điều kiện hết sức quan trọng trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

b. Tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh chiếm 51,32% trong tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó đất có rừng chiếm 48,37% so diện tích đất lâm nghiệp và bằng 24,82% diện tích tự nhiên của tỉnh.

Vị trí rừng của tỉnh đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái tạo điều kiện tốt cho việc thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của vùng Đông nam bộ nói chung và các tỉnh lân cận nói riêng. Rừng Bình Phước có tác dụng tham gia điều hoà dòng chảy của các con sông lớn như Sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai. Giảm lũ lụt đột ngột đối với các tỉnh vùng ven biển và đảm bảo nguồn sinh thuỷ trong mùa khô kiệt.

c. Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản được phân bố rải rác chủ yếu vùng phía tây và một ít ở trung tâm. Đã phát hiện được 91 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hoá với 20 loại khoáng sản có tiềm năng triển vọng khác nhau thuộc 4 nhóm: nguyên liệu phân bón, kim loại, phi kim loại, đá quý và bán quý. Trong đó nguyên vật liệu xây dựng (đá, cát, sét, laterit, puzơlan) kaolin, đá vôi...là loại khoáng sản có triển vọng và quan trọng nhất của tỉnh.
Cụ thể: Có 4 mỏ quặng Bauxít trên bề mặt diện tích 13.400ha; 6 điểm khoáng hoá; 26 mỏ đá xây dựng; 3 mỏ cát, cuội, sỏi; 11 mỏ sét gạch ngói; 15 điểm mỏ Laterit và vật liệu san lấp; 5 mỏ kaolin; 2 mỏ đá vôi xi măng có quy mô lớn; 2 mỏ sét xi măng và laterit; 6 mỏ puzơlan; 2 mỏ laterit; 2 mỏ đá quý và 4 mỏ bán đá quý.
Hiện nay tỉnh mới chỉ khai thác một số mỏ như đá vôi, đá xây dựng, cát sỏi, sét gạch ngói đáp ứng một phần cho sản xuất tiêu dùng, xây dựng trong tỉnh, còn lại các mỏ khác đang tiến hành thăm dò để có cơ sở đầu tư khai thác.

d. Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: có hệ thống sông suối tương đối nhiều với mật độ 0,7 - 0,8 km/km2, bao gồm sông Sài Gòn, Sông Bé, sông Đồng Nai, sông Măng và nhiều suối lớn. Ngoài ra còn có một số hồ, đập như hồ Suối Lam, hồ Suối Cam, đập nước thuỷ điện Thác Mơ (dung tích 1,47 tỷ m3), đập thuỷ điện Cần Đơn, đập thuỷ điện Sork phú miêng v.v…

Nguồn nước ngầm: các vùng thấp dọc theo các con sông và suối, nhất là phía Tây Nam tỉnh, nguồn nước khá phong phú có thể khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Tầng chứa nước Bazal (QI-II) phân bố trên quy mô hơn 4000 km2 , lưu lượng nước tương đối khá 0,5 - 16 l/s, tuy nhiên do biến động lớn về tính thấm nên tỷ lệ khoan khai thác thành công không cao. Tầng chứa nước Pleitocen (QI-III), đây là tầng chứa nước có trữ lượng lớn, chất lượng nước tốt, phân bố vùng huyện Bình Long và nam Đồng Phú. Tầng chứa nước Plioxen (N2) lưu lượng 5-15 l/s, chất lượng nước tốt. Ngoài ra còn có tầng chứa nước Mezozol (M2) phân bố ở vùng đồi thấp (từ 100-250m).

1. Danh lam thắng cảnh:

Nằm trong khu vực chuyển tiếp từ vùng Nam Trung Bộ sang vùng hạ Tây Nam Bộ do đó cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái của Bình Phước tương đối đa dạng với những khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, hệ sinh thái còn được bảo tồn nguyên vẹn.... tạo thành các khu vực có khả năng phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái.

a. Về du lịch văn hóa - lịch sử

Khu Di tích Phú Riềng Đỏ

Di tích này nằm tại huyện Đồng Phú. Trong dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước trên một đỉnh đồi có địa hình tương đối bằng phẳng công ty cao su Đồng Phú đã xây dựng đài tưởng niệm cao 10m, chân tượng dài 3,4m ngang 1,7 m trên đỉnh tượng đài có biểu tượng búa liềm. Xung quanh tượng đài là những lô cao su non và dưới đồi là con suối chạy uốn quanh. Đây là một di tích lịch sử nói lên được giá trị và tầm quan trọng của đường lối đúng đắn và phát triển mạnh mẽ của tồ chức Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chi bộ đã lãnh đạo phong trào công nhân cao su từ đấu tranh tự phát chuyển sang tự giác để làm nên một Phú Riềng đỏ anh hùng. Ngày 12/2/1999, Nhà nước đã công nhận đây là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Khu du lịch núi Bà Rá – Thác Mơ

Khu Du lịch sinh thái Bà Rá – Thác Mơ

Cách thành phố Hồ Chí Minh 180 km, khu du lịch núi Bà Rá là một thắng cảnh của huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước gắn liền với cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Phước Long trước đây. Nơi đây đã xây dựng một nhà bia để tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong khu vực Bà Rá.

Núi Bà Rá cao 723 m, tọa lạc giữa một vùng đồi thấp, cây cối xanh tươi, rậm rạp, tạo nên một vẻ hùng vĩ. Ðứng trên lưng chừng núi có thể nhìn thấy cả một khu vực rộng lớn, bao gồm thị trấn Thác Mơ xinh đẹp, hồ Thác Mơ mà trong mùa mưa rộng tới 12.000 ha, cung cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Thác Mơ.

Năm 1925, Pháp cho xây tại chân núi một nhà tù lớn để giam cầm bọn trộm cướp lưu manh, giam cầm chính trị phạm, những người bị tình nghi là cộng sản nhưng không thành án. Năm 1941, Pháp cho xây dựng thêm khu C để giam những tù chính trị. Bên sườn núi phía Tây có hang Dơi, hang Cây Sung, là nơi đội công tác núi Bà Rá đã từng bám trụ và gây nhiều nỗi kinh hoàng sợ hãi cho địch. Trong hai cuộc kháng chiến, núi Bà Rá còn là căn cứ địa cách mạng vững chắc để đánh đuổi kẻ thù.

Ngày nay, núi Bà Rá không chỉ mang ý nghĩa giá trị lịch sử mà còn là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng với dòng sông Bé uốn quanh co, với Thác Mẹ, Thác Mơ, rừng cây với hệ thực vật đa dạng phong phú được Bộ Lâm nghiệp xếp vào hệ thống rừng đặc chủng của cả nước. Nơi đây còn có đập thuỷ điện Thác Mơ, đem lại nguồn điện sinh hoạt cho nhân dân và góp phần thúc đẩy cho sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá cho đất nước.

Sóc Bom Bo

Từ thị xã Đồng Xoài, theo Quốc lộ 14 đi về hướng huyện Bù Đăng khoảng 50 km, đến ngã ba Minh Hưng rẽ phải đi thêm 6km nữa ta sẽ đến sóc 1 thuộc xã Bom Bo.

Đây là thôn một trong ba thôn của đồng bào dân tộc Stiêng, dân tộc đông nhất trong các dân tộc ở tỉnh Bình Phước. Chính thôn này hiện tập trung phần lớn đồng bào Stiêng từng giã gạo nuôi quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trước đây.

Vào nhà văn hóa xã Bom Bo, những hình ảnh, vật dụng còn lưu giữ cho thấy rõ hơn một sóc Bom Bo nổi tiếng thời chống Mỹ. Đời sống của đồng bào Stiêng ngày càng được cải thiện, nhưng những dấu tích lịch sử hào hùng đẹp chỉ còn lưu lại trong một nhà văn hóa nhỏ. Ngành du lịch Bình Phước đã tổ chức những đêm lửa trại cồng chiêng sóc Bom Bo, có đốt lửa, uống rượu cần, ăn thịt nướng và nghe các già làng kể chuyện, xem các thôn nữ biểu diễn vũ điệu của người Stiêng... Đó là những nét văn hóa cần truyền đời lưu giữ và tạo ra sự hấp dẫn khách đến với "sóc Bom Bo".

Nơi đây còn được biết đến với bài hát nổi tiếng "Tiếng chày trên sóc Bom Bo" của cố nhạc sĩ Xuân Hồng. Ngày nay, đến nơi này du khách sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ Stiêng quay quần trước cửa nhà giã gạo và tiếng cười trên các khuôn mặt rạng rỡ của những người dân chân chất.

b. Về du lịch sinh thái:

Vườn quốc gia Bù Gia Mập

Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm ở phía đông bắc của tỉnh Bình Phước, thuộc huyện Phước Long, có tổng diện tích 26.032 ha. Đây được xem là nơi bảo tồn các nguồn gien quý hiếm của hệ động, thực vật và cây làm thuốc, đồng thời bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn cho các hồ chứa nước của các công trình thủy điện Thác Mơ và Cần Ðôn, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái.

Nơi đây được bao quanh bởi đồi núi và hệ thống sông suối chảy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia như các dòng suối Đác Sa, Đác Ka, Đác Kme. Thực vật ở vườn quốc gia rất đa dạng và phong phú, với 724 loài thực vật nằm trong 326 chi, 109 họ, 70 bộ thuộc 6 ngành thực vật khác nhau. Bên cạnh đó, đây còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gà tiền mặt đỏ, gấu ngựa, voi, chà và chân đen... Có thể nói, vườn quốc gia Bù Gia Mập là một địa chỉ du lịch sinh thái rất hấp dẫn đối với những du khách thích thể thao mạo hiểm và thiên nhiên hoang dã.

Hồ Suối Lam

Nơi gặp gỡ của các dòng suối nhỏ tạo nên mặt hồ trong xanh và tràn đầy thơ mộng, cách trung tâm tỉnh lỵ Bình Phước chừng 10 km, giao thông thuận tiện. Quanh hồ nước rộng có nhiều cây xanh quanh năm rợp bóng mát, in bóng những hàng cao su thẳng tắp hết tầm con mắt. Từ vẻ đẹp của tự nhiên, con người sớm có ý thức khai thác và gìn giữ để rồi nơi đây đã trở thành khu du lịch vui chơi giải trí lý tưởng, nhất là vào những dịp lễ hội và Tết Nguyên đán. Ven bờ hồ là những công trình phục vụ du khách, đặc biệt là nhà hàng nổi với nhiều món ăn đặc sản của núi rừng Bình Phước. Đến với Suối Lam, du khách có thể cheo thuyền lênh đênh trên mặt hồ, cảm nhận sự trong lành của thiên nhiên với những âm thanh kỳ ảo vốn có của xứ núi rừng.

Thác Số 4

Cách trung tâm thị trấn An Lộc, huyện Bình Long chừng 10 km với khoảng rộng 20 ha. Nơi đây được biết đến bởi cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, không gian yên tĩnh đến lạ thường. Du khách có thể nghe rõ từng tiếng nước chảy róc rách, tiếng chim kêu ríu rít cùng với tiếng gió xào xạc tạo nên một khối âm thanh hoang dại đặc trưng của vùng sơn cước. Từ năm 1988, Công ty cao su Bình Long đã đầu tư xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng của công nhân với hệ thống nhà nghỉ thoáng mát đầy đủ tiện nghi có cả nhà hàng đặc sản sẵn sàng phục vụ quí khách.

Khu du lịch Sóc Xiêm

Khu du lịch Sóc Xiêm

Hồ Sóc Xiêm là một cảnh đẹp nằm trong vùng rừng đất đỏ Trà Thanh (huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước), nơi còn một ít rừng nguyên sinh, rừng cao su cũ và cao su mới trồng sau ngày chiến tranh kết thúc. Sóc Xiêm trước đây là sóc của người Stiêng nay đã lập làng nơi khác. Sóc Xiêm thu hút khách phương xa nhờ hồ nước mênh mông, gió thổi lao xao cành lá... và cá ở hồ nhiều cả số lượng lẫn chủng loại. Với bề mặt rộng 30 ha, có nơi sâu tới 14 m, ven hồ rêu xanh dày kín, nước trong, phong cảnh hữu tình... Sóc Xiêm như một đóa hoa rừng tươi sắc.

Trảng cỏ Bàu Lạch

Trảng cỏ Bàu Lạch

Tên trảng cỏ trùng với tên làng, tên đất, quê hương của những người Stiêng, Mnông anh em. Đây là sản phẩm tuyệt mỹ của tạo hoá, nằm giữa chốn thâm sơn cùng cốc bao gồm 20 trảng cỏ lớn nhỏ kết dính với nhau trông như một bức thảm ngọc của thời tiền sử. Nét độc đáo ở đây chỉ độc một loại cỏ kim đan xen cỏ chỉ xanh tốt quanh năm nhưng chỉ là là mặt đất khiến cho du khách chẳng khỏi ngỡ ngàng trước sự kì diệu của thiên nhiên. Toàn bộ thảm cỏ rộng lớn gần 5 km2 tạo ra không gian thoáng rộng và tĩnh mịch phù hợp với loại hình du lịch dã ngoại, cắm trại, thể thao. Trên thảm cỏ xanh thỉnh thoảng du khách bắt gặp những loài thú hiền lành như: nai, khỉ, thỏ, nhím và là ngôi nhà chung của nhiều loại động vật gặm cỏ. Chính nơi đây làm cho con người dể hoà nhập với thiên nhiên hơn nơi nào hết càng nâng cao ý thức bảo vệ giữ gìn những giá trị đích thực mà tạo hoá đã ban tặng cho xứ sở này. Nơi đó chỉ cách thị trấn Đức Phong 15 km thuộc thôn Bàu Lạch, xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng.

2. Lễ hội truyền thống:

Lễ hội Miếu Bà Rá Phước Long

Miếu được dựng năm 1943, và đến năm 1958 được dời đến nơi ở toạ lạc hiện nay và được gọi là “Miếu Bà”, thuộc xã Sơn Giang, huyện Phước Long. Theo lời của nhân dân địa phương, năm 1943 miếu được xây dựng để tưởng nhớ các tù chính trị bị chôn sống ở gốc cây cầy hiện nay, miếu do những tù nhân chính trị ở nhà tù Bà Rá bí mật xây dựng và làm bài vị thờ tượng trưng có ghi 4 chữ Hán Chúa xứ nương nương” nhằm che mắt bọn tay sai nên đặt tên là miếu Bà để cho bọn thực dân công nhận ngôi miếu này. Năm 1956 -1957 tỉnh Phước Long được thành lập, một số người dân đã tiến hành dời miếu lên sát đường lộ (cách nơi cũ 500m) để bà con tiện đi lại thờ cúng và cũng từ lúc này Miếu Bà mới có 3 bức tượng thờ. Miếu Bà Rá là một công trình kiến trúc tín ngưỡng dân gian, nằm trong quần thể di tích lịch sử Bà Rá đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận mang ý nghĩa lịch sử quan trọng, nó không chỉ là nơi thờ cúng tín ngưỡng của nhân dân mà còn là một trong những chứng tích về sự xâm lược của thực dân Pháp trên vùng đất Phước Long… Hàng năm vào ngày mùng 1,2,3,4 tháng 3 âm lịch, đông đảo khách thập phương trong và ngoài tỉnh hành hương về đây để “ Vía Bà”.

Lễ cầu mưa của người Stiêng Bù Lơ

Hàng năm vào cứ mùa khô, đầu mùa mưa người S'Tiêng Bù Lơ tổ chức làm lễ cầu mưa theo từng bon (Wăng). Lễ cầu mưa là lễ hội rất quan trọng, do đó công việc chuẩn bị phải chu đáo. Các vị Già làng và chủ làng ấn định thời gian hành lễ, sau đó họp cả bon để phân công công việc cụ thể. Đến giờ làm lễ, cả làng tập trung đầy đủ, trâu buộc chặt vào cây nêu, mọi người đúng thành vòng tròn chứng kiến nghi lễ. Sau khi đông đủ cả làng, Già làng (Bu Kuông) tuyên bố lý do buổi lễ, 1 đến 3 người đàn ông ở độ tuổi trung niên cầm lao hoặc chà gạc để giết trâu, Già làng lấy máu bôi lên cột cây nêu, dùng gạo trắng và muối rải lên mình trâu. Sau đó ngồi bên ché rượu cần để cúng các vị thần lúa, thần mưa, thần rừng, cầu cho mưa thuận gió hoà để dân làng có một mùa vụ năm mới bội thu, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở. Xong nghi lễ, mọi người xẻ trâu lấy thịt nướng, uống rượu cần và tận mục sở thị những màn biểu diễn cồng chiêng, những điệu múa cùng các nghệ nhân và nam nữ miền sơn cước, cuộc vui tiếp tục cho đến khi màn đêm buông xuống, mọi người sẽ được già làng giáo huấn về luật tục và xướng sử thi cho đến sáng hôm sau.

3. Đặc sản - Sản phẩm nổi tiếng:

Bánh hạt điều

Hạt điều có một hương vị rất riêng và được dùng làm gia vị cho các món ăn hay trang trí cho những món bánh. Bình Phước là một trong những tỉnh có diện tích trồng điều lớn nhất Việt Nam. Bởi thế, người dân nơi đây đã tận dụng nó để làm ra những món bánh thơm ngon nhất là món bánh hạt điều. 

Bánh hạt điều được làm từ những nguyên liệu chính gồm: bột nổi, trứng gà, một ít dầu ăn, đường, bột mì, bột quế, đường và hạt điều (do đây là bánh hạt điều nên hạt điều là một trong những nguyên liệu rất quan trọng để tạo nên mùi vị của bánh).

Khổ qua rừng

Loại trái này mọc hoang trong rừng, cỡ ngón tay cái người lớn, thường thấy ở miền Đông Nam Bộ, nhất là miệt đất đỏ Bình Long. Người dân thường hái để nấu canh, ăn đắng hơn loại trồng ở đồng bằng.

Cũng giống như khổ qua vườn, khổ qua rừng được xào trứng, xào thịt bò. Thịt bò ở Bình Long là đặc sản, cũng là một thương hiệu của xứ này. Vì "nhỏ con" nên khổ qua rừng chỉ cần cắt làm hai, móc bỏ ruột, rửa sạch là đã có thể cho vào chảo mỡ xào chung với thịt bò xắt miếng cho vừa ăn. Thêm mắm muối, gia vị, hành lá xắt khúc là đã có một dĩa ngon lành. Khổ qua rừng còn được trộn với thịt bò, chút hành tím, nước mắm giấm đường ớt, chút tiêu bột, thành món gỏi hấp dẫn. Người ta cũng có thể chế biến khổ qua rừng thành món ăn chay ngon và lạ miệng. Cùng với mì căn xé miếng, tàu hủ trắng xắt làm tư, dưa cải xắt khúc, đậu phộng luộc bóc vỏ, đậu que tước bỏ chỉ cắt đôi hoặc những thực phẩm thực vật nào khác cảm thấy thích, cùng với khổ qua rừng bổ đôi bỏ ruột kho với nước tương ngon, rắc tiêu bột là xong.

 

1. Bản đồ hành chính:

Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phước

2. Các đơn vị hành chính:

Thị xã Đồng Xoài

Tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.874,6 km2, gồm 8 đơn vị hành chính gồm 1 thị xã và 7 huyện. Thị xã Đồng Xoài là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh; 7 huyện là huyện Bình Long, huyện Bù Đăng, huyện Bù Đốp, huyện Chơn Thành, huyện Đồng Phú, huyện Lộc Ninh, huyện Phước Long.

 

ĐẶC ĐIỂM VÀ TIỀM NĂNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH PHƯỚC
1. Về phát triển kinh tế:
Kinh tế của tỉnh liên tục đạt tốc độ tăng trưởng khá cao qua các năm, đặc biệt là những năm đầu của kỳ kế hoạch, tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt 13,2%.
Quy mô tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2010 (theo giá cố định) đạt gấp 1,86 lần so với năm 2005. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 7,52 triệu đồng (tương đương 470 USD) năm 2005 lên 18,5 triệu đồng (tương đương 1.028 USD) vào năm 2010, vượt xa mục tiêu kế hoạch đề ra.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đã tăng lên, ngành nông, lâm, thủy sản đã giảm xuống. Ngành công nghiệp – xây dựng từ 18,0% năm 2005 tăng lên 24,1% vào năm 2010, tương ứng ngành dịch vụ từ 25,3% tăng lên 28,8% và ngành nông, lâm, thủy sản từ 56,7% giảm xuống 47,1%.
Về Nông nghiệp và phát triển nông thôn:
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Phát triển sản xuất đi đôi với bảo về môi trường sinh thái. Phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh, chuyên canh để nâng cao năng suất, chất lượng. Đã hình thành các vùng sản xuất tập trung phù hợp với tiềm năng và lợi thế của tỉnh; mở rộng diện tích cây cao su, phát triển cây hồ tiêu, ca cao, cây ăn quả ở những vùng đất thích hợp; duy trì diện tích và nâng cao năng suất cây điều. Phát triển ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, hiện đại, quy mô lớn theo quy hoạch, đồng thời tăng cường công tác thú y, phòng chống dịch bệnh.
Về công nghiệp, xây dựng:
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu. Tập trung ưu tiên và thu hút đầu tư phát triển công nghiệp chế biến chuyên sâu, công nghiệp bổ trợ, công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp, phát triển nông thôn theo hướng hiện đại với hệ thống cơ sở hạ tầng phù hợp theo quy hoạch được duyệt.
Về Dịch vụ, Thương mại
Tiếp tục củng cố và phát triển các ngành dịch vụ hiện có để phát huy thế mạnh của khu vực dịch vụ, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng, tư vấn, bảo hiểm, khoa học công nghệ, bưu chính viễn thông. Kinh ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 506,4 triệu USD (kế hoạch 410 triệu USD)
Về đầu tư phát triển - Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước:
Xây dựng và thực hiện chương trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó chú trọng đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đầu tư nâng cấp hoàn thành các bệnh viện tỉnh, huyện và các thiết chế văn hóa – xã hội ở nông thôn
- Tài chính, ngân hàng:
Khai thác nguồn thu ngân sách một cách hợp lý và bền vững. Chi ngân sách được xây dựng trên cơ sở cân đối với nguồn thu, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu ưu tiên cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Thực hiện chi ngân sách nhà nước một cách hợp lý trên cơ sở tiết kiệm, chống lãng phí.Thu ngân sách năm 2010 đạt 2.062 tỷ đồng, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra (kế hoạch là 1.600 tỷ đồng).
2. Về Văn hóa - Xã hội.
- Giáo dục và Đào tạo:
Tiếp tục nâng cao hiệu quả, chất lượng và quy mô công tác giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở xây dựng các trường đạt tiêu chuẩn quốc gia, thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục và thực hiện có hiệu quả chương trình đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh. Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp, bổ sung đồ dùng, trang thiết bị phục dạy và học. Tỷ lệ xã đạt phổ cập THCS đến năm 2010 đạt 97,3%.
- Chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Tăng cường, củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh xuống cơ sở, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giải quyết tốt vấn đề chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Quy mô dân số năm 2010 đạt 894.940 người (kế hoạch là 944.000 người); tỷ lệ giảm sinh duy trì ở mức 0,7‰; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi đến năm 2010 còn 20%; số giường bệnh/vạn dân đến năm 2010 đạt 20 giường (kế hoạch là 17,5 giường); tỷ lệ dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 84,1%; tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 87% (kế hoạch là 85%)
- Thực hiện chính sách xã hội, giải quyết việc làm và đào tạo nghề:
Khuyến khích khu vực tư nhân, các doanh nghiệp tham gia dạy nghề, góp phần nâng cao trình độ và tính chuyên nghiệp của người lao động, tạo cơ hội cho người lao động dễ dàng tìm kiếm được việc làm phù hợp. Huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau để tập trung đào tạo nguồn lực chất lượng cao. Giải quyết việc làm trong cả kỳ 131.562 lượt người (kế hoạch là 125.000 lượt); đào tạo nghề trong cả kỳ là 26.737 lượt người (kế hoạch là 14.000 lượt); tỷ lệ lao động được đào tạo đến năm 2010 là 28%, đạt kế hoạch; tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 3,5%. Thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về lao động và việc làm, chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2015. Thực hiện kịp thời các chính sách an sinh xã hội theo các chính sách của Trung ương, tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2010 giảm còn 4%.
- Văn hóa, thông tin, thể dục – thể thao:
Phát triển đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, trong đó tập trung xây dựng đời sống, lối sống, môi trường văn hóa lành mạnh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động văn hóa, thể dục – thể thao để nâng cao mức hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân./.

 

 
Hệ thống ứng dụng nội Bộ
 
 
 
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.