Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Monday, July 4 2022
Tiếng Việt
a A
Date 06/01/2022-16:59:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 năm 2021 của tỉnh Đồng Nai

Năm2021, đại dịch bệnh Covid-19 lần thứ 4 diễn biến rất phức tạp, đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội,làm đứt gẫy các chuỗi cung ứng của nền kinh tế, thu hẹp cả tổng cung và tổng cầu, làm ảnh hưởng nặng nề đến tình hình sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội của cả nước nói chung, tỉnh Đồng Nai nói riêng.

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đại dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4 vào cuối tháng 6 năm nay đã ảnh hưởng nặng nề đến mọi hoạt động kinh tế xã hội và đời sống người dân.Sau gần 3 tháng thực hiện giãn cách xã hội theoChỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 15/CT-UBND ngày 08/7/2021 của UBND tỉnh Đồng Nai, từ đầu tháng 10/2021 tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cơ bản đã được kiểm soát, chuyển sang giai đoạn bình thường mới; Hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại, khách sạn nhà hàng, dịch vụ, vui chơi giải trí đã được phép hoạt động trở lại.

Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trungquyết liệt của cả hệ thống chính trị và chung sức, đồng lòng, của toàn Đảng, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệpthực hiện nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ; Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 vừa ổn định sản xuất kinh doanh, thích ứng an toàn, linh hoạt,vừa tập trung phòng chống dịch bệnh, vừa duy trìsản xuất phát triển kinh tế;Các hoạt động văn hóa, xã hội và chính sách an sinh xã hội tiếp tục quan tâm thực hiện, đạt những kết quả quan trọng. Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực chủ yếu như sau:

I. Tình hình kinh tế

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh năm 2021(giá so sánh 2010)ước đạt 214.372,92 tỷ đồng, tăng 2,15% so với cùng kỳ(không đạt mục tiêu NQ tỉnh ủy đề ra MTNQ 8,5%).Trong đó:Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,01%; Công nghiệp-xây dựng tăng 3,21%; Dịch vụ giảm 1,6% và Thuế sản phẩm tăng 4,11%.Đây là năm có mức tăng thấp nhất so với các năm trước.Tuy nhiên trong bối cảnhđại dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội, đạt mức tăng trưởng như trên là một thành công lớn của Đồng Nai trong việc thực hiện mục tiêu kép vừa phòng chống dịch bệnh vừa phát triển kinh tế.

Trong mức tăng chung 2,15% thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,01%, đóng góp 0,31 điểmphần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,21%, đóng góp 1,87 điểm phần trăm(riêng công nghiệp đạt 117.241,29 tỷ đồng, tăng 3,29%, đóng góp 1,78 điểmphần trăm);khu vực dịch vụ giảm 1,6%, giảm 0,37 điểm phần trăm; Thuế sản phẩm(trừ trợ cấp sản phẩm)tăng 4,11%, đóng góp 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; Trong 3 khu vực kinh tế thì chỉ có khu vực nông lâm nghiệm và thủy sản giữ được mức tăng trưởng tương đương các năm trước, trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đạt thấp, khu vực công nghiệp - xây dựng chịu ảnh hưởng nặng của dịch Covidd-19, nên tăng trưởng chỉ đạt 3,21%, thấp hơn nhiều so với các năm trước, đây là khu vực chiếm 60% GRDP nên ảnh hưởng đến tăng trưởng chung trên địa bàn.

Do ảnh hưởng dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nên các hoạt động thương mại, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ hạn chế hoạt động thời gian dài, một số hoạt động giảm mạnh do đó giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ (-1,6%), nên đã ảnh hưởng lớn đến sự đóng góp vào tăng trưởng GRDP trên địa bàn tỉnh.

Cơ cấu nền kinh tế năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,56%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 59,94%; khu vực dịch vụ chiếm 21,55%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,94%.

GRDP bình quân đầu người năm 2021(theo giá hiện hành)dự ước đạt 118,45 triệu đồng/người, tăng 2,39% so năm trước, chưa đạt mục tiêu đề ra(Nghị quyết để ra năm 2021 là 131,1 triệu đồng/người).GRDP bình quân đầu người năm 2021 theo USD dự ước đạt 5.179 USD, tăng 2,9% so năm trước.

2. Sản xuất công nghiệp

Năm 2021 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai gặp khó khăn lớn do dịch bệnh Covid-19 bùng phát, doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, dẫn đến việc như đứt gãy chuỗi cung ứngnguyên liệu sản phẩm, lao động thất nghiệp, hàng hoá tồn kho. Tuy nhiên bước vào quý IV/2021 dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, các lĩnh vực của nền kinh tế trên địa bàn tỉnh bước vào trạng thái bình thường mới, nên sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi, nhưng vẫn còn chậm, chưa hết khó khăn.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2021 ước tăng 3,95% so với cùng kỳ, đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 1,57%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,48%; sản xuất và phân phối điện giảm 6,18%; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,22%. Dự ước cả năm 2021 có 19/27 ngành sản xuất tăng và 8 ngành giảm so năm trước. Một số ngành sản xuất chủ lực có sự phục hồi rõ nét, có mức tăng so cùng kỳ như:

Dệt tăng 5,39%; sản xuất trang phục tăng 8,17%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,27%; sản xuất hóa chất tăng 3,21%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 6,05%...Ngược lại, chỉ số sản xuất của một số ngành giảm sâu so với cùng kỳ như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính giảm 22,66% đây là ngành giảm sâu nhất do tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 5,71%..do ngừng sản xuất dài ngày để phòng dịch; Ngành sản xuất phân phối điện giảm 6,18% do các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất, các ngành sản xuất khác tăng rất thấp.

3. Hoạt động xây dựng

Dự ước năm 2021 giá trị sản xuất xây dựng trên địa bàn(theo giá thực tế)đạt 49.450,8 tỷ đồng, tăng 3,65% so cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước đạt 247,4 tỷ đồng, tăng 4,6 lần; doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 33.038,4 tỷ đồng, tăng 3,22%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3.878,5 tỷ đồng, tăng 2,93%; Loại hình khác đạt 12.286,4 tỷ đồng, tăng 3,43%. Tính theo giá so sánh 2010giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt 32.977,3 tỷ đồng, tăng 0,15% so cùng kỳ. Do ảnh hưởng dịch Covid-1, nên hoạt động xây dựng năm 2021 tăng thấp so cùng kỳ, hầu hết các doanh nghiệp xây dựng ngừng hoạt động thời gian dài, đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh.

4. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

Đầu quý III/2021 ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã tác động đến sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn gặp khó khăn, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm giảm, đứt gãy kênh phân phối do đóng cửa chợ đầu mối, chợ truyền thống. Ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu vào tăng cao trong khi giá sản phẩm bán ra lại rất thấp so giá thành sản xuất… Bước sang quýIV,tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được kiểm soát, các hoạt động dần được khôi phục trở về trạng thái bình thường mới, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đã tổ chức sản xuất trở lại; các hoạt động dịch vụ được chú trọng đẩy mạnh, đã góp phần tăng trưởng sản xuất nông nghiệp.

Dự ước giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (Theo giá so sánh 2010) năm 2021 đạt 45.351,8 tỷ đồng, tăng 3,43% so cùng kỳ, mức tăng trưởng tương đương các năm trước. Trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 41.163 tỷ đồng, tăng 3,4% (trồng trọt tăng 1,66%; chăn nuôi tăng 4,59%; dịch vụ tăng 2,6%);Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 1.773,68 tỷ đồng, tăng 1,95%; Giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 2.415,12 tỷ đồng, tăng 5,19% so cùng kỳ

a. Lĩnh vực trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng nămtính đến ngày 15/12/2021 đạt144.783,9 ha, giảm 3.743,7 ha (-2,52%) so cùng kỳ. Diện tích lúa giảm do quy hoạch các dự án và các công trình xây dựng, phát triển khu đô thị như cầu đường, trường học tại các huyện Nhơn Trạch, Xuân Lộc; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Tân Phú, bên cạnh đó diện tích giảm một phần do chuyển đổi sang trồng các loại cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao hơn như: mít, cam, bưởi; Trong đó: Diện tích nhóm cây lương thực là 89.635,11 ha, giảm 2,48% và chiếm 61,91%; Nhóm cây củ có bột đạt 17.578,12 ha, tăng 103,53 ha (+0,59%), chiếm 12,14%; Nhóm cây rau các loại đạt 17.734 tăng 341,94 ha (+1,97%) so cùng kỳ.

Năng suấtlúa đạt58,18 tạ/ha, tăng 0,68 tạ/ha (+1,17%); Bắp: 80,04 tạ/ha, tăng 0,12 tạ/ha (+0,14%); khoai lang đạt 153,94 tạ/ha (+5,89%); mía đạt 699 tạ/ha (+0,66%); đậu tương đạt 16,47 tạ/ha (+2,81%); đậu phộng đạt 24,51 tạ/ha (-0,21%), rau các loại đạt 171 tạ/ha (+1,3%).

Sản lượng lúa: 313.317 tấn (-2,09%); bắp: 286.394 tấn, (-1,2%); rau các loại: 303.210 tấn (+3,29%); đậu các loại: 4.622 tấn (-18,02%) so cùng kỳ.

Tổng diện tích cây lâu năm hiệncó là 169.608,35 ha, giảm 463,27 ha (-0,27%) so cùng kỳ. Trong đó diện tích cây ăn quả đạt 73.443,26 ha, tăng 5,07%; cây công nghiệp lâu năm là 94.816,36 ha, giảm 4,05% so cùng kỳ. Nguyên nhân nhóm cây ăn quả tăng là do nông dân chuyển đổi từ một số diện tích cây cà phê, tiêu, cao su đã già cỗi và một số diện tích từ cây hàng năm sang trồng cây ăn trái. Diện tích cây ăn trái tăng chủ yếu ở các huyện Thống Nhất, Trảng Bom, Vĩnh Cửu và Cẩm Mỹ.

Năng suất một số cây trọng điểm tăng so cùng kỳ như: Năng suất xoài đạt 102,05 tạ/ha (+1,77%); chuối đạt 141,76 tạ/ha (+2,85%); sầu riêng đạt 100,45 tạ/ha (+0,47%); mít đạt 147,49 tạ/ha (+0,89%); bưởi đạt 110,6 tạ/ha (+0,57%); chôm chôm đạt 169,17 tạ/ha (+4,51%); điều đạt 14,48 tạ/ha (+4,32%); tiêu đạt 25,81 tạ/ha (+5,29%) và cà phê đạt 25,55 tạ/ha (+4,59%) so cùng kỳ.

Sản lượng xoài đạt 112.843 tấn, tăng 6,41%; chuối đạt 138.569 tấn, tăng 6,88%; cam đạt 13.221 tấn, tăng 5,97%; bưởi đạt 73.853 tấn, tăng 5%; điều đạt 43.675 tấn, tăng 0,1%; Bên cạnh đó một số cây trồng sản lượng giảm như : chôm chôm đạt 152.841 tấn, giảm 4,65%; cao su đạt 47.509 tấn, giảm 0,33% và cà phê đạt 18.023 tấn, giảm 11,45% so cùng kỳ.

b. Hoạt động chăn nuôi

Năm 2021, tình hình chăn nuôi tiếp tục được duy trì và phát triển thuận lợi, công tác tái đàn có nhiều chuyển biến tích cực; dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm vẫn được kiểm soát.

Tổng đàn gia súc hiệncó là 2.231.390 con, tăng 14,25% so cùng kỳ. Trong đó: Trâu đạt 3.855 con, giảm 1,2%; Bò đạt 86.679 con, giảm 0,06 Heo đạt 2.140.856 con(Không tính heo con chưa tách mẹ), tăng 14,95% so cùng kỳ, nguyên nhân đàn heo đàn heo tăng do thực hiện hiệu quả các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã chăn nuôi sớm phục hồi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

Tổng đàn gia cầm hiệncó là 24.541,03 ngàn con, tăng 2,55% so cùng kỳ. Trong đó gà ước đạt 21.773,94 ngàn con, tăng 1,45% so cùng kỳ. Nguyên nhân đàn gà tăng là do thị trường xã hội và xuất khẩu ổn định nên một số doanh nghiệp lớn và các hệ thống các trang trại chăn nuôi chủ động tăng đàn.

- Sản lượng sản phẩm:Dự ướcsản lượng sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng so cùng kỳ như sau: Sản lượng thịt trâu dự ước 247 tấn, tăng 3,78%; thịt bò ước đạt 4.062 tấn,tăng 4,69%;thịt heo 418.267tấn, tăng 5,05%;thịt gia cầm 183.074 tấn, tăng 5,61%; Sản lượng trứng gia cầm đạt 1.116,18 triệu quả, tăng 5,3% so cùng kỳ.

c. Hoạt động thủy sản:Năm 2021 sản xuất thủy sản thuận lợi, ổn định, giá tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên thị trường tăng so cùng kỳ.Dự ước sản lượng thủy sản đạt71.235,76 tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá tăng 6,73%; tôm ước tăng 1,62%; thuỷ sản khác tăng 1,06%, nguyên nhân sản lượng thuỷ sản tăng cao là do thị trường tiêu thụ xã hội khá ổn định, tâm lý người tiêu dùng hiện nay sử dụng thực phẩm thủy sản khá phổ biến.

5. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

Năm 2021hoạt động thương mại diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động thương mại, dịch vụ, một số hoạt động dịch vụ tạm ngưng hoặc hạn chế hoạt động, nhiều chợ truyền thống và siêu thị tạm ngưng hoạt động một thời gian dàiđã làm ảnh hưởng tới hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn. Thực hiệnChỉ thị số 19/CT-UBND về thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 và từng bước phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh. Bước sang quý 4/2021 các hoạt động thương mại, dịch vụ, vận tải trên địa bàn tỉnh từng bước được phục hồi và trở về trạng thái bình thường; các đơn vị kinh doanh thương mại, dịch vụ…. tăng trưởng khởi sắc hơn;hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao ngoài trời đã mở cửa phục vụ người dân.

a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa:Dự ước cả năm 2021 tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 153.875,63 tỷ đồng, tăng 7,54% so với cùng kỳ(năm 2020 tăng 10,77%),trong đó nhóm lương thực, thực phẩm đạt 43.531 tỷ đồng, tăng 23,33%; Xăng dầu các loại đạt 21.451,1 tỷ đồng, tăng 16,95%; Nhiên liệu khác đạt 2.190,7 tỷ đồng, tăng 11,31%; Doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 4.939,7 tỷ đồng, tăng 5,08% so với cùng kỳ, đây là mức tăng trưởng thấp so với các năm trước, nguyên nhân tăng thấp là dodịch Covid-19 đã tác động ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt của nền kinh tế, các hoạt động sản xuất, kinh doanh bị gián đoạn, người dân phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài, gây ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cơ sở cá thể.

Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành:Dự ước cả năm 2021 doanh thu lưu trú và ăn uống đạt 12.508,36 tỷ đồng, giảm 19,66% so cùng kỳ, nguyên nhân giảm là do ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, nhiều cơ sở dịch vụ, kinh doanh ăn uống, khách sạn, nhà hàng phải tạm ngưng hoạt động để thực hiện giãn cách xã hội để đảm bảo công tác phòng chống dịch theo qui định.

Doanh thu dịch vụ khác: Dự ước năm 2021 đạt 21.476,2 tỷ đồng, giảm 13,12% so với cùng kỳ, giảm do các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao, giáo dục, vũ trường, cắt tóc…ngừng hoạt động thời gian dài để phòng chống dịch.

b. Giá cả thị trường

* Chỉ số giá tiêu dùngtháng 12/2021giảm 0,49% so tháng trước vàtăng 1,31% so với tháng 12 năm 2020(Tức là chỉ số giá tiêu dùng năm 2021 tăng 1,31%);chỉ số giá bình quân năm 2021 tăng 2,4% so cùng kỳ. Trong đó cónhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số tăng cao hơn bình quân chung (+3,73%); giao thông (+11,84%) so cùng kỳ. các ngành còn lại có chỉ số giá tăng thấp hoặc giảm so cùng kỳ.

* Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Giá vàng trong nước biến động theo với giá vàng thế giới; Chỉ số giá vàng tháng 12/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,54% so với tháng cùng kỳ; bình quân năm 2021 tăng 8,41% so cùng kỳ.

- Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 12/2021 tăng 0,14% so tháng trước và giảm 1,4% so với cùng tháng năm trước; bình quân năm 2021 giảm 0,14% so với cùng kỳ năm 2020.

c.Xuất,nhập khẩuhàng hóa

Năm 2021 trong bối cảnh dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp, nhưngthị trường xuất khẩu khởi sắc hơn, do thị trường thế giới đang hồi phục trở lại tạo điều kiện các doanh nghiệp mở rộng các lĩnh vực sản xuất tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa. Các hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt, các hiệp định: CPTPP, EVFTA,… tạo điều kiện để hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào các thị trường.

Kim ngạch xuất khẩu:Dự ước năm 2021 kim ngạch xuất khẩu đạt 21.833,36 triệu USD, tăng 16,16% so cùng kỳ, vượt mục tiêu Nghị quyết(Mục tiêu Ngghị quyết tăng tăng 8,1-8,5%).Trong đó: kinh tế nhà nước đạt 511,3 triệu USD, tăng 12,22%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 4.245 triệu USD, giảm 1,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17.077,1 triệu USD, tăng 21,67%. Thị trường xuất khẩu trong năm 2021 tập trung chủ yếu: Hoa Kỳ ước đạt 6.352,64 triệu USD, chiếm 29,1%; Trung Quốc ước đạt 2.281,72 triệu USD, chiếm 10,45%; Nhật Bản ước đạt 2.015,28 triệu USD, chiếm 9,23%; Hàn Quốc đạt 1.170,93 triệu USD, chiếm 5,36% tổng kim ngạch xuất khẩu; các thị trường khác cũng có kim ngạch xuất khẩu tương đối ổn định như: Đài Loan, Bỉ, Đức, Nga...chiếm tổng tỷ trọng 45,86%.

Kim ngạch nhập khẩu:Dự ước năm 2021 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 18.679,62 triệu USD, tăng 27,55% so cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước ước đạt 263,1 triệu USD, giảm 9,93%; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 3.362 triệu USD, giảm 7,96%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15.054,5 triệu USD, tăng 40,69% so cùng kỳ. Thị trường nhập khẩu chủ yếu trong năm 2021 tập trung chủ yếu: Trung Quốc ước đạt 4.705,41 triệu USD (chiếm 21,55%); Hàn Quốc 2.478,61 triệu USD (chiếm 11,35%); Hoa Kỳ 1.326,26 triệu USD (chiếm 6,07%); Nhật Bản 1.325,54 triệu USD (chiếm 6,07%) tổng kim ngạch nhập khẩu; Các thị trường khác như: Thái Lan, Brazil, Indonesia… chiếm tổng tỷ trọng 54,96% tổng kim ngạch nhập khẩu.Cán cân thương mạinăm 2021đạt mức xuất siêu3.154triệuUSD(Năm 2020 suất siêu 4.304,8 triệu USD),trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất siêu 1.132,2 triệuUSD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 2.021,7 triệuUSD.Như vậy mặc dù gặp khó khăn nhưng Đồng Nai vẫn xuất siêu đạt cao.

d. Hoạt động giao thông vận tải.

Hoạt động giao thông vận tải năm 2021 cũng chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 cả vận tải hành khách và hàng hóa.

- Doanh thu hoạt động vận tảinăm 2021 đạt 16.206 tỷ đồng, giảm 5,44% so cùng kỳ, trong đó doanh thu vận tải hành khách đạt 1.590,8 tỷ đồng, giảm 25,86%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 9.414 tỷ đồng, giảm 3,34%.

-Sản lượngvận chuyển hành khách năm 2021 đạt 43.705 nghìn HK, giảm 29,78%; luân chuyển đạt 2.452.809 nghìn HK.Km, giảm 28,5% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng vận chuyểnhàng hóađạt 48.313 nghìn tấn, giảm 10,47%; luân chuyển đạt 4.030.651 nghìn tấn.km, giảm 7,91% so cùng kỳ.Ngành vận tải hàng hóa và hành khách năm 2021 đều giảm do phải tạm ngưng hoạt động trong thời gian giãn cách xã hội.

6. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2021 giảm 7,32% so với cùng kỳ, nguyên nhân nguồn vốn đầu tư giảm là do dịch Covid-19các hoạt động kinh tế - xã hội đều bị ảnh hưởng lớn, đặc biệt là khoảng thời gian thực hiện giản cách xã hội, hầu hết công trình dự án lớn đều dừng thi công trong thời gian dài, công tác giải ngân vốn đầu tư cũng đạt kết quả thấp.

Dự ước cả năm 2021 thực hiện 96.683,9 tỷ đồng, giảm 7,32% so năm 2020. Trong đó vốn đầu tư từ nguồn NSNN đạt 6.967,8 tỷ đồng, giảm 9,8%, vốn trái phiếu chính phủ đạt 3.917,5 tỷ đồng giảm 41,57%(đây là vốn dự án Sân bay Long Thành).Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 42.545 tỷ đồng, giảm 1,07% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 41.287 tỳ đồng, giảm 10,88% so cùng kỳ.

7. Thu hút đầu tư

- Tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) đến ngày 20/12/2021 đạt 1.219,94 triệu USD, giảm 6,28% so cùng kỳ và đạt 122% kế hoạch năm. Trong đó: Cấp mới 53 dự án, giảm 26,39% so cùng kỳ, với vốn đăng ký 384,43 triệu USD, giảm 6,72% so cùng kỳ; điều chỉnh tăng vốn 109 dự án với vốn bổ sung 835,5 triệu USD, giảm 6,08% so cùng kỳ.

- Tổng vốn đầu tư trong nước đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư và điều chỉnh tăng vốn đến ngày 22/12/2021 là 13.325,5 tỷ đồng, giảm 56,71% so cùng kỳ. Trong đó: Cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 25 dự án với số vốn là 10.565,2 tỷ đồng, giảm 59,71% so cùng kỳ.

- Tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp ngoài nhà nước và bổ sung tăng vốnlà: 93.266,7 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ. Trong đó,có 2.939 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 56.564,1 tỷ đồng, bằng 76,64% số lượng doanh nghiệp và bằng 78,16% về số vốn thành lập mới và 946 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 36.702,5 tỷ đồng.

- Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2021 có 304 doanh nghiệp giải thể, bằng 81,5% so với cùng kỳ và 436 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứthoạt động,tăng 12,66%; 794 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 10,43%.Các doanh nghiệp này chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa và thuộc khu vực ngoài nhà nước kinh doanh không hiệu quả, nên giải thể, chấm dứt hoạt động và tạm ngừng kinh doanh.

II. Một số tình hình xã hội

Do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, một số hoạtđộng văn hóa, thể thaohạn chế tổ chức các hoạt động, nhằm đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid -19 trên địa bàn.

- Ngành văn hóatậptrung công tác tuyên truyền chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước;Tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026;Kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam và 32 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân;Tuyên truyền về công tác phòng tôi phạm, phòng chống dịch Covid- 19 trên địa bàn tỉnh.

- Hoạt động thể dục thể thao:Các đội tuyển thể dục thể thao Đồng Nai đã tham gia 19 giải quốc gia (đạt 25 huy chương các loại); Trong đó, một số bộ môn đạt thành tích cao như: Giải Vô địch Cầu mây quốc gia năm 2021; Giải Vô địch Vovinam các đội mạnh toàn quốc lần thứ XII; Đặc biệt, tại Cuộc đua xe đạp toàn quốc-Cúp Truyền hình TP.HCM lần thứ 33 năm 2021, đội Bikelife Đồng Nai giành chiếc áo vàng chung cuộc, xuất sắc giành vị trí nhất. Ngoài ra còn tổ chức 12 giải cấp tỉnh, gồm: Giải vô địch Bơi tỉnh Đồng Nai; Giải Việt dã trực tuyến; Giải Taekwondo quyền thuật trực tuyến….. với nhiều vận động viên và câu lạc bộ tham gia.

Hoạt độngGiáo dục:Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2021đảm bảo an toàn, đúng quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra. Kết quảcó26.087/26.248 thí sinh(không tính thí sinh tự do)tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 99,39%; Kỳ thi tuyển sinh lớp 10phổ thôngnăm học 2021-2022đạt tỷ lệ 74,3%.

Năm học 2021-2022 trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 còn diễn biến phức tạp và học sinh chưa thể đến trường, ngành Giáo dục đã triển khai 2 hình thức học chủ đạo, đó là học qua truyền hình và học trực tuyến.

Hoạt động Y tế:Hoạt động y tế bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho người dân đạt nhiều kết quả tích cực. Ngành y tế Đồng Nai đã quan tâm và thực hiện tốt chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, tỉnh ủy, UBND tỉnh về phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh.Luỹ kế từ lúc dịch xuất hiện đến nay, đã ghi nhận 234.104 trường hợp mắc COVID-19 trên địa bàn tỉnh, trong đó qua Realtime RT-PCR là 93.858 ca, qua Test nhanh kháng nguyên là 140.246 ca(chiếm 15,74% trường hợp đang điều trị; 83,09% trường hợp đã điều trị khỏi bệnh; 1,17% trường hợp tử vong).

Giải quyết việc làm:Năm 2021 giải quyết việc làm cho 59.142 lượt người, giảm 27,74% so với cùng kỳ và đạt 73,93% so kế hoạch năm. Trong đó: Doanh nghiệp tuyển dụng: 38.611 lượt người; Lồng ghép các chương trình KTXH khác: 20.531 lao động.

Đào tạo nghề:Năm 2021, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới, đào tạo cho 69.500 người, đạt 87,2% kế hoạch và giảm 11,01% so cùng kỳ: Có 52.000 người tốt nghiệp các khóa đào tạo, đạt 75,36% kế hoạch năm 2021 và giảm 23,8% so cùng kỳ.

Công tác giảm nghèo:Toàn tỉnh cho vay tổng số hộ vay là 1.235 hộ, với số tiền vay là 60.995 triệu đồng. Trong đó số hộ nghèo vay 38 hộ với số tiền 1.700 triệu đồng; hộ cận nghèo vay 346 hộ với số tiền 15.249 triệu đồng và hộ thoát nghèo vay 851 hộ với số tiền 44.046 triệu đồng.

Dân số:Ước tính dân số trung bình năm 2021 của tỉnh Đồng Nai là 3.169,1 ngàn người trong đó nam là: 1.608,9 ngàn người, chiếm 50,76%; nữ là: 1.560,2 ngàn người, chiếm 49,24%. Chia theo khu vực: thành thị 1.418,64 ngàn người, chiếm 44,76% nông thôn: 1.750,46 ngàn người, chiếm 55,24%.

Lao động:Năm 2021dự ước toàn tỉnhcó 1.754,71 ngàn người lao động từ 15 tuổi trở lên, giảm 0,73% so cùng kỳ. Trong đó: Nam giảm 0,84%; nữ giảm 0,61%. Trong đó đang làm việc ngành công nghiệp - xây dựng là 960,55 ngàn người, giảm 2,57%; lao động ngành dịch vụ là 517,04 ngàn người, giảm 2,48% so cùng kỳ. Đây là 2 ngành có nhu cầu sử dụng nhiều lao động, đồng nghĩa việc giảm lực lượng lao động ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (-1,99%)./.


Cục Thống kê Đồng Nai

  • Viewed: 2818

Rating

(Choose stars to rate)
  
MINISTRY OF PLANNING AND INVESTMENT PORTAL
Copyright by Ministry of Planning and Investment
Address: No. 6B, Hoang Dieu, Ba Dinh, Hanoi - Tel: (84-80)43485; (84-24)38455298 (Ministry Office);
Fax: (84-24)38234453 (Ministry Office); Email: banbientap@mpi.gov.vn