Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Chủ nhật, ngày 29 tháng 1 năm 2023
English
a A
Ngày 02/10/2020-10:19:00 AM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2020 tỉnh Quảng Bình

Năm 2020 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và là năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong điều kiện rất nhiều khó khăn. Tình hình quốc tế, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; dịch Covid-19 chưa được khống chế hiệu quả gây ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế của nhiều quốc gia. Trong nước, dịch Covid-19 xảy ra từ đầu năm 2020 và sau đó bùng phát trở lại vào cuối tháng 7/2020 đã ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Đối với Quảng Bình, kiểm soát dịch được thực hiện tốt, đến nay chưa có trường hợp dương tính với dịch Covid-19, nhưng do kinh tế thế giới cũng như trong nước gặp khó khăn nên tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội.

Do tác động của dịch Covid-19 nên nhiều chỉ tiêu kinh tế trong quý III và 9 tháng năm 2020 đạt thấp so với cùng kỳ và so với kế hoạch; nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất - kinh doanh vừa vực dậy sau đợt dịch Covid-19 hồi đầu năm, chưa kịp phục hồi tăng trưởng thì sau đó tiếp tục rơi vào khó khăn vì dịch bùng phát trở lại; mặc dù nhiều đối tượng bị ảnh hưởng dịch Covid-19 được Nhà nước hỗ trợ kịp thời, nhưng nhìn chung đời sống của người lao động vẫn còn nhiều khó khăn do mất việc làm hoặc thiếu việc làm,... Tuy vậy, phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2020 vẫn có những điểm sáng, đó là: Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản phát triển ổn định; thực hiện vốn đầu tư, thu ngân sách tăng khá; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định. Kết quả đạt được trên các lĩnh vực như sau:

I. KINH TẾ

1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

Triển khai sản xuất vụ Hè Thu năm nay trong điều kiện thời tiết không thuận lợidonắng nóng gay gắt kéo dài,nhưng nhờ dự báo sớm tình hình nên các ngành chức năng đã chủ động triển khai tốt các giải pháp thủy lợi, đảm bảo công tác tưới tiêu nước phục vụ sản xuất vụ Hè Thu. Theo đó, diện tích, năng suất, sản lượng nhiều loại cây trồng tăng sovớivụ Hè Thu năm trước. Diện tích gieo trồng thực hiện 35.394,2 ha, tăng 2,6%. Cụ thể các cây trồng như sau:

Cây lúa:Diện tích lúa thực hiện 23.058,8 ha, so với vụ Hè Thu năm trước tăng 3,6%. Diện tích lúa Hè Thu tăng là do hệ thống thủy lợi tưới tiêu nước hiệu quả, đảm bảo đủ nguồn nước phục vụ cho nhu cầu gieo cấy.

Ước tínhnăng suất lúa bình quân chung toàn tỉnhđạt 36,62 tạ/ha, tăng 8%sovới vụ Hè Thunăm trước. Năng suất lúa các địa phương: Thành phố Đồng Hới đạt 54,39 tạ/ha, thị xã Ba Đồn đạt 51,01 tạ/ha, huyện Minh Hóa đạt 41,50tạ/ha, huyện Tuyên Hóa đạt 44,00tạ/ha, huyện Quảng Trạch đạt 54,00tạ/ha, huyện Bố Trạch đạt 33,70tạ/ha, huyện Quảng Ninh đạt 45,93 tạ/ha, huyện Lệ Thủy đạt 21,48 tạ/ha.

- Các loại cây trồng khác:Do thời tiết nắng nóng gay gắt từ đầu Vụ nên diện tích gieo trồng một số loại cây trồng khác đạt thấp. Cụ thể: Nhóm cây ngô và cây lương thực có hạt khác 551,9 ha, giảm 8,5%; nhóm cây lấy củ có chất bột 6.893,4 ha, tăng 0,02%; cây mía 191,6 ha, giảm 7,4%; nhóm cây lấy sợi 1,2 ha; cây có hạt chứa dầu 695,8 ha, giảm 16,7%; nhóm cây rau, đậu các loại và hoa 2.719,2 ha, tăng 7,8%; cây hàng năm khác 1.282,3 ha, tăng 9,2% so với vụ Hè Thu năm trước.

Năng suất các loại cây trồng khác: Cây ngô đạt 37,66 tạ/ha, tăng 81,2% (do năm ngoái diện tích ngô mất trắng nhiều); cây khoai lang đạt 57,92 tạ/ha, tăng 0,6%; cây sắn đạt 179,24 tạ/ha, giảm 0,9%; cây lạc đạt 13,41 tạ/ha, tăng 4,7%; cây vừng đạt 6,99 tạ/ha, tăng 0,9%; cây rau các loại đạt 96,93 tạ/ha, tăng 6,8%; cây đậu các loại đạt 8,21 tạ/ha, giảm 3,9% sovới vụ Hè Thunăm trước.

Ướctínhsản lượng lương thực vụ Hè Thu đạt 86.510,6 tấn, tăng 12,8% sovới vụ Hè Thunăm trước. Cụ thể sản lượng một số cây trồng chính: Sản lượng lúa 84.440,4 tấn, tăng 11,9%; sản lượng ngô 2.065,2 tấn, tăng 65,9%; sản lượng khoai lang 2.867,2 tấn, giảm 12,3%; sản lượng sắn 112.169,6 tấn, tăng 0,7%; sản lượng lạc 658 tấn, giảm 19,5%; sản lượng vừng 134,6 tấn, tăng 2,4%; sản lượng rau các loại 17.202,7 tấn, tăng 13,8%; sản lượng đậu các loại 760,5 tấn, tăng 7,4% sovới vụ Hè Thunăm trước.

Tính chung 9 tháng năm2020, diện tích gieo trồng cây hàng năm thực hiện 83.283,9 ha, tăng 0,7% sovớicùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích lúa thực hiện 52.652,1 ha, tăng 1,6%; diện tích các loại cây hàng năm khác 30.631,8 ha, giảm 0,9% sovớicùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực đạt 292.376,9 tấn, tăng3,0%; trong đó sản lượng lúa 267.571,4 tấn, tăng 2,8% sovớicùng kỳ năm trước.

Sản xuất cây lâu năm đang được đầu tư và phát triển khá ổn định.Ướctínhđến cuối tháng 9/2020, diện tích thực hiện 19.150 ha, sovớicùng kỳ năm trước tăng 1,4%. Trong đó: Cây hồ tiêu 1.170 ha, tăng 2,3%; sản lượng 1.002 tấn, tăng 2,9%.Diện tích cây cao su 13.120 ha, giảm 0,1%; sản lượng 1.350 tấn, giảm 3,7% sovớicùng kỳ năm trước.

b. Chăn nuôi

Do tác động của dịch bệnh đã ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi trong 9 tháng năm nay. Đặc biệt, ảnh hưởng dịch tả lợn châu Phi kéo dài, nguồn cung lợn giống không đáp ứng đủ, giá lợn giống tăng cao nên việc tái đàn lợn gặp nhiều khó khăn. Chăn nuôi gia cầm phát triển khá;chăn nuôi trâu, bò tương đối ổn định về quy mô đàn.

Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý III đạt 15.657 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Thịt trâu đạt 371 tấn, tăng 1,6%; thịt bò đạt 1.397 tấn, tăng 1,5%; thịt lợn đạt 8.264 tấn, giảm 3,7%; thịt gia cầm đạt 5.625 tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng đạt 53.771 tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Thịt trâu 1.586 tấn, tăng 1,9%; thịt bò 5.500 tấn, tăng 3,3%; thịt lợn hơi 28.889 tấn, giảm 5,9%; thịt gia cầm 17.796 tấn, tăng 9,5%. Trong đó: Thịt gà 13.149 tấn, tăng 10,5%; sản lượng trứng gia cầm 86.991,5 nghìn quả, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước.

Do nguồn cung thấp nên trong thời gian qua giá thịt lợn ở mức cao. Gần đây, Chính phủ thực hiện giải pháp nhập khẩu lợn thịt để bình ổn giá nên giá lợn thịt trong nước nói chung và Quảng Bình nói riêng đã giảm đáng kể, tuy nhiên vẫn còn cao so với trước đây. Do dịch Covid-19 bùng phát trở lại, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp nên hiện nay tiêu thụ thịt gà khó khăn hơn, giá thịt gà giảm.

2. Lâm nghiệp

Sản xuất ngành lâm nghiệpđược duy trì ổn định vàtiếp tục chuyển dịch đúng hướng.Công tác trồng rừngsản xuất,rừng phòng hộ đang được các địa phương triển khai đúng kế hoạch. Công tác giao khoán bảo vệ,phục hồi vốn rừng, làm giàu rừng được chú trọngnên thực hiện đảm bảo kế hoạch. Công tác khaithác gỗ từ rừng trồng được kiểm soát chặt chẽ, cùng với việc đẩy nhanh tiến độ khai thác,các chủ rừngthực hiện tốt phương châm rừng khai thác đến đâu, thu dọn tàn dư, xử lý thực bì, chuẩn bị mặt bằng để triển khai trồng rừng.

Ước tính sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng quý III đạt 190.000 m3, tăng 5,0%; 9 tháng đạt 395.000 m3, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác quý III đạt 146.000 ste, tăng 0,3%; 9 tháng đạt 280.100 ste, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý III chưa đến thời vụ trồng rừng nên diện tích thực hiện không đáng kể. Các chủ rừng tiếp tục chuẩn bị mặt bằng, cây giống để chủ động trồng rừng tập trung vào đầu quý IV năm nay.

3. Thủy sản

Sản lượng thủy sản thực hiện trong quý III ước tính đạt 32.094,4 tấn, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá các loại 24.587,5 tấn, tăng 8,7%; tôm các loại 2.906,9 tấn, tăng 5,1%; thủy sản khác 4.600 tấn, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 9 tháng sản lượng thủy sản đạt 71.374,4 tấn, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,6. Trong đó:Cá các loại 57.307,5 tấn, tăng 7,9%; tôm các loại 4.786,9 tấn, tăng 5,0%; thủy sản khác 9.280 tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

a. Khai thác

Thời tiết thuận lợi nên ngư dân phấn khởi ra khơi bám biển, mở rộng ngư trường khai thác nên sản lượng tăng cao. Công tác lắp đặt thiết bị giám sát hành trình cho tàu cá được ngư dân tiếp tục thực hiện nhằm hướng tới khai thác bền vững.

Ước tính quý III sản lượng thủy sản khai thác đạt 25.094,3 tấn, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 9 tháng sản lượng khai thác 60.424,3 tấn, tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm:Cá các loại 50.557,4 tấn, tăng 8,1%; tôm các loại 936,9 tấn, tăng 5,7%; thủy sản khác 8.930 tấn, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.

Khai thác thủy sản biển, đặc biệt là khai thác xa bờ mang lại hiệu quả cao cho bà con ngư dân. Cùng với việc đầu tư đóng mới và cải hoán tàu, các cơ sở đã mạnh dạn mua sắm thêm các trang thiết bị hiện đại để khai thác có hiệu quả hơn. Công tác quản lý phương tiện khai thác, đăng kiểm tại địa phương được phối hợp, triển khai đồng bộ của các ngành chức năng nên tỷ lệ tàu đã đăng kiểm đạt cao, hoạt động đánh bắt đúng quy định.

b. Nuôi trồng

Ước tính quý III sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 7.000,1 tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng chia theo nhóm sản phẩm: Cá các loại đạt 4.300,1 tấn, tăng 6,2%; tôm các loại đạt 2.640 tấn, tăng 5,2%; thủy sản khác đạt 60 tấn, tăng 20% so cùng kỳ năm trước.

Ước tính 9 tháng, sản lượng thu hoạch 10.950,1 tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng nuôi trồng chia theo nhóm sản phẩm: Cá các loại 6.750,1 tấn, tăng 6,1%; tôm các loại 3.850 tấn, tăng 4,6%; thủy sản khác 350 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng nuôi trồng thu hoạch 9 tháng của một số địa phương tăng khá so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt trong tháng 9, một số vùng tập trung thu hoạch trước mùa mưa bão.

Nuôi trồng thuỷ sản được đa dạng hóa sản phẩm nhằm khai thác hết tiềm năng và lợi thế; nuôi lồng bè phát triển trở lại; nuôi cá nước ngọt, nuôi cá kết hợp lúa được mở rộng; công tác dự báo, phòng trừ dịch bệnh được tăng cường nên hạn chế được dịch bệnh trong nuôi thâm canh.

4. Công nghiệp

Dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng 7/2020 tại Đà Nẵng và lây lan sang một số địa phương trên cả nước nên sản xuất công nghiệp9 tháng năm 2020tiếp tụcđối mặt với khó khăn và có mức tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, tình hình dịch trong nước cơ bản đã được kiểm soát, doanh nghiệp đã hoạt động sản xuất trở lại tương đối ổn định nên tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có tín hiệu tích cực.

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính quý IIItăng 6,6% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 6,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,3%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 7,2%.

Tính chung 9 tháng năm 2020, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,7% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 5,8%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,5%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,9%; ngành cung cấp nước,hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,7%.

- Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng tăng 5,8%.Trong đó, khai thác quặng kim loại tăng 7,9%. Các doanh nghiệp khai thác quặng Titan và tinh quặng Ilmenite vẫn đang hoạt động sản xuất bình thường, ít chịu tác động của dịch bệnh; khai khoáng khác (đá xây dựng) tăng 5,6%.

- Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,5%.Nhìn chung, chỉ số sản xuất của các ngành kinh tế cấp 2 trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đều tăng so với cùng kỳ; trong đó, một số ngành tăng cao như: chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị,…

Tình hình sản xuất của một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu như sau:

+ Ngành chế biến thực phẩm chỉ số sản xuất tăng 4,8%. Trong đó, nhóm chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản đang dần ổn định thị trường xuất khẩu và tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ mới; nhóm ngành sản xuất tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột đã có nguyên liệu, đang trong quá trình đi vào ổn định sản xuất.

+ Ngành sản xuất trang phục tăng 4,1%. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất trang phục gặp phải khó khăn do nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm may mặc trang phục giảm, các đơn hàng xuất khẩu bị hủy nên các doanh nghiệp chuyển sang may khẩu trang để cung cấp cho thị trường trong phòng chống dịch.

+ Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 11,8%. Nhóm ngành sản xuất dăm gỗ thị trường tiêu thụ chủ yếu là Trung Quốc, dù hiện nay hoạt động xuất khẩu đã trở lại nhưng tồn kho từ những tháng trước lớn nên các doanh nghiệp đang sản xuất cầm chừng.

+ Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 7,3%. Đây là ngành chiếm tỷ trọng lớn về giá trị sản xuất trong toàn ngành công nghiệp và có tác động rất lớn đến tốc độ phát triển chung của ngành công nghiệp tỉnh nhà.

+ Ngành sản xuất đồ uống giảm 34,0% so với cùng kỳ. Giảm chủ yếu ở nhóm ngành sản xuất bia, do sản phẩm bia gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ; bên cạnh đó,Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực ngày 1/1/2020 đã thay đổi thói quen uống rượu, bia của người dân, sản phẩm tiêu thụ giảm mạnh.

- Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,9%.Nhu cầu sử dụng điện tăng trưởng cao do thời gian qua có nhiều đợt nắng nóng trên diện rộng và kéo dài.

- Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,7%.Trong đó ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,0% do nhu cầu sử dụng nước tăng cao nên Công ty cổ phần cấp nước Quảng Bình nâng cao sản xuất.

* Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Hầu hết các sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong 9 tháng năm 2020 đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Ván ép từ gỗ đạt 48.654 m3, tăng 385,7%;gạch xây dựngbằng đất nungđạt233,7 triệuviên,tăng 17,3%;điện thương phẩm đạt686triệu Kwh, tăng11,0%;sản phẩm tinh bột sắnđạt5.924tấn,tăng 8,3%; nước máythương phẩmđạt7,1triệum3, tăng7,0%; đá xây dựng đạt2,5 triệum3,tăng6,8%;clinker thành phẩm đạt2,9 triệutấn, tăng5,6%;xi măngđạt1,4 triệu tấn, tăng 5,8%; áo sơ mi đạt 9,8 triệu cái, giảm 9,7%; sản phẩm cao lanh đạt 47.883 tấn, giảm 8,2%; dăm gỗ đạt 272,8 nghìn tấn, giảm 5,3%.

Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp trong 9 tháng năm 2020 vẫn giữ được mức tăng khá so với cùng kỳ trong điều kiện dịch diễn biến phức tạp. So với cả nước,ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình mức độ thấp hơn.Mặt khác, một số doanh nghiệp mới được đầu tư và đi vào hoạt động trong thời gian vừa qua sản xuất ổn định; các doanh nghiệp có sự đầu tư, nâng cao chất lượng, đổi mới mẫu mã sản phẩm,...

5. Vốn đầu tư

Các nhà thầu, chủ đầu tư, đơn vị thi công tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình/dự án nhằm đảm bảo hoàn thành đúng kế hoạch đề ra, đặc biệt là các công trình giao thông, thuỷ lợi cố gắng hoàn thành sớm nhằm đảm bảo chất lượng công trình cũng như chống xói lở trong mùa mưa bão. Do vậy, tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh trong quý III và 9 tháng năm 2020 có nhiều chuyển biến tích cực, tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tình hình cụ thể như sau:

Trong quý III năm 2020, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện 1.300,3 tỷ đồng, tăng 99,2% so với quý cùng kỳ năm 2019. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.059,2 tỷ đồng, tăng 152,7% (nguồn vốn ODA 336,1 tỷ đồng; nguồn vốn xổ số kiến thiết 11,8 tỷ đồng); vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 145,3 tỷ đồng, tăng 3,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 95,8 tỷ đồng, tăng 2,8% so với quý cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng năm 2020, khối lượng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý ước tính thực hiện 2.544,7 tỷ đồng, tăng 57,6% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.959,3 tỷ đồng, tăng 88,9% (nguồn vốn ODA 529,7 tỷ đồng; nguồn vốn xổ số kiến thiết 31,5 tỷ đồng); vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 341,1 tỷ đồng, tăng 1,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 244,3 tỷ đồng, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong thời gian tới, để đạt được mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công, cần tiếp tục quán triệt đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm năm 2020, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2020. Chỉ đạo đôn đốc các ngành, địa phương, các chủ đầu tư thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tăng cường kiểm tra, thanh tra giám sát các dự án đầu tư công, tổ chức các cuộc họp để tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công.

6. Thương mại, dịch vụ

a. Tổng mức bán lẻ hàng hoá

Tháng 9/2020, tình hình dịch Covid-19 cơ bản đã được kiểm soát, niềm tin của người dân về kiểm soát dịch của Chính phủ ngày càng tăng lên nên số người đến các trung tâm mua sắm, siêu thị, cửa hàng tiện lợi bắt đầu đà phục hồi, các cơ sở bán lẻ có sự linh hoạt hơn trong cách tiếp cận người tiêu dùng. Tuy vậy, dù bắt đầu có bước phục hồi trở lại nhưng chưa thực sự khởi sắc so với cùng kỳ.

Quý III, tổng mức bán lẻ háng hoá ước tính thực hiện 9.800,9 tỷ đồng, tăng 5,2% so với cùng kỳ, giảm 4,2% so với quý II/2020. Trong quý III, doanh thu nhóm xăng dầu các loại là nhóm tăng cao nhất (+38,2%) so với quý trước do giá xăng dầu thế giới tăng trở lại; tiếp đến là nhóm đá quý kim loại quý và sản phẩm tăng cao thứ hai (+26,9%) do giá vàng bạc tăng cao đột biến, các nhóm còn lại có mức tăng khá.

Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 28.728,4 tỷ đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ. Chín tháng hầu hết các nhóm ngành đều tăng so với cùng kỳ năm trước, nhưng tốc độ tăng rất thấp, trong đó: Nhóm bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 4,5%; nhóm bán lẻ hàng may mặc, giày dép tăng 3,3%, nguyên nhân tăng do nhu cầu mua áo quần cho học sinh năm học mới cùng với hàng thu đông bắt đầu tăng; nhóm bán lẻ đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,5%; nhóm bán lẻ vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 4,4%, nguyên nhân tăng do nhu cầu mua sách vở, thiết bị học tập cho năm học mới tăng; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 5,8%,... Có 1 nhóm giảm là nhóm xăng, dầu các loại, giảm 11,8% so với cùng kỳ.

b. Lưu trú, ăn uống

Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 9 tháng chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19. Tháng 6/2020, dịch được kiểm soát tốt, trong thời gian dài Việt Nam không có ca mắc mới ở cộng đồng, tranh thủ điều kiện đó, tỉnh đã có nhiều giải pháp để kích cầu du lịch nội địa. Nhờ đó, trong tháng 6 và đến hết gần tháng 7, du lịch đã có sự phục hồi mạnh mẽ. Tuy nhiên, đến cuối tháng 7/2020, dịch bùng phát trở lại làm cho dịch vụ du lịch gần như dừng hẵn. Khách du lịch giảm đã tác động đến dịch vụ lưu trú và ăn uống. Đến tháng 9, học sinh, sinh viên bắt đầu tựu trường nên đã hết mùa du lịch.

Dịch vụ lưu trú

Doanh thu dịch vụ lưu trú quý III năm 2020 ước tính đạt 60,1 tỷ đồng, giảm 32,1% so với cùng kỳ, tăng 29,1% so với quý II; 9 tháng đạt 160,2 tỷ đồng, giảm 36,6% so với cùng kỳ.

Số lượt khách lưu trú quý III ước tính đạt 174.173 lượt khách, giảm 41,5% so với cùng kỳ; 9 tháng đạt 479.687 lượt khách, giảm 37,1% so với cùng kỳ. Số lượt khách quốc tế lưu trú 9 tháng đạt 34.008 lượt khách, giảm 70,4% so với cùng kỳ.

Ngày khách quý III ước tính đạt 256.068 ngày khách, giảm 35,6% so với cùng kỳ, 9 tháng đạt 587.803 ngày khách, giảm 40,0% so với cùng kỳ.

Dịch vụ ăn uống

Doanh thu dịch vụ ăn uống quý III ước tính đạt 847,1 tỷ đồng, giảm 16,8% so với cùng kỳ; 9 tháng đạt 2.427,2 tỷ đồng, giảm 20,8% so với cùng kỳ.

c. Dịch vụ lữ hành

Do khách du lịch sụt giảm khiến nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lữ hành phải ngưng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng nên lượt khách cũng như doanh thu lữ hành quý III và 9 tháng giảm mạnh so với cũng kỳ.

Ước tính quý III năm 2020 doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 45,4 tỷ đồng, giảm 57,3% so với cùng kỳ; 9 tháng doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 129,6 tỷ đồng, giảm 51,6% so với cùng kỳ.

Số lượt khách du lịch lữ hành quý III ước tính đạt 148.355 lượt khách, giảm 46,8% so với cùng kỳ; 9 tháng đạt 373.314 lượt khách, giảm 50,7% so với cùng kỳ. Trong đó, số lượt khách quốc tế lữ hành 9 tháng đạt 33.500 lượt khách, giảm 74,9% so với cùng kỳ.

d. Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải quý III và 9 tháng năm 2020 tăng nhẹ so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải quý III ước tính đạt 1.069,8 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ; 9 tháng đạt 3.029,3 tỷ đồng, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách 9 tháng đạt 503,9 tỷ đồng, tăng 2,8%; doanh thu vận tải hàng hóa 9 tháng đạt 2.196,2 tỷ đồng, tăng 2,9%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải 9 tháng đạt 329,2 tỷ đồng, tăng 2,0% so với cùng kỳ.

Tổng số hành khách vận chuyển quý III ước tính đạt 7,5 triệu hành khách, tăng 6,4% so với cùng kỳ; 9 tháng đạt 20,7 triệu hành khách, tăng 2,4% so với cùng kỳ. Tổng số hành khách luân chuyển quý III ước tính đạt 339,1 triệu hk.km, tăng 6,5% so với cùng kỳ; cộng dồn 9 tháng đạt 938,6 triệu hk.km, tăng 1,9% so với cùng kỳ.

Khối lượng vận chuyển hàng hóa quý III ước tính đạt 7,8 triệu tấn, tăng 11,8% so với cùng kỳ; cộng dồn 9 tháng đạt 20,4 triệu tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ. Tổng khối lượng hàng hoá luân chuyển quý III ước tính đạt 398,4 triệu tấn.km, tăng 11,4% so với cùng kỳ; cộng dồn 9 tháng đạt 1.038,8 triệu tấn.km, tăng 2,8% so với cùng kỳ.

e. Dịch vụ khác

Để đảm bảo phòng, chống dịch Covid-19, đồng thời với việc thực hiện mục tiêu kép, vừa sẵn sàng phòng, chống dịch, không được chủ quan trong nhận thức và hành động, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, ngày 01/9/2020 UBND tỉnh đã có Công văn số 1563/UBND-KGVX về việc tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới. Theo đó, UBND tỉnh đã cho phép các hoạt động dịch vụ trên địa bàn được hoạt động trở lại nhưng phải đảm bảo các biện pháp phòng, chống dịch. Do vậy hoạt động dịch vụ khác tháng 9 năm 2020 có mức tăng nhẹ so tháng trước.

Ước tính doanh thu hoạt động dịch vụ khác quý III đạt 411,2 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng quý năm trước. Tính chung 9 tháng 2020 doanh thu dịch vụ khác đạt 1.127,9 tỷ đồng, giảm 4% so với cùng kỳ.

Chín tháng năm 2020, doanh thu phần lớn các nhóm hàng dịch vụ đều giảm so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản giảm 4,0%; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 4,2%; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 3,7%; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 6,9%; nhóm dịch vụ khác giảm 2,9%, trong đó, dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 3,3%; hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân khác giảm 2,7% so với cùng kỳ.

II. XÃ HỘI

1. Giáo dục, đào tạo

a. Giáo dục

Để phòng chống dịch Covid-19, ngànhGiáo dục vàĐào tạo đã chủ động cho học sinh và sinh viên nghỉ học; triển khai các hình thức dạy học qua Internet và trên truyền hình đảm bảo nội dung chương trình và kiến thức cho học sinh, đặc biệt là học sinh cuối cấp; thực hiện điều chỉnh khung kế hoạch thời gian năm học 2019 - 2020 phù hợp với diễn biến tình hình dịch bệnh; rà soát, tinh giản nội dung dạy học. Tổ chức các hoạt động giảng dạy và học tập trở lại sau giai đoạn hết cách ly, giãn cách xã hội từ ngày 04/5/2020, đồng thời đề cao các biện pháp đảm bảo an toàn phòng, chống dịch.

Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2020 - 2021, toàn tỉnh chỉ tổ chức thi tuyển vào trường THPT chuyên Võ Nguyên Giáp; các trường THPT, THCS và THPT khác đều thực hiện theo phương thức xét tuyển.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020, Quảng Bình tổ chức 1 Hội đồng thi dành cho tất cả các thí sinh đăng ký dự thi tại tỉnh do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì. Toàn tỉnh tổ chức thi tại 30 điểm thi với 476 phòng thi, 23 phòng chờ thi và 30 phòng dự phòng. Các cơ sở giáo dục ít học sinh được ghép với cơ sở giáo dục lân cận để tổ chức một điểm thi. Thí sinh tự do, thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên được bố trí dự thi chung với thí sinh học chương trình giáo dục THPT là học sinh lớp 12 tại một số điểm thi thuộc địa bàn huyện, thị xã, thành phố nhằm giúp công tác tổ chức thi được thuận lợi, thí sinh không phải đi dự thi quá xa.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT tại Quảng Bình được tổ chức nghiêm túc, đúng quy chế. Tại Hội đồng thi Quảng Bình có 10.734 thí sinh đăng ký dự thi; trong đó có 4.392 thí sinh thi để xét tốt nghiệp và đăng ký tuyển sinh đại học, cao đẳng chiếm tỷ lệ 40,92%; 5.931 thí sinh thi chỉ để xét tốt nghiệp, chiếm tỷ lệ 55,25%; 411 thí sinh thi chỉ để đăng ký xét tuyển sinh đại học, cao đẳng chiếm tỷ lệ 3,83%.Qua 2 ngày thi chính thức, tại 30 điểm thi trong toàn tỉnh, công tác coi thi diễn ra nghiêm túc và đúng quy chế; an ninh trật tự trường thi luôn được bảo đảm, nhất là địa điểm bảo quản đề thi, bài thi được bảo vệ 24/24 giờ; toàn tỉnh không có thí sinh, cán bộ, giáo viên làm nhiệm vụ vi phạm quy chế thi; không có thí sinh và cán bộ coi thi nào có dấu hiệu bất thường về sức khỏe.

Sở Giáo dục và Đào tạo đã điều động 116 cán bộ, giáo viên làm nhiệm vụ chấm thi, hoàn thành và công bố kết quả cho thí sinh vào ngày 27/8/2020. Theo sơ bộ kết quả từ Sở Giáo dục và Đào tạo, toàn tỉnh có 77 bài thi đạt điểm 10, tăng cao so với kỳ thi năm ngoái; trong đó, môn Toán có 1 thí sinh đạt điểm 10, môn Hóa học có 2 thí sinh đạt điểm 10, môn Lịch sử có 5 thí sinh đạt điểm 10;mônĐịa lý có 4 thí sinh đạt điểm 10; đặc biệt, môn Giáo dục công dân, toàn tỉnh có 65 thí sinh đạt điểm 10.

Công tác chuẩn bị và khai giảng năm học 2020 - 2021

Để chuẩn bị cho năm học mới và tổ chức lễ khai giảng, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị, trường học trong toàn tỉnh triển khai một số hoạt động đầu năm học mới 2020 - 2021. Sở đã chỉ đạo các trường tiếp tục rà soát, sắp xếp và ổn định đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên bảo đảm yêu cầu, nhiệm vụ cho năm học mới, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 1; chủ động xây dựng, thực hiện kế hoạch tập trung để phân chia lớp học theo kế hoạch phát triển trường lớp và biên chế được giao; chú trọng quan tâm đến những học sinh tiểu học, trung học cơ sở, học sinh dân tộc thiểu số có nguy cơ bỏ học để vận động đến trường; tiếp tục tổ chức phát động quyên góp quần áo, sách vở, kinh phí cho học sinh vùng khó khăn; quan tâm giúp đỡ những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh là con các đối tượng chính sách, học sinh khuyết tật, tạo điều kiện để các em được hưởng đầy đủ chế độ chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước.

Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường bảo đảm cung ứng đủ sách giáo khoa cho học sinh, không để xảy ra tình trạng thiếu sách giáo khoa đầu năm học, đặc biệt là sách giáo khoa lớp 1; tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng và sửa chữa cơ sở vật chất trường học, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ triển khai Chương trình giáo dục phổ thông đối với lớp 1; thực hiện các khoản thu, chi trong nhà trường rõ ràng, minh bạch, đúng quy định, không để xảy ra tình trạng thu sai dưới mọi hình thức. Đặc biệt, các trường, cơ sở giáo dục phải thực hiện nghiêm túc việc phòng, chống dịch bệnh Covid-19 theo quy định, hướng dẫn của các cấp chính quyền, cơ quan y tế, bảo đảm sức khỏe của học sinh, an toàn trong việc đưa đón học sinh, nhất là các trường, cơ sở giáo dục sử dụng xe ô tô đưa đón.

Lễ khai giảng năm học mới 2020 - 2021 được tổ chức thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh vào lúc 7h30 ngày 5/9/2020, thời gian tổ chức không quá 60 phút. Riêng cấp học mầm non tổ chức khai giảng tại lớp học dưới hình thức “Ngày hội đến trường của bé” một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.Chương trình khai giảng được tổ chức trang trọng, an toàn, ngắn gọn, động viên được tinh thần dạy và học ngay từ đầu năm học theo phương án mà các nhà trường đã xây dựng, trong đó chú trọng đón học sinh đầu cấp.Lễ khai giảng không tập trung học sinh để tổ chức văn nghệ và các hoạt động tập thể ngoài trời; không thả bóngbay.

b. Đào tạo

Trong năm học mới 2020 - 2021, chỉ tiêu tuyển sinh Trường Đại học Quảng Bình là 1.205 chỉ tiêu hệ đại học, cao đẳng hệ chính quy; trong đó, hệ đại học 1.185 chỉ tiêu, cao đẳng sư phạm 20 chỉ tiêu. Trường Đại học Quảng Bình đã thông báo tuyển sinh và xét tuyển theo 3 phương thức gồm: Xét tuyển dựa vào kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020; xét tuyển dựa vào kết quả học tập lớp 12 THPT; xét tuyển dựa vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT hoặc dựa vào kết quả học tập lớp 12 THPT kết hợp với thi tuyển năng khiếu theo tổ hợp xét tuyển tương ứng (áp dụng đối với ngành Giáo dục thể chất và giáo dục Mầm non).

2. Y tế

a. Y tế cơ sở

Chín tháng năm 2020,ngành Y tế đã tập trung chỉ đạo tốt hoạt động của trạm Y tế và mạng lưới nhân viên y tế thôn bản. Sở Y tế đã tăng cường chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện có hiệu quả công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch và thực hiện các chương trình y tế cộng đồng. Tổ chức thanh tra, kiểm tra hành nghề y, dược tư nhân, đình chỉ các hoạt động vượt quá phạm vi kinh doanh của các phòng khám tư nhân. Thẩm định hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề y, dược và cấp giấy phép hoạt động cho các cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở kinh doanh thuốc, thẩm định cấp giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm. Đến nay, toàn tỉnh đã có 100% xã, phường, thị trấn có trạm ytế, trong đó đã có 139/151xã, phường, thị trấnđạt tiêu chí Quốc gia về y tế (đạt tỷ lệ 92,05%);100% trạm y tế xã, phường có bác sĩ làm việc, 100% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động và được trả phụ cấp ổn định; 100% trạm y tế đảm bảo đủ thuốc thiết yếu phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh.

b. Công tác phòng chống dịch bệnh

Tính từ đầu năm đến 31/8/2020 đã ghi nhận 2.417 ca mắc sốt xuất huyết tại tất cả 8/8 huyện, thị xã, thành phố trên toàn tỉnh từ vùng núi cao đến đồng bằng ven biển, các ổ dịch thường xảy ra rải rác, cao nhất là Quảng Trạch với 532 ca, Ba Đồn 388 ca. Các ca bệnh được chẩn đoán bằng test nhanh NS1 và ghi nhận lâm sàng từ tuyến bệnh viện, chưa ghi nhận ca tử vong do sốt xuất huyết. Sởi ghi nhận 10 ca, tay chân miệng 4 ca. Chưa ghi nhận ca bệnh Bạch hầu, các dịch bệnh khác không có biến động so với cùng kỳ năm 2019.

Đã chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh theo mùa, chú trọng phòng chống dịch cúm, tay chân miệng, sởi,sốtxuất huyết. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, giám sát các ca bệnh nghi ngờ đầu tiên để sớm phát hiện dịch bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời, sớm bao vây dập tắt dịch. Sở Y tế đã phối hợp với Bộ đội biên phòng và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, các ban, ngành đoàn thể liên quan thực hiện việc cách ly đối với người dân từ vùng có dịch trở về. Theo báo của cáo Sở Y tế tỉnh, tính đến 17h ngày 04/9/2020, số ca bệnh nghi ngờ đang điều trị cách ly tại các bệnh viện 02 người; hiện đang cách ly tập trung 295 người, trong đó cách ly tập trung tại Trường Quân sự tỉnh 42 người, Đồn Biên phòng Ra Mai 02 người, khu cách ly tập trung thị xã Ba Đồn 48 người, Trường THPT Chu Văn An 203 người. Tổng số hoàn thành cách ly tập trung 4.042 người; tổng số mẫu xét nghiệm 5.274 cho kết quả có 5.071 người (âm tính) và đang chờ kết quả 203 người. Tổng số theo dõi, cách ly tại nhà trên địa bàn tỉnh là 23.317 người, trong đó dưới 14 ngày 1.917 người.

c. Công tác phòng chống sốt rét

Lũy kế từ đầu nămđến hết tháng 7/2020, tổng số lượt người điều trị sốt rét là 378 lượt người, đã điều trị khỏi bệnh là 21 người,trong đócó1 bệnh nhân sốt rét ác tính và có 1 bệnh nhân tử vong do sốt rét;tiến hành xét nghiệm lam và test cho 25.919lượt người, tỷ lệ ký sinh trùng/lam và test là 0,06%.

d. Tình hình nhiễm HIV/AIDS

Tiếp tục thực hiện các hoạt động tư vấn, hướng dẫn các hành vi an toàn phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS nhằm hạn chế sự lây nhiễm từ các nhóm có nguy cơ cao ra cộng đồng, khai trương cơ sở điều trị cai nghiện bằng thuốc Methadone và khởi liều cho một số bệnh nhân tham gia điều trị. Luỹ tích đến 31/8/2020, toàn tỉnh có 1.475 trường hợp nhiễm HIV (trong đó có 424 người nội tỉnh); có 511 trường hợp chuyển sang AIDS (trong đó có 367 người nội tỉnh); tử vong 146 trường hợp (trong đó có 130 người nội tỉnh).

e. Tình hình ngộ độc thức ăn và thực phẩm

Tổ chức thanh kiểm tra liên ngành, tổ chức các lớp tập huấn kiến thứcan toàn thực phẩmcho các cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng; các lớp tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Chi cụcAn toàn vệsinh thực phẩmtỉnhđã phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật phát sóng Thông điệp tuyên truyền và đưa tin kịp thời các hoạt động thanh kiểm tra liên ngành. Chấn chỉnh công tác đảm bảo an toànvệ sinh thực phẩmphục vụ cho các lễ hội và Tết Trung thu.Từ đầu nămđến31/7/2020 không có vụ ngộ độc, ghi nhận 139 ca mắc nhỏ lẻ.

3.Văn hóa thông tin

Công tác thông tin tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị

Chín tháng năm 2020, các hoạt động thông tin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị được quan tâm đẩy mạnh. Nổi bật là Chương trình đếm ngược chào năm mới 2020 (Phong Nha Countdown Party);Chương trình nghệ thuật “Sáng mãi niềm tin với Đảng” chào mừng 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020); Lễ khánh thành Đền thờ Bác Hồ và các Anh hùng liệt sỹ tỉnh Quảng Bình; Lễ kỷ niệm 63 năm Ngày Bác Hồ về thăm Quảng Bình (16/6/1957-16/6/2020) và khánh thành Tượng đài “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Nhân dân Quảng Bình”

Ngay sau khi có chỉ đạo về phòng, chống dịch Covid-19, các cấp, các ngành đã triển khaicôngtác tuyên truyền cổ động trực quan về các biện pháp phòng, chống dịch, nhất là tại nơi công cộng và các cơ sở y tế, trường học, điểm sinh hoạt văn hóa. Trong thời gian dịch Covid-19diễn biến phức tạp, đặc biệt là giai đoạn thực hiện chủ trương về giãn cách xã hội, song song với công tác tuyên truyền bề nổi về phòng, chống dịch, Sở Văn hóavàThể thao đã phối hợp với các cấp, các ngành liên quan tăng cường công tác tuyên truyền cổ động trực quankỷ niệm 150 năm Ngày sinh V.I.Lênin(22/4/1870-22/4/2020); 45 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2020); 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2020),...

Sau thời điểm hết quy định giãn cách xã hội, công tác tuyên truyền kỷ niệm 63 năm Ngày Bác Hồ về thăm Quảng Bình (16/6/1957-16/6/2020) và khánh thành Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh với Nhân dân Quảng Bình; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng được thực hiện.Hệ thống panô tấm lớn, băng rôn, khẩu hiệu, cờ các loại cũng như hệ thống xe loa lưu động đã phát huy được hiệu quả, tạo được không khí tươi mới, phấn khởi sau thời gian bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Đầu tháng 8 năm 2020,để chủ động ứng phó diễn biến phức tạp của dịch bệnh, ngoài việc cập nhật diễn biến dịch và tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trên các phương tiện thông tin đại chúng; các cấp, các ngành đãđẩy mạnh công tác tuyên truyền về phòng, chống dịch Covid-19, thông tin kịp thời, minh bạch về tình hình dịch bệnh; tăng cường tuyên truyền các biện pháp phòng tránh dịch bệnh theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch Covid-19, Bộ Y tế và chính quyền địa phương.

Thiết thực chào mừng kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 02/9 (1945-2020) và chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII; Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Quảng Bình lần thứ V và Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X năm 2020,... các cấp, các ngành đã tổ chức các hoạt động cổ động trực quan, đã treo móc, thay mới trên 4.500 pano, băng rôn, đèn hoa các loại; trên 15.000 cờ các loại; 25 lượt tuyên truyền bằng xe loa lưu động; làm vệ sinh, phục vụ việc dâng hương, dâng hoa tại các điểm di tích lịch sử.

Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Tích cực chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở xây dựng tiêu chí số 6 và 16 trong bộ tiêu chí xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; thực hiện quy trình trang cấp trang thiết bị văn hóa thuộc dự án Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của nhân dân nông thôn mới cho các địa phương và yêu cầu các đơn vị, địa phương tăng cường công tác quản lý, sử dụng trang thiết bị văn hóa cơ sở cho các xã, thôn thuộc dự án; tổ chức khảo sát, làm việc với các ngành, đơn vị, địa phương liên quan để hướng dẫn, giúp đỡ xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch xây dựng đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020.

4.Hoạt động thể dục, thể thao

a. Thể thao quần chúng

Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng 9 tháng chủ yếu tập trung trong dịp Tết Nguyên đán, kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và từ tháng 5 đến tháng 7 (thời gian giữa 2 đợt phải thực hiện giãn cách xã hội). Từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 buộc phải lùi thời gian tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao tập trung đông người. Vì vậy, các hoạt động thể thao quần chúng tập trung đông người của tỉnh không được tổ chức. Đầu tháng 5/2020, giãn cách xã hội dần được nới lỏng,Sở Văn hóa và Thể thao đã tổ chức đón và tiễn cuộc đua Xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 32 năm 2020; tổ chức giải Bóng đá vô địch Nam tỉnh Quảng Bình lần thứ III, năm 2020; tổ chức thành công giải Vô địch Karate miền Trung - Tây nguyên lần thứ V năm 2020; tổ chức giải Bóng chuyền tỉnhQuảngBình; giải Bơi ngành Công an toàn quốc; thành phố Đồng Hới tổ chức giải Bóng chuyền nam truyền thống,...Từ đầu tháng 8 đến nay, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 buộc phải lùi thời gian tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao tập trung đông người, nêncác hoạt động Lễ hội và hoạt động văn hóa, thể thao tập trung đông người kể từ ngày 01/8/2020 đến nay buộc phải tạm dừng.

b. Thể thao thành tích cao

Chín tháng năm 2020, thể thao thành tích cao Quảng Bình đã tham gia thi đấu các giải như: Giải Cờ vua - Cờ tướng các nhóm tuổi miền Trung mở rộng lần thứ XIII năm 2020 đoạt 37 HC các loại (3 HCV, 13 HCB, 21 HCĐ), xếp thứ 3 toàn đoàn tham dự; giải Đua thuyền Rowing và Canoeing vô địch các CLB toàn quốc đoạt 6 huy chương các loại (môn Rowing 01 HCV, 01 HCB, 01 HCĐ; môn Canoeing 03 HCĐ); giải Điền kinh vô địch quốc gia Marathon và cự ly dài Báo Tiền Phong đoạt 02 HCB; giải Lặn vô địch trẻ đoạt 5 HCV, 01 HCB, 01 HCĐ; giải Bơi vô địch trẻ đoạt 02 HCV, 03 HCB, 10 HCĐ.

Các đội tuyển thể thao thành tích cao vẫn tích cực tham gia tập luyện theo kế hoạch. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, một số giải thể thao quốc gia bị hoãn hoặc lùi thời gian, nên số lượng huy chương đạt được trong 9 tháng năm 2020 thấp so với cùng kỳ năm trước.Lũy kế từ đầu năm đến nay, thể thao thành tích cao giành được 81 huy chương các loại (17huy chương vàng, 25huy chương bạcvà 39huy chương đồng).

5. Tình hình an toàn giao thông và cháy nổ

a. Antoàn giao thông

Theo báo cáo của Công an tỉnh, tháng 8 năm 2020 toàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông, giảm 10 vụ so với tháng 8 năm 2019, trong đó tai nạn giao thông đường bộ 8 vụ, giảm 10 vụ; tai nạn giao thông đường sắt 1 vụ, bằng cùng kỳ; tai nạn giao thông đường thủy không xảy ra. Số người chết do tai nạn giao thông 19 người, tăng 8 người so với tháng 8 năm 2019, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chết 18 người, tăng 8 người; tai nạn giao thông đường sắt chết 1 người, bằng cùng kỳ; đường thủy không có người chết, bằng cùng kỳ. Số người bị thương do tai nạn giao thông 26 người, tăng 11 người so với tháng 8 năm 2019, trong đó tai nạn giao thông đường bộ bị thương 26 người, tăng 11 người; đường sắt, đường thủy không có người bị thương do tai nạm giao thông, bằng tháng 8 năm 2019.

Lũy kế 8tháng năm2020, toàn tỉnh đã xảy ra 84 vụ tai nạn giao thông, giảm 53 vụ so với cùng kỳ năm 2019; trong đó, tai nạn giao thông đường bộ 82 vụ, giảm 51 vụ so với cùng kỳ; tai nạn giao thông đường sắt 2 vụ, giảm 1 vụ; tai nạn giao thông đường thủy không xảy ra, giảm 1 vụ so với cùng kỳ. Số người chết do tai nạn giao thông 56 người, giảm 12 người so cùng kỳ; trong đó, tai nạn giao thông đường bộ chết 55 người, giảm 10 người so cùng kỳ; tai nạn giao thông đường sắt chết 1 người, giảm 2 người; đường thủy không có người chết do tai nạn giao thông, bằng cùng kỳ. Số người bị thương do tai nạn giao thông 89 người, giảm 11 người so với cùng kỳ; trong đó, tai nạn giao thông đường bộ bị thương 88 người, giảm 11 người; tai nạn giao thôngđường sắt làm bị thương 1 người, tăng 1 người;đường thủy khôngxảy rado tai nạn, giảm 1 người so với cùng kỳ năm 2019.

b. Tình hình cháy nổ

Lũy kế 8 tháng năm2020, toàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ cháy với giá trị thiệt hại 5.861 triệu đồng. Trong đó, cháy nhà đơn lẻ 7 vụ với giá trị thiệt hại 930 triệu đồng;cháy loại hình khác 6 vụ với giá trị thiệt hại 213 triệu đồng; cháy chợ 1 vụ với giá trị thiệt hại 15 triệu đồng;cháy phương tiện vận tải 5 vụ với giá trị thiệt hại 4.703 triệu đồng;cháy rừng 9 vụ với diện tích rừng bị cháy 64,56 ha. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy nổ giảm 12 vụ,số người chết giảm 1 người, số người bị thương giảm 1 người, giá trị thiệt hại giảm 2.101 triệu đồng.

6.Một số vấn đề xã hội

Theo báo cáo của Sở Lao động,Thương binh và Xã hội, ước tính 9 tháng năm 2020, giải quyết việc làm cho khoảng 19.000 lao động, trong đó: tạo thêm việc làm do thiếu việc làm cho 8.400 lao động, tạo việc làm cho 9.500 lao động; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khoảng 800 người.Sở đã tham mưu UBND tỉnh cấp lại giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho 01 doanh nghiệp; thông báo các địa phương thông tin 07 doanh nghiệp đến tuyển lao động đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức 02 Hội nghị tuyên truyền các chủ trương, chính sách đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tổ chức 08 lớp tập huấn thu thập, lưu trữ, tổng hợp thông tin thị trường lao động; chấp thuận 07 đơn vị có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài; cấp 19 giấy phép cho người lao động; tham mưu UBND tỉnh ban hành các Quyết định phê duyệt danh sách 11.633 đối tượng người lao động, hộ kinh doanh gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 với tổng số tiền gần 12,51 tỷ đồng; trình UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tiếp nhận, vận chuyển công dân tỉnh Quảng Bình đang tạm trú tại thành phố Đà Nẵng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 có nguyện vọng chính đáng được trở về tỉnh Quảng Bình; đã tổ chức Đoàn đón đối tượng đợt 1 cho 204 người từ Đà Nẵng về cách ly tập trung tại Quảng Bình. Trong 9 tháng đầu năm, Trung tâm Dịch vụ việc làm đã tổ chức 27 phiên giao dịch việc làm; có 18.944 lượt người lao động được tư vấn; 2.873 lượt người đăng ký tìm việc làm; 1.022 người được tuyển dụng do Trung tâm giới thiệu; giải quyết trợ cấp thất nghiệp hàng tháng 3.058 người; hỗ trợ học nghề 50 người.

Tổ chức các hoạt động nhân dịp Kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7) như: hướng dẫn thăm và tặng 42.103 suất quà của Chủ tịnh nước, quà các cấp đối với người có công trên địa bàn tỉnh với tổng số tiền 7,706 tỷ đồng; tổ chức lễ viếng Đền thờ Bác Hồ và các Anh hùng liệt sỹ tỉnh; lễ viếng và thắp nến 3 tri ân tại các nghĩa trang liệt sỹ; tổ chức cho thân nhân liệt sỹ dự Lễ trao bằng Tổ quốc ghi công tại tỉnh Quảng Nam; vận động ủng hộ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa tỉnh được gần 1,2 tỷ đồng với gần 50 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tham gia. Tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 cho 18.426 người có công, thân nhân người có công với tổng số tiền 27,589 tỷ đồng và hỗ trợ bổ sung đợt 2 đối với thân nhân liệt sỹ (vợ hoặc chồng liệt sỹ tái giá) cho 664 người với số tiền 962 triệu đồng.

Tóm lại,từ nay đến cuối năm thời gian không còn nhiều, một số chỉ tiêu về kinh tế không thể hoàn thành kế hoạch. Do đó, không mục tiêu tăng trưởng kinh tế không nên đặt lên hàng đầu mà phải tập trung thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, khôi phục, phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho Nhân dân. Trong đó cần quan tâm thực hiện các nội dung chủ yếu sau đây:

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát, kịp thời chấnchỉnh những trường hợp vi phạm, chưa thực hiện nghiêm việc phòng chống dịch tại cơ quan, đơn vị, địa phương. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và toàn thế Nhân dân thực hiện nghiêm, đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch Covid-19,không lơ là,chủ quan trước diễn biến của tình hình dịch bệnh.

- Tiếp tục tập trungtheo dõi sát tình hình dịch tả lợn châu Phi, dịch cúm gia cầm để có các giải phápphòng, chống dịch hiệu quả. Tập trung chỉ đạo triển khai phương án vận hành, bảo đảm an toàn cho các đập, hồ chứa trong mùa mưa bão; theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở.

-Tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất công nghiệp; thực hiện các giải pháp kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phát triển.Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án công nghiệp lớn đang triển khai.Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tháo gỡ kịp thời các rào cản, khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt mục tiêu giải ngân hết số vốn đầu tư công được giao kế hoạch năm 2020. Tạo mọi điều kiện thuận lợi chocácnhà đầu tư triển khai các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

- Tăng cường quản lý thu, chi trong điều kiện khó khăn do dịch Covid-19, đảm bảo thu ngân sách theo kế hoạch. Quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên. Tập trung rà soát lại các nguồn thu trên địa bàn, khai thác các nguồn thu mới, các nguồn thu có khả năng thu vượt so với dự toán giao để bù đắp cho các khoản hụt thu do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

-Tiếp tụcthực hiện có hiệu quảChương trìnhgiảm nghèo bền vững và giải quyết việc làmgiai đoạn 2016 - 2020. Triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách tạo việc làm, giải quyết việc làm và đào tạo nghề, nhất là đối với lao động bị mất việc làm do ảnh hưởng của dịch Covid-19.Thực hiện tốt công tác giảm nghèo, công tác người có công và công tác an sinh xã hội.

- Triển khai có hiệu quả kế hoạchtấn công trấn áp tội phạm, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là trong thời điểm phòng, chống dịch hiện nay,đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.Nắm chắc tình hình liên quan đến an ninh chính trị nội bộ; an ninh tôn giáo, đối tượng khiếu kiện liên quan dịch Covid-19.Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm vi phạm về trật tự an toàn giao thông./.


Website Cục thống kê tỉnh Quảng Bình

  • Tổng số lượt xem: 619
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.