Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ năm, ngày 6 tháng 10 năm 2022
English
a A

Vị trí địa lý:

Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Phía bắc và tây có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Hà Giang cách thủ đô Hà Nội 320 km về phía Bắc theo quốc lộ 2.

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.945,8 km2. Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực tây, có kinh độ 104024'05"; mỏm cực đông có kinh độ 105030'04".

Khí hậu:

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc . . .

Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,60C - 23,90C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 100C và trong ngày cũng từ 6 - 70C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 400C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,20C (tháng 1).

Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta. Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9 mm... Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm...

Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng không lớn. Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng 1, 2, 3) cũng vào khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt. Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ).

Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng. Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50%. Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - 1,5m/s. Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối. Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.

Đặc điểm địa hình:

Do cấu tạo địa hình phức tạp, thiên nhiên tạo ra và ưu đãi cho Hà Giang một nguồn tiềm năng to lớn về khí hậu, đất đai, tài nguyên và khoáng sản,... Từ những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình Hà Giang được chia thành ba vùng với những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác biệt, mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng đó là:

- Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Diện tích toàn vùng là 2.352,7 km2, dân số trên 20 vạn người chiếm xấp xỉ 34,3% dân số toàn tỉnh. Do điều kiện khí hậu rét đậm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè nên rất thích hợp với việc phát triển các loại cây ôn đới như cây dược liệu thảo quả, đỗ trọng; Cây ăn quả như mận, đào, lê, táo... Cây lương thực chính ở vùng này là cây ngô. Chăn nuôi chủ yếu là bò, dê, ngựa và nuôi ong. Những giống gia súc trên đây là giống riêng của vùng ôn đới, có đặc điểm to hơn và chịu được rét đến cả độ âm. Đàn ong ở đây chủ yếu chỉ phát triển vụ hè - thu với 2 loại hoa chính là hoa ngô và hoa bạc hà. Mật ong hoa bạc hà là  thứ mật ong đặc biệt có giá trị trong việc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khoẻ.

- Vùng II: Là vùng cao núi đất phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần. Diện tích tự nhiên 1.211,3 km2, dân số chiếm 15,9%. Điều kiện tự nhiên vùng này thích hợp cho việc phát triển cây trẩu và cây thông lấy nhựa. Cây lương thực chính vùng này là lúa nước và ngô. Chăn nuôi chủ yếu là trâu, ngựa, dê và các loại gia cầm.Vùng này là vùng đất của chè Shan tuyết và chủ nhân lâu đời của nó là người Dao - Một dân tộc có kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây chè núi lâu đời.

- Vùng III: Là vùng núi thấp gồm các huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê, Quang Bình và thị xã Hà Giang là vùng trọng điểm kinh tế của Hà Giang. Diện tích tự nhiên 4.320,3 km2, dân số chiếm 49,8%. Điều kiện tự nhiên thích hợp với các loại cây nhiệt đới, thuận lợi cho việc phát triển nghề rừng, trồng các loại cây nguyên liệu giấy như bồ đề, mỡ, thông và đây cũng là vùng tre, nứa, vầu, luồng lớn nhất trong tỉnh ... Ngoài ra đây còn là vùng trồng các loại cây ăn quả có múi như cam, quýt, chanh ...

Dân số:

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029135.JPGDân số trên 694.000 người, 22 dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nên một sự đa dạng về bản sắc văn hoá. Trong đó dân tộc Mông chiếm 30,6%, Tày chiếm 24,9%, Dao chiếm 15,2%, dân tộc Kinh chiếm 12%....

Tài nguyên thiên nhiên:

a. Thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng của Hà Giang rất phong phú với 9 nhóm đất chính, trong đó nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất với 585.418 ha, chiếm 74,28% diện tích tự nhiên. Đây là nhóm đất rất thích hợp để trồng và phát triển các loại cây ăn quả (cam, quýt, lê, mận....), cây công nghiệp (chè, cà phê....), cây dược liệu (đỗ trọng, thảo quả, huyền sâm....). Các nhà khoa học đã xác định và phân chia các khu vực thổ nhưỡng chính của Hà Giang như sau:

- Khu vòm nâng sông Chảy, lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền 2 nhóm đá chính là măcma axit và đá biến chất. Địa hình nơi đây được xếp vào kiểu núi khối tảng dạng vòm trên nền nguyên sinh phân cắt mạnh. Khu vực này có lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn (3.000 mm). Với những điều kiện như vậy, đã tạo nên ở đây một lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng, trong đó phần lớn là đất mùn màu vàng đỏ, phù hợp để phát triển những cánh rừng thuộc kiểu á nhiệt đới.

- Khu Quản Bạ - Bắc Mê, lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền 3 nhóm đá chính là trầm tích đá hạt mịn bị biến chất, tướng đá lục hoặc  lục yếu tiếp đến là loại đá vôi hoặc sét vôi và đá lục nguyên hạt vừa và mịn. Địa hình ở đây được xếp vào kiểu núi khối tảng trên nền nguyên sinh, bị phân cắt rất mạnh. Đây cũng là khu vực có lượng mưa trung bình năm khá lớn (3.000 mm). Vì vậy, lớp phủ thổ nhưỡng ở đây đa phần là nhóm đất mùn màu vàng đỏ và mùn xám sẫm, tạo nên một thảm thực vật hết sức phong phú với những cánh rừng kiểu á nhiệt đới thường xanh.

Khu vực Đồng Văn - Mèo Vạc, lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền đá vôi bị phân hoá mạnh, địa hình karst. Phần lớn lớp phủ thổ nhưỡng ở đây là loại đất đỏ xám hoặc vàng sẫm, với thảm thực vật chủ yếu là các loại cây thấp, mật độ thưa. Rừng ở khu vực này thường có các loại cây lấy gỗ thuộc nhóm tứ thiết như trai, nghiến. . .

- Khu tây bắc Vĩnh Tuy, lớp thổ nhưỡng hình thành trên cấu trúc địa chất của vòm nâng sông Chảy. Địa hình nơi đây có đặc trưng là các dải đồi, núi và gò thấp, sườn ít dốc. Khu vực này có lượng mưa lớn nhất cả nước, do vậy lớp phủ thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là nhóm đất màu xám sẫm hơi đen, phù hợp với trồng cây ăn quả nhất là cam.

b. Tài nguyên khoáng sản

Căn cứ trên những cứ liệu về cấu trúc địa chất, các nhà khoa học đã dự báo rằng Hà Giang là một địa bàn có tiềm năng và triển vọng lớn về khoáng sản như sắt, mangan, chì, thiếc, antimon, vàng, đá quý...

 Sắt ở dạng manhetit - hematit - sunfua đã từng thấy ở Tùng Bá - Bắc Mê. Cũng ở khu vực này còn có mỏ chì - kẽm. Ở vùng đông nam vòm nâng sông Chảy đã phát hiện các mỏ và điểm quặng mangan. Ơ Bắc Quang đã gặp các điểm quặng đồng (Cu - Ni) có nguồn gốc măcma. Ở khu vực từ Cao Bồ đến Việt Lâm có nhiều mạch quặng đa kim - vàng. Đồng thời dọc theo các bãi bồi nhất là từ chỗ gặp nhau giữa sông Lô và sông Gâm trở lên thượng nguồn là nơi có nhiều vàng sa khoáng. Ngoài ra, Hà Giang còn có một trữ lượng khá lớn các loại khoáng sản không kim loại như: Cao lanh, sét gốm, đá vôi, cát, sỏi, cát kết, đá phiến, laterit, granit, gabro, ryolit... và có cả than, trong đó quan trọng hơn cả là vỉa than Phó Bảng.

c. Tài nguyên rừng

 Là một tỉnh vùng núi cao, núi đồi chiếm hơn 3/4 diện tích, môi trường thuận lợi cho thực vật tự nhiên cũng như rừng trồng phát triển. Rừng là thế mạnh kinh tế chủ yếu của Hà Giang và còn có ý nghĩa lớn vào khoa học và bảo vệ môi trường. Do đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, rừng Hà Giang khá phong phú và được coi là một trong những khu vực đặc trưng của kiểu loại rừng á nhiệt đới, với nhiều chủng loại. Diện tích đất rừng của Hà Giang thuộc vào loại lớn của cả nước. Diện tích có rừng tính đến 31/12/2005 là 345.860 ha, đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp 262.918 ha.

Những năm gần đây, với những chủ trương, chính sách của nhà nước, biện pháp tích cực của địa phương trong triển khai chính sách giao đất, giao rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nên hàng năm tỉnh trồng thêm được từ 3.000 - 5.000 ha rừng tập trung, do đó đưa độ che phủ đạt 42,9% vào cuối năm 2005. Điều đó không những có tác dụng chống xói mòn đất bề mặt, mà vành đai rừng phòng hộ đầu nguồn đã khống chế phần nào lũ lụt, bảo vệ môi trường sinh thấy. Rừng còn cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp giấy, vật tư xây dựng...

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029136.JPG

Động vật ở rừng Hà Giang

Người ta đã từng phát hiện ở rừng Hà Giang có nhiều loại động vật quý hiếm như: hổ, báo gấm, vọc má trắng, gấu ngựa, lợn rừng, khỉ, hoẵng,... Riêng khu vực Tây Côn Lĩnh đã thống kê được 47 loài thú, 140 loài chim thuộc 25 bộ, 75 họ. Rừng xã Phong Quang (Vị Xuyên) được xếp vào hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên điển hình của hệ rừng núi đá vùng Đông Bắc Việt Nam, với hệ động thực vật rừng phong phú và có giá trị kinh tế cao.

d. Tài nguyên thủy sản

Tuy là một tỉnh miền núi không có thế mạnh về thuỷ sản nhưng ở khu vực Hà Giang lại có thể tìm thấy những loài thuỷ sản quý, hiếm, có giá trị đặc biệt. Trên lưu vực sông Gâm có thể tìm thấy các loại tôm, cua, cá chỉ có ở khu vực nguồn sông có nhiều ghềnh đá. Đặc biệt ở đây có loại cá Dầm xanh, cá Anh vũ ngon nổi tiếng, đã từng là những loại đặc sản cúng tiến cung đình. Trên sông Lô, cũng có một số loài cá, tôm theo nguồn nước sông Hồng ngược lên và được coi là đặc sản ở sông Lô như: cá chép, cá bống, cá măng, ba ba. . .

Phát huy nguồn lợi thuỷ sản, những năm gần đây, ở nhiều nơi nhân dân đã biết tận dụng mặt nước, các đầm, ao, hồ để chăn thả các loại tôm cá có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao. Một số nơi bà con nông dân còn kết hợp trồng lúa và thả cá trên những chân ruộng nước.  Nhiều trang trại của họ đã phát triển theo mô hình VACR (vườn, ao, chuồng, rừng) đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.

 

Danh lam thắng cảnh:

- Về du lịch văn hóa - lịch sử

Hà Giang nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử như:

-  Di tích lịch sử Căng Bắc Mê, xã Yên Phú, huyện Bắc Mê

-  Di tích lưu niệm sự kiện Bác Hồ với Hà Giang, Thị xã Hà Giang

-  Di tích kiến trúc nghệ thuật khu nhà dòng họ Vương,xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn

-  Di tích Bia và Chuông chùa Sùng Khánh, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên

-  Di tích lịch sử cách mạng Tiểu khu Trọng Con, xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang

-  Di tích khảo cổ học hang Đán Cúm, xã Yên Cường, huyện Bắc Mê

-  Di tích khảo cổ học hang Nà Chảo, xã Yên Cường, huyện Bắc Mê

-  Di tích lịch sử văn hoá chuông chùa Bình Lâm, xã Phú Lịnh, huyện Vị Xuyên

-  Di tích lưu niệm sự kiện Đoàn văn công Trung đoàn 148 hy sinh, xã Nàn Ma, huyện Xín Mần.

- Về du lịch sinh thái:

Cảnh quan vùng cao của Hà Giang cho đến nay vẫn mang đậm nét hoang sơ, tinh khiết. Một địa hình karst tiêu biểu với bạt ngàn đá tai mèo trải dài trùng điệp 4 huyện phía bắc; hay những dãy núi nhấp nhô, hùng vĩ với những ruộng bậc thang nối nhau từ thấp lên cao, tưởng như vô tận ở vùng cao phía tây; cùng vô số khe suối, thác nước, hang động ở khắp các địa bàn trong tỉnh chính là nguồn tiềm năng du lịch sinh thái giàu có của Hà Giang. Với diện tích rừng hiện có, chiếm tới gần 40% diện tích tự nhiên cũng là điều hấp dẫn đối với những người yêu thích thiên nhiên.

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029137.JPG

Cổng trời Quản Bạ

Hơn thế nữa, cảnh quan Hà Giang bao giờ cũng mang phong vị địa phương với những vẻ đẹp vừa thô sơ vừa bí ẩn. Nếu vùng cao phía bắc tập trung các đỉnh đèo, vách núi nổi tiếng như đỉnh Mã Pì Lèng và sông Nho Quế (Mèo Vạc), cổng trời Sà Phìn (Đồng Văn), cổng trời Cán Tỷ và núi Cô Tiên ở Quản Bạ... thì ở khu vực phía tây và phía nam lại nhiều thác nước, sông suối, đầm hồ đẹp như thác Bay ở Xín Mần; thác Thuý, hồ Quang Minh ở Bắc Quang; suối nước khoáng ở Vị Xuyên; hồ Noong, suối Tiên ở thị xã và các tên núi tên sông đã đi vào huyền thoại: đỉnh Gia Long, dãy Tây Côn Lĩnh, sông Chảy, sông Lô .... Bên cạnh đó còn có một hệ thống các hang động ở khắp các vùng trong tỉnh. Có những hang động đẹp, thuần là thắng cảnh như các hang động ở khu vực Phương Thiện (Vị Xuyên); hang Tùng Vài (Quản Bạ); động én (Yên Minh)... Có những hang động vừa là di tích văn hoá, vừa là địa điểm khảo cổ học như các hang : Bó Khiếu, Đán Cúm, Nà Chảo ở Bắc Mê; hang Thẩm Ké ở Quản Bạ; hang Phó Bảng ở Đồng Văn...

Lễ hội truyền thống:

Hà Giang có lễ hội truyền thống nổi tiếng, đó là:

- Lễ hội Gầu Tào (hay hội chơi múa mùa xuân) của dân tộc Mông được tổ chức từ Mồng 3 đến Mồng 5 Tết Nguyên Đán trên các đồi thoai thoải gần bản. Lễ hội Gầu Tào hoặc Sải Sán mang màu sắc tín ngưỡng dân gian: Cầu con, cầu mệnh, cầu tài, cầu phúc, Trai gái xúng xính trong những trang phục mới rực rỡ. Hội còn tổ chức nhiều cuộc vui: bắn nỏ, hát giao duyên, múa khèn, thi thổi kèn, ném pa páo.

- Hằng năm sau khi gặt lúa xong là khoảng thời gian diễn ra lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn (màn đặc sắc của lễ hội là một số người được chọn lựa sữ nhảy múa trên than hồng bằng đôi chân trần). Mục đích của lễ hội là trừ mà, cầu xin các thân linh phù hộ cho mùa màng tươi tốt, gia súc đầy đàn và con cháu được khỏe mạnh. Theo quan niệm của người Pà Thẻn, năm nào những người nhảy trên lửa mà không bị bỏng, thì năm đó sẽ được mùa, con cháu khỏe mạnh. Vì thế, những người tham gia lễ hội đều cảm thấy yên tâm và hy vọng một năm mới tốt lành đến với họ.

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029138.JPG

Chợ tình Khâu Vai

- Chợ tình Khâu Vai cách trung tâm huyện lỵ Mèo Vạc 24km, ngược núi qua Cán Chu Phìn, Lũng Pù. Chẳng biết từ đời nào, cái xóm nhỏ heo hút ở vùng cao núi đá Mèo Vạc mang tên Khâu Vai đã trở thành nơi hội tụ của những đôi trai gái đi tìm bạn tình, của đôi lứa yêu nhau và của cả những người đã từng yêu nhau mà chẳng lấy được nhau Chợ phong lưu - một hiện tượng văn hóa đặc sắc hiếm có ở Việt Nam và có lẽ cả trên thế giới. Chợ tình Khâu Vai chỉ họp 1 lần vào đêm 26 sáng ngày 27/3 Âm lịch. 

Đặc sản - Sản phẩm nổi tiếng:

- Thắng cố:

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029139.JPG

Thắng cố

Nói đến Thắng cố, ai cũng biết đó là đặc sản, là một món ăn truyền thống của người dân tộc Mông ở các huyện vùng cao Hà Giang cũng như ở miền núi phía Bắc. Hiện nay, thắng cố đã trở thành món ăn ngon và quen thuộc của nhiều tộc người vùng cao. Nếu người miền xuôi tự hào vì có phở, thì người miền núi cũng tự hào vì có thắng cố. Trời càng lạnh, thắng cố càng ngon, thêm bát rượu ngô ấm nồng với người miền núi thực không có gì sánh bằng.

Thắng cố được chế biến từ nguyên liệu tổng hợp của con bò, dê vùng cao gồm: toàn bộ đầu, chân, các loại thịt bạc nhạc và nội tạng cùng các gia vị đặc sắc (thảo dược) ăn cùng với mèn mén, bánh ngô nướng, với người Mông, Thắng cố không chỉ là món ăn ngon, thể hiện sự khéo léo và sành ăn, mà còn là nét đẹp văn hóa của đồng bào

- Mèn mén

Được chế biến từ nguyên liệu bột ngô xay vùng cao, sau nhiều công đoạn chế biến trở thành món ăn độc đáo và hấp dẫn. Hương thơm, vị đượm, rất bùi và ngậy. Món ăn này gắn bó với đồng bào vùng cao từ bao đời nay, đây là loại thực phẩm được dùng hàng ngày và trong các dịp lễ tết, ăn rất ngon và no lâu.

Mèn mén chế biến khá dễ dàng nhưng khi thưởng thức món ăn, phải theo một quy tắc ăn hợp lý thì mới cảm nhận được vị thơm ngon của món ăn. Đây là món ăn khô nên trong bữa ăn không thể thiếu bát nước canh (thường là canh rau cải, canh bí hoặc canh gà), cách ăn của người Mông là ăn từ từ, nhai kỹ và kèm theo nước canh hoặc thức ăn cùng một lúc, để tránh bị ngẹn.

- Thịt bò khô Đồng Văn

Nguyên liệu chính là thịt bò sạch, có hàm lượng chất dinh dưỡng cao của cao nguyên đá Đồng Văn. Thịt bò tươi sau khi được ướp ủ các gia vị, treo hong khói để khô trên sàn bếp củi.. Quan trọng nhất trong chế biến món đặc sản này là phải chọn được miếng thịt ngon, đưa vào tẩm ướp đúng gia vị và đủ lượng, rồi treo sản phẩm lên nóc bếp hong khói nhiệt độ vừa đủ và thời gian lâu ngày sao cho thớ thịt quắt lại và chín dần vào trong. Nhược điểm duy nhất là thịt ngót rất nhiều, càng để lâu thịt càng ngót, trung bình phải 3 kg thịt bò tươi mới được 1 kg bò khô, trong vòng từ 4 – 6 tháng.

Thịt bò khô thường thái lát mỏng xào với củ và lá tỏi non, hoặc su su, súp nơ, su hào. Ngoài ra còn nướng vùi trong than củi một lúc rồi đem ra đập và xé nhỏ là dùng được, món đặc sản này khi dùng với muối ớt và một chút rượu ngô thì sẽ trở thành một món đồ nhấm mà bất cứ ai khi đã được thưởng thức sẽ không bao giờ quên.   

- Thịt lợn hun khói

Được chế biến từ thịt lợn ba chỉ. Sau khi tẩm, ướp các gia vị, thịt được treo trên khu đốt lửa cho đến khi khô (thường treo từ nửa năm cho đến một năm). Món thịt lợn hun khói đã trở thành món ẩm thực không thể thiếu trong các gia đình người Mường, Thái, Mông, Tày... vào ngày Tết, hầu như nhà nào cũng có thịt treo nóc bếp.

- Lạp sườn treo gác bếp

Lạp sườn ở vùng cao thuộc tỉnh Hà Giang được chế biến cầu kỳ hơn ở vùng đồng bằng. Cũng giống như thịt lợn hun khói, sau khi chế biến, từng cặp lạp sườn lại được treo lên nóc bếp ngay để hóng khói và hơi của lửa. Lạp sườn sau chế biến có thể để được quanh năm mà chất lượng không bị ảnh hưởng. Khi ăn có mùi thơm của thịt, có độ dai của lòng, độ đậm của gia vị, có thể ăn được nhiều mà không chán. Điều đặc biệt là vẫn còn hương vị của khói.

- Măng cuốn thịt (măng đắng)

Món măng đắng cuốn thịt, cũng là một trong những đặc sản của các dân tộc ở các huyện vùng thấp tỉnh Hà Giang, nhất là dân tộc Tày, Nùng. Để làm được món măng cuốn theo ý, khâu chọn nguyên liệu rất cầu kỳ.

 Măng phải chọn đúng măng vầu, sau đó luộc chín rồi lạng mỏng sao cho vừa miếng để quấn thịt. Nhân của món măng cuốn có thể chọn là thịt thăn, mông, vai. Thịt băm nhỏ, trộn gia vị rồi cuốn măng đem hấp hoặc đồ cho tới chín. Măng cuốn thịt có vị đắng quyện với vị ngọt của thịt, tạo cho người ăn có cảm nhận khác lạ và rất ngon miệng.

- Cháo hầm ấu tầu, chân giò lợn

Được nấu từ một loại thuốc quý và gạo nếp cái hoa vàng của đồng bào dân tộc vùng cao, cháo ấu tẩu Hà Giang vị bùi, dẻo và thơm đặc biệt. Cháo có tác dụng chữa bệnh tốt, và là đặc sản chỉ có ở miền núi phía Bắc.

Những đầu bếp lâu năm cho biết, món cháo bắt nguồn từ một vị thuốc của đồng bào vùng cao. Củ ấu có chất độc, thường ngâm rượu để thoa lên các vết thương kín. Nhưng qua bàn tay chế biến, vị thuốc này đã được chế biến thành món ăn ngon, lại có tác dụng chữa bệnh. Tr­ước kia, đây là món cháo "giải cảm" đơn giản của đồng bào dân tộc thiểu số. Sau này, người dân Hà Giang thêm một số gia vị, phụ gia khác, nấu thành món cháo "đặc sản" của vùng cao nguyên đá.

- Cá Dầm xanh - Anh Vũ

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029140.JPG

Cá Anh Vũ sống ở tầng đáy của các sông, suối nước trong, nước chảy xiết, nơi nhiều rạn đá, nhiều tảo đáy như những khe đá của sông Gâm huyện Bắc Mê. Cá Anh Vũ có hình dạng rất giống cá dầm xanh (rầm xanh) nên rất dễ nhầm lẫn nếu không biết cách phân biệt. Cá dầm xanh giống như cá anh vũ nhưng có nhiều ở các sông, giá rẻ hơn. Đặc điểm dễ nhận biết cá anh vũ là ngoài miệng cá dày giống miệng lợn, cá anh vũ có vảy óng ánh màu ửng đỏ còn cá dầm xanh thì ửng xanh.

Đây từng là sản vật tiến vua, giống cá sông nổi tiếng này hiện có giá rất cao, tùy loại lớn nhỏ lên đến vài trăm ngàn đồng một ký, tại các nhà hàng lớn giá lên đến 1 triệu đồng/kg. Đây là giống cá cực kỳ quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng và đang nằm trong danh mục cấm xuất khẩu của Bộ thủy sản.

 - Rượu ngô Thanh Vân

Được chế biến từ ngô vùng cao, sản xuất bằng phương pháp thủ công địa phương. Hương vị thơm đặc trưng, ngon, mát dịu, không độc so với các loại rượu bình thường. Hiện nay Hợp tác tác xã rượu ngô Thanh Vân đã được đầu tư công nghệ lọc khử andehit cho nên chất lượng của sản phẩm được tăng lên đáng kể và đang dần trở thành một sản phẩm được mọi người ưa chuộng.

- Hồng không hạt

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029141.JPG

Hồng không hạt Quản Bạ

Đây là giống hồng địa phương, đã có từ lâu do thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai ở đây, thuộc loại hồng ngâm, được trồng chủ yếu ở huyện Quản Bạ (toàn huyện có trên 150 ha). Vùng chuyên canh hồng không hạt thuộc các xã Nghĩa Thuận, Quản Bạ, Thanh Vân, thị trấn Tam Sơn. Đây là sản phẩn đặc trưng của địa phương có lượng tiêu thụ rất nhiều và mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Giống hồng không hạt ở Quản Bạ không như giống hồng không hạt của Trung Quốc, Cao Bằng, Lạng Sơn, dạng cây, dạng quả gần giống như hồng Quản Bạ nhưng ăn không giòn, thỉnh thoảng có quả có hạt, chính vì vậy giá bán tại thị trường không cao bằng hồng không hạt ở Quản Bạ. Đặc điểm hồng ở đây là quả không có hạt, rất thơm ngon, mát; quả ăn ngọt đậm, giòn và nhiều bột mịn, vỏ quả cứng, thịt quả chắc, rất dễ bảo quản và vận chuyển.

- Mật o­ng hoa bạc hà

 Là loại mật o­ng tự nhiên được o­ng lấy từ nhụy hoa của cây bạc hà, đây là một trong những đặc sản nổi tiếng của cao nguyên đá Đồng Văn và là một thứ đặc sản mà bất cứ ai đến đây cũng kiếm tìm mua bằng được.

Từ lâu, mật o­ng bạc hà đã được truyền tụng bởi những dược tính đặc biệt của nó. Đó là khả năng bồi bổ sức khỏe, công dụng chữa các bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hóa. Vị thơm ngọt hiếm có của loại mật o­ng này cũng có sức hút đặc biệt. Mật o­ng bạc hà ở đây được sản xuất từ nguồn mật nguyên chất o­ng nuôi theo phương pháp truyền thống trên vùng nguyên liệu thức ăn hoàn toàn tự nhiên, chủ yếu là mật của cây hoa bạc hà và một số loại thảo mộc mọc hoang dại chỉ có ở vùng cao nguyên núi đá phía bắc của tỉnh Hà Giang. Mật ong bạc hà xanh là thứ đặc sản mà du khách rất ưa thích, thứ mật này xanh và thơm hơn tất thảy những thứ mật khác.

Bạc Hà là loại cây dại, sống mãnh liệt trên đá, hàng năm ra hoa tím hồng từ tháng 9 tới tháng 11 âm lịch, dđy cũng chính là mùa quay o­ng. Nghề nuôi ong của người Mông trên cao nguyên đá đã có từ nhiều đời nay, mỗi nhà vài ba tổ để lấy mật làm thuốc, làm bánh vào dịp tết nguyên đán, đây cũng được coi là nguồn mang lại thu nhập cao cho người dân.

- Cơm lam Bắc Mê

Cơm lam là món ăn độc đáo trong toàn bộ nền văn hoá ẩm thực của các dân tộc Tày – Thái, kỹ thuật chế biến cơm lam thật đơn giản. Nguyên liệu là gạo nếp được đãi ngâm kỹ. Người ta dùng loại cây non, thân ống, họ tre, mỗi dóng tre chặt bỏ một đầu ống, đầu ống còn lại tác dụng như cái đáy nồi. Gạo nếp vo sạch, rắc thêm chút muối, trộn đều, cho gạo vào ống tre, lượng nước đổ xâm xấp so với mặt gạo. Miệng ống được nút bằng lá dong tươi hoặc lá chuối khô  

Ống tre có gạo ấy được hơ trên ngọn lửa hoặc trên đống than hồng, vừa hơ vừa xoay tròn từ từ cho nhiệt tác dụng đều lên xung quanh vỏ ống. Chừng trên dưới một tiếng sau (tuỳ theo ống cơm to hay bé), mùi cơm nếp toả ra khêu gợi, ấy là dấu hiệu cơm đã chín. Trước khi ăn, người ta dùng dao chẻ bỏ lớp vỏ biểu bì màu xanh ngoài cùng của ống tre (lúc này đã cháy đen), sau đó tước nốt lớp vỏ trắng trong cùng, cơm lam định hình ở dạng ống đặc, được bao quanh bởi một lượt màng mỏng màu trắng ngà của ruột ống tre (đến tận lúc này, cơm lam vẫn không hề mang màu lam như tên gọi của nó).

Ngày trước cơm lam là món ăn ưu tiên cho sản phụ, nhất là phụ nữ trong thời kỳ nuôi con bú. Một cách lý giải mang tính khoa học, rằng ăn cơm lam sẽ tránh được các chất của đồng, gang, nhôm... so với việc nấu cơm bằng nồi kim loại. Và như vậy, không gây ảnh hưởng tới khả năng làm sữa cũng như chất lượng nguồn sữa của người mẹ.

Khi thưởng thức, cơm lam có mùi thơm phức quyện cùng với lá chuối và ống nướng. Cơm lam có thể ăn không hoặc chấm muối vừng hay ăn cùng cá suối nướng, sẽ trở nên thơm, bùi hơn.

- Chè Shan Tuyết

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029142.JPG

Chè Shan Tuyết

Hà Giang là một trong những tỉnh có vùng chè Shan lâu đời nhất nước ta. Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, người Pháp đã tiến hành điều tra chè ở Hà Giang và đặc biệt chú ý những cây chè cổ thụ vùng cao. Đó là thứ chè Shan lá to, búp và lá non có nhiều lông trắng như tuyết, sinh trưởng khoẻ, chịu ẩm, chịu lạnh, năng suất cao và chất lượng tốt. Vì vậy, người ta còn gọi là chè Shan tuyết.

Đây cũng là loại chè chỉ thích hợp với địa hình vùng núi cao có khí hậu lạnh và mát mẻ quanh năm. Loại chè này đặc biệt khi sao xong, lá và búp thường có những đốm trắng, uống hơi chát nhưng vị ngọt hậu, đằm và hương thơm lâu.

Ở Hà Giang, chè shan phân bố hầu khắp các huyện, trong đó các vùng chè cổ thụ đều có độ cao từ 300 - 1000 m. Lũng Phìn - Đồng Văn; Phìn Hồ, Thông Nguyên, Hồ Thầu (Hoàng Su Phì; Tham Vè, Bó Đướt, Cao Bồ, Thượng Sơn (Vị Xuyên) Đây cũng chính là những địa phương có sản phẩm chè shan tuyết thơm ngon nổi tiếng. không chỉ chinh phục được người tiêu dùng mà cả với những người sành thưởng thức trà.

Ngoài những chỉ tiêu sinh hoá ở mức rất có lợi cho chế biến chè chất lượng cao, chè shan Hà Giang là nguồn nguyên liệu sạch. Bởi vì, cho đến tận bây giờ, ở các vùng chè shan lâu đời của Hà Giang, đồng bào vẫn không sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật mà chủ yếu là khai thác tự nhiên.

- Cam sành                           

Cam sành là cây trồng đặc sản của Hà Giang, đây cũng là loại cam tiến vua ngày xưa. Cam có hương thơm, vị mát, rất nhiều loại vitamin cần thiết bổ sung cho cơ thể. Diện tích cam hiện nay phân bố chủ yếu ở 3 huyện: Vị Xuyên, Bắc Quang và Quang Bình. Nếu để cho cây sinh trưởng tự nhiên, thì cam thường cho hoa từ tháng 1, 2 âm lịch và cho thu hoạch từ tháng 11, 12 âm lịch đúng vào dịp tết nguyên đán. Cam sành Hà Giang nổi tiếng khắp vùng và hiện đã có thương hiệu, đây là món quà không thể thiếu cho mỗi người khi đến với Hà Giang và khi tạm biệt Hà Giang.

- Thảo quả

Là loại cây d­ược liệu quan trọng trong nền kinh tế của địa phương, cây thảo quả chỉ thích nghi dưới những tán rừng có độ ẩm cao, nhiệt độ thấp và đặc biệt giống cây này không cần nhiều ánh sáng. Ở Hà Giang chỉ có một số địa phương có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây thảo quả như ; ở các xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài, Tả Ván, huyện Quản Bạ; xã Cao Bồ, Lao chải, Xín Chải, huyện Vị Xuyên. Là loại quả rất thơm, gia vị của nhiều món ăn hấp dẫn du khách.

 

1. Bản đồ hành chính:

Description: http://www.mpi.gov.vn/portal/pls/portal/docs/3029144.JPG

Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang

 

2. Các đơn vị hành chính:

Hà Giang có một thị xã là trung tâm là thị xã Hà Giang và 10 huyện (Bắc Mê, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quang Bình, Quản Bạ, Vị Xuyên, Xín Mần, Yên Minh, Bắc Quang). Tổng số có 195 xã, phường, thị trấn, trong đó có 112 xã đặc biệt khó khăn.

 

Thông tin đang được cập nhật
 
Hệ thống ứng dụng nội Bộ
 
 
 
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.