Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 4 tháng 10 năm 2022
English
a A
Ngày 29/07/2022-15:22:00 PM
Tình hình kinh tế xã hội tháng 7 năm 2022 tỉnh Bình Thuận

Trong tháng thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, vụ hè thu cơ bản gieo trồng gần kết thúc vụ. Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định; tình hình dịch bệnh được kiểm soát. Sản lượng khai thác thủy sản giảm do ngư trường ít thuận lợi và giá nhiên liệu tăng cao.

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

1. Trồng trọt

1.1. Cây hàng năm

Tiến độ sản xuất vụ hè thuước tính đến ngày 15/7/2022 toàn tỉnh đạt 61.111,4 ha, giảm 4,2% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó cây lúa đạt 39.621,8 ha, giảm 5,1%; nguyên nhân chủ yếu do huyện Đức Linh giảm mạnh diện tích gieo trồng vì gặp nhiều khó khăn trong sản xuất như chi phí đầu vào tăng cao, không có lợi nhuận nên người dân không xuống giống nhiều trong vụ. Diện tích cây bắp đạt 6.827,8 ha, giảm 4,9%. Cây đậu phụng đạt 2.531,7 ha, tăng 0,2%. Cây lang đạt 206,1 ha, giảm 14,8% so. Rau các loại đạt 4.009,1 ha, tăng 10,1% so. Đậu các loại đạt 3.206,4 ha, giảm 12,7%.

1.2. Cây lâu năm

Trong tháng có mưa rải rác là điều kiện thích hợp để trồng mới các loại cây lâu năm; tuy nhiên do chi phí phân bón tăng, giá đầu ra một số loại cây chủ lực thấp nên việc phát triển diện tích trồng mới các loại cây lâu năm trong tỉnh chưa nhiều; chủ yếu là chăm sóc, thu hoạch diện tích cây lâu năm hiện có. Tình hình sản xuất một số cây chủ lực của tỉnh như sau:

- Thanh long:Hiện đang là thời điểm thu hoạch chính, giá thanh long trong tháng giảm trong khi chi phí đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu tăng, dẫn đến việc người dân ngưng đầu tư, chuyển sang trồng các loại cây khác, bỏ hoang diện tích. Tính đến ngày 15/7/2021 toàn tỉnh có 11.029,1 ha được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGap (trong đó: Hàm Thuận Nam 6.654,6 ha, Hàm Thuận Bắc 3.423,4 ha, Bắc Bình 550,4 ha, Phan Thiết 43,2 ha, Hàm Tân 97,2 ha, La Gi 177,1 ha, Tuy Phong 83,4 ha).

- Cây điều:Đã kết thúc vụ thu hoạch; một số nơi đang tiến hành trồng mới. Cây điều chủ yếu phát triển diện tích ở một số huyện phía nam(Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh), các địa phương phía bắc(Tuy Phong, Bắc Bình)phát triển chậm do phần lớn diện tích đất cát kém màu mở, năng suất thấp, hiệu quả cây điều kém.

- Cao su:Đang vào vụ thu hoạch chính, giá bán tăng nhẹ nhưng vẫn đang ở mức thấp, thị trường xuất khẩu cao su chưa có chuyển biến tích cực, sản phẩm thu hoạch chủ yếu tiêu thụ trong nước, dự tính trong thời gian đến diện tích trồng mới trên địa bàn tỉnh sẽ còn phát triển nhưng không cao.

- Cây tiêu:Đã kết thúc vụ thu hoạch; hiện nay giá tiêu tăng trở lại nhưng chưa cao, trong khi chi phí sản xuất lớn, trên cây lại thường xuyên xuất hiện nhiều sâu bệnh không có thuốc đặc trị (như bệnh chết nhanh, chết chậm), không có lãi nhiều, rủi ro cao nên người trồng hạn chế đầu tư.

Các loại cây lâu năm còn lại đang được chăm sóc và phát triển bình thường, diện tích biến động không đáng kể.

1.3. Tình hình dịch bệnh:Dịch bệnh trên cây trồng cơ bản được kiểm soát, công tác dự báo và ngăn ngừa dịch bệnh được theo dõi, triển khai thường xuyên. Một số bệnh phổ biến như:

- Cây lúa:Bệnh đạo ôn lá diện tích nhiễm 919 ha, tỉ lệ bệnh 5-10%. Ốc bươu vàng nhiễm 700 ha. Sâu cuốn lá nhỏ 277 ha. Chuột phá hoại 200 ha.

- Cây thanh long:Bệnh đốm nâu diện tích nhiễm 4.228 ha. Bệnh nám vàng cành 1.399 ha. Bệnh thối rễ tóp cành 989 ha. Ốc sên nhiễm 740 ha, tỉ lệ hại 5-10%.

- Cây khoai mì:Bệnh khảm lá virus diện tích nhiễm 700 ha.

- Cây điều:Bệnh thán thư diện tích nhiễm 80 ha. Bọ xít muỗi nhiễm 42 ha.

1.4. Tình hình thiệt hại do thiên tai

Trong tháng mưa lớn kèm lốc xoáy cục bộ xảyratrên địa bàn huyện Tánh Linh làm gãy đỗ 30 ha cao su trong giai đoạn đang khai thác và 01 cây gỗ hương 30 năm tuổi. Trên địa bàn huyện Đức Linh mưa lớn kéo dài làm ngập 70 ha lúa 30 ngày tuổi; 6,7 ha bắp và 1,6 ha keo lá tràm; nước tràn 25 ha ao cá, cuốntrôi 2.260 con gà, 260 con vịt, 500 quả trứng vịt, 11 con chó và 24 con heo.

1.5. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất:

Duy trì các biện pháp nhằm tăng cường quản lý, khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn nước hiện có, quản lý đảm bảo an toàn các hệ thống công trình thủy lợi trước mùa mưa bão. Tính đến ngày 05/7/2022 diện tích cấp nước sản xuất (lúa, thanh long) vụ hè thu được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện là 49.759/52.935 ha, đạt 94% kế hoạch. Trong đó cây lúa, cây màu 28.669/31.845 ha, đạt 90% kế hoạch; cây thanh long, cây ăn quả21.090/21.090 ha, đạt 100% kế hoạch.

2. Chăn nuôi (thời điểm 15/7/2022)

Trong tháng chăn nuôi phát triển ổn định; đàn trâu giảm nhẹ; đàn bò phát triển ổn định; đàn lợn phát triển khá, nhiều doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi mở rộng tái đàn; chăn nuôi gia cầm phát triển thuận lợi,tình hình dịch bệnh trên đàn gia cầm cơ bản được kiểm soát tốt, số doanh nghiệp, trang trại nuôi gà công nghiệp thành lập mới có khuynh hướng tăng.

- Chăn nuôi trâu, bò:Toàn tỉnh có 8.510 con trâu, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm 2021;chăn nuôi bò phát triển khá, tạo thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân, toàn tỉnh có 174.300 con, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2021.

- Chăn nuôi lợn:Toàn tỉnh có 323.100 con lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ), tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2021. Đàn lợn có khuynh hướng giảm dần ở nông hộ và tăng dần ở doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi quy mô lớn có cơ sở vật chất, kỹ thuật cao, kiểm soát được bệnh dịch từ khâu chăn nuôi đến khi tiêu thụ, sản xuất sản phẩm từ thịt được thực hiện theo dây chuyền khép kín, chủ động được nguồn cung.

- Chăn nuôi gia cầm:Ước đàn gia cầm có 5.876 ngàn con, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó, đàn gà 4.680 ngàn con, tăng 51%; đàn gà tăng cao do Công ty TNHH LinkFarm mới đầu tư thêm nuôi gà công nghiệp, công suất 880 ngàn con; đàn vịt giảm nhẹ do chi phí thức ăn tăng cao nên nhiều hộ giảm đàn; đàn ngan giảm do chăn nuôi không hiệu quả, thị trường tiêu thụthấp.

* Công tác tiêm phòng, kiểm dịch động vật

Trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xuất hiện các ổ dịch bệnh nguy hiểm như: Cúm gia cầm; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò; lở mồm long móng ở gia súc; tai xanh trên heo. Một số bệnh truyền nhiễm khác có xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm nhưng ở mức độ lẻ tẻ không lây lan thành dịch.

- Công tác tiêm phòng vắc xin:Trong tháng đã tổ chức tiêm phòng 1.462,6 ngàn liều (trong đó; trâu, bò 1,8 ngàn liều; lợn 31,3 ngàn liều; gia cầm 1.427,4 ngàn liều). Lũy kế 7 tháng năm 2022 đã tiêm phòng 12.321,6 ngàn liều (trong đó; trâu, bò 138,7 ngàn liều; lợn 296 ngàn liều; đàn gia cầm 11.873,7 ngàn liều).

- Kiểm dịch động vật:Trong tháng đã kiểm dịch 105 ngàn con lợn; 60 con trâu bò; 310,3 ngàn con gia cầm; 339,1 tấn thịt các loại; 4,5 triệu quả trứng gia cầm; 67,2 tấn thịt sơ chế. Lũy kế 7 tháng năm 2022 đã kiểm dịch 854,7 ngàn con lợn; 2,1 ngàn con trâu bò; 2.627,9 ngàn con gia cầm; 2.154,7 ngàn tấn thịt các loại; 24,1 triệu quả trứng gia cầm; 361,5 tấn thịt sơ chế.

- Kiểm soát giết mổ:Trong tháng kiểm soát giết mổ 311 con trâu bò; 4,3 ngàn con lợn; 1,1 ngàn con gia cầm; 202 con dê. Lũy kế 7 tháng năm 2022 kiểm soát 1,6 ngàn con trâu bò; 26,8 ngàn con lợn; 14,6 ngàn con gia cầm; 01 ngàn con dê.

3. Lâm nghiệp

- Công tác trồng rừng:Trong tháng đã trồng được 597 ha rừng; lũy kế7 tháng năm 2022 diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 1.117 ha, tăng 4,96 lần so với cùng kỳ năm 2021. Đã tiến hành chăm sóc rừng trồng trên diện tích 4.457/4.800 ha, đạt 92,85 % kế hoạch năm. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ thực hiện chuyển tiếp và thực hiện mới là 133.401,53/132.700 ha, đạt 100,53% kế hoạch năm.

- Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Tính đến ngày 08/7/2022 trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 05 trường hợp cháy thực bì dưới tán rừng (lá, cỏ khô...) với diện tích 4,8 ha, đã kịp thời huy động 58 lượt người tham gia chữa cháy nên không ảnh hưởng tài nguyên rừng.

- Công tác quản lý, bảo vệ rừng:Các đơn vị chức năng phối hợp cùng với các đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương tăng cường các hoạt động chống phá rừng, lấn chiếm đất rừng; kiểm soát số vụ vi phạm luật lâm nghiệp.Trong tháng lực lượng quản lý, bảo vệ rừng đã phát hiện, xác lập hồ sơ xử lý 21 vụ vi phạm luật lâm nghiệp: Phá rừng trái pháp luật 05 vụ; khai thác rừng trái pháp luật 09 vụ; vận chuyển lâm sản trái pháp luật 04 vụ; tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật 03 vụ. Đã xử phạt hành chính 04 vụ; lâm sản tịch thu 17,4 m3 gỗ các loại; giá trị lâm sản ngoài gỗ 2,9 triệu đồng.

4. Thuỷ sản

-Nuôi trồng thủy sản:Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối thuận lợi. Các mô hình chăn nuôi công nghệ cao đang được khuyến khích mở rộng như mô hình nuôi cá bóp trên biển bằng lồng bè HDPE (quy mô 512 m3tại huyện Phú Quý).Diện tích nuôi trồng trong tháng ước đạt 154,3 ha, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 7 tháng năm 2022 đạt 1.566,1 ha, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó diện tích nuôi cá đạt 1.167 ha, tăng 3,1%; diện tích nuôi tôm đạt 389,7 ha, tăng 4,3%).Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 787 tấn, tăng 1% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 7 tháng năm 2022 ước đạt 6.501,3 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó cá các loại ước đạt 2.501 tấn, tăng 2%; tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.974,8 tấn, tăng1,8%).

-Khai thácthủy sản:Trong tháng ngư trường ít thuận lợi cho hoạt động khai thác biển; giánhiênliệu xăng dầu vẫn ở mức cao; một số tàu công suất lớn vẫn chưa đi vào khai thác. Ngư trường hoạt động chủ yếu tại vùng lộng và ven bờ trong tỉnh, khu vực đảo Côn Sơn, Trường Sa và nhà giàn DK1. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 22.987 tấn, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó khai thác biển ước đạt 22.926 tấn, giảm 1,3%). Lũy kế 7 tháng năm 2022 sản lượng khai thác ước đạt 129.438,6 tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó khai thác biển ước đạt 129.144,4 tấn, giảm 0,3%).

- Sản xuất giống thuỷ sản:Các doanh nghiệp tôm giống trên địa bàn tỉnh trong những năm qua không ngừng đầu tư trang thiết bị hiện đại, áp dụng khoa học kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất để tiếp tục khẳng định thương hiệu trên thị trường. Sản xuất tôm giống tập trung chủ yếu ở huyện Tuy Phong, Phan Thiết; công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng đạt khá, ước 2,4 tỷ con, tăng 5,3 % so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 7 tháng năm 2022 ước đạt 14,5 tỷ con, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2021.

- Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản:Trong tháng không có tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài; tiếp tục triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác vùng biển xa. Phối hợp với các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thuỷ sản. Về vi phạm nguồn lợi thủy sản trong tháng đã phát hiện và xử phạt 16 trường hợp vi phạm.

II. Công nghiệp; đăng ký kinh doanh; đăng ký đầu tư

1. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệptoàn ngành tháng 7 tăng 16,94% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,55%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11,65%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,84%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,62%.

Lũy kế 7 tháng chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 1,67% so với cùng năm 2021; trong đó, ngành khai khoán tăng cao 24,28%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,78%; ngành cung cấp nước hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,79%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) tháng 7 ước đạt 3.364,17 tỷ đồng, tăng 8,27% so với tháng trước và tăng 15,22% so cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 ước đạt 22.372,44 tỷ đồng, đạt 57,81% kế hoạch năm, tăng6,09% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó: Công nghiệp khai khoáng 1.347,80 tỷ đồng, tăng38,30%; công nghiệp chế biến chế tạo 11.125,39 tỷ đồng, tăng 13,38%; sản xuất và phân phối điện đạt 9.738,82 tỷ đồng,giảm 4,02%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải đạt 160,41 tỷ đồng, tăng3,42%.

Các sản phẩm sản xuất 7 tháng tăng so với cùng kỳ gồm: Cát sỏi các loại tăng 5,24%; đá xây dựng tăng 39,98%; gạch các loại tăng 12,55%; thủy sản khô tăng 31,57%; thủy sản đông lạnh tăng 31,14%; nước mắm tăng 4,36%; hạt điều nhân tăng 26,56%; quần áo may sẵn tăng 32,63%; sơ chế mũ cao su tăng 20,85%; đồ gỗ và các sản phẩm gỗ tăng 1,50%; thức ăn gia súc tăng 16,39%; giày, dép các loại tăng 9,78%; nước khoáng (không tính nước khoáng tinh khiết) tăng 5,23%; nước máy sản xuất tăng 3,89%. Sản phẩm giảm gồm: điện sản xuất giảm 7,08%; Muối hạt giảm 2,98%.

* Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)

Trong tháng, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN khá ổn định; một số doanh nghiệp về thủy sản, gỗ, da giày tăng công suất, có nhu cầu tuyển thêm lao động để sản xuất….Doanh thu của các doanh nghiệp đến hết tháng 6/2022 ước đạt 3.650 tỷ đồng, tăng 45,4% so với cùng kỳ, đạt 54% kế hoạch; xuất khẩu ước đạt 105 triệu USD, tăng 47% so với cùng kỳ, đạt 54,4% kế hoạch; nộp ngân sách ước đạt 55 tỷ đồng, tăng 32,5%, đạt 50% kế hoạch năm.

Công tác chuẩn bị đầu tư ở một số KCN tiếp tục được đẩy mạnh; tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN được quan tâm triển khai thực hiện; nhiều dự án thứ cấp hoàn thành thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng và đi vào hoạt động.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện tháng 7 ước đạt 477,1 tỷ đồng (đạt 9,8% so với kế hoạch), tăng 3% so với tháng trước và tăng 3,4% so với tháng cùng kỳ năm 2021; Luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.101,7 tỷ đồng (đạt 43,3% so với kế hoạch), tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2021.Trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 1.779,8 tỷ đồng, tăng 17,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 286 tỷ đồng, giảm 3,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 35,9 tỷ đồng, tăng 1,1%.

3. Đăng ký kinh doanh

Tháng 7 (từ ngày 15/6-14/7/2022), có 138 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 63 đơn vị trực thuộc), tăng gấp 2 lần so với năm 2021; tổng vốn đăng ký mới 643,48 tỷ đồng, giảm 25,57%; giải thể 25 doanh nghiệp (trong đó có 15 đơn vị trực thuộc), giảm 16,67% so với cùng kỳ; tạm ngừng hoạt động 25 doanh nghiệp (trong đó có 10 đơn vị trực thuộc), giảm 13,79%; chuyển đổi loại hình 6 doanh nghiệp bằng với cùng kỳ; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 20 doanh nghiệp (trong đó có 04 đơn vị trực thuộc), giảm 13,04%. Đã thông báo 50 trường hợp doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Lũy kế 7 thángđầu năm(tính đến ngày 14/7/2022), có 843 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 349 đơn vị trực thuộc), tăng 29,69% so với cùng kỳ năm 2021; vốn đăng ký 5.252,12 tỷ đồng, giảm 17,70%; có 198 doanh nghiệp hoạt động trở lại (trong đó có 44 đơn vị trực thuộc) tăng 16,47%; tạm ngừng hoạt động 312 doanh nghiệp (trong đó có 63 đơn vị trực thuộc), tăng 43,12%; số doanh nghiệp đăng ký thay đổi 832 doanhnghiệp (trong đó có 206 đơn vị trực thuộc), tăng 8,76%; chuyển đổi loại hình 59 doanh nghiệp, tăng 28,26% so với cùng kỳ năm 2021. Số doanh nghiệp đã giải thể 192 doanh nghiệp (trong đó có 125 đơn vị trực thuộc), tăng 27,15%. Thông báo cảnh báo 166 trường hợp doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, gỡ cảnh báo 11 trường hợp.

4. Đăng ký đầu tư

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh có 02 dự án được cấp quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng vốn đăng ký 6,4 tỷ đồng, diện tích 7,8 ha. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 có 12 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với diện tích 96,5 ha và nguồn vốn 549,4 tỷ đồng. Lũy kế từ trước đến nay có 1.603 dự án được cấp phép đầu tư, với tổng diện tích đất 50.066 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 331.843 tỷ đồng.

Trong tháng không có dự án nào khởi công, thu hồi 01 dự án. Lũy kế 7 tháng đầu năm có 02 dự án khởi công và 07 dự án thu hồi. Công tác xúc tiến đầu tư tiếp tục được thực hiện, công tác hỗ trợ doanh nghiệp được quan tâm và chú trọng.

III. Thương mại; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải; bưu chính viễn thông

1. Thương mại, giá cả

Tình hình thương mại trong tháng tương đối ổn định; thị trường hàng hoá luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân, không xảy ra hiện tượng khan hiếm hàng hoá, giá cả ổn định; sức mua người dân tăng so với tháng trước; hàng hoá lưu thông thuận lợi, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống của người dân và doanh nghiệp. Trong tháng giá xăng dầu giảm, giúp cho các đơn vị kinh doanh giảm bớt khó khăn, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra tại địa phương việc kích cầu tiêu dùng được tăng cường mạnh mẽ; các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy, siêu thị tiện ích tiếp tục có những chương trình khuyến mãi, giảm giá, bán hàng trả góp lãi suất 0 đồng và nhiều chương trình chăm sóc khách hàng được kèm theo sản phẩm bán ra.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 6.062,5 tỷ đồng, tăng 2,19% so với tháng trước và tăng 33,37% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 4.171,3 tỷ đồng, tăng 1,65% so với tháng trước và tăng 15,59% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó nhóm lương thực, thực phẩm dự ước đạt 2.051,6 tỷ đồng, tăng 1,72% so với tháng trước và tăng 14,05% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 263,5 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 14,27% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng hoá khác dự ước 205,7 tỷ đồng, tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 7 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 39.855,6 tỷ đồng, tăng 17,17% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt28.084,5 tỷ đồng, tăng 14,33%.

* Công tác quản lý thị trường

Lực lượng Quản lý thị trường đã tăng cường công tác quản lý địa bàn, kiểm tra định kỳ theo kế hoạch, kiểm tra đột xuất trọng điểm các cơ sở kinh doanh hàng hoá nhằm kịp thời phát hiện hàng hoá nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng giả... Trong tháng 6/2022 đã kiểm tra 102 vụ, phát hiện và xử lý 33 vụ vi phạm (trong đó 01 vụ vi phạm hàng cấm; 21 vụ hàng nhập lậu và 11 vụ vi phạm trong kinh doanh); xử phạt và thu nộp ngân sách Nhà nước 907,7 triệu đồng. Luỹ kế 6 tháng năm 2022 đã kiểm tra 404 vụ, phát hiện và xử lý 160 vụ vi phạm (trong đó 03 vụ hàng cấm; 62 vụ hàng nhập lậu; 01 vụ vi phạm về đầu cơ, găm hàng và sai phạm trong lĩnh vực giá; 27 vụ vi phạm trong kinh doanh phẩm và 67 vụ vi phạm khác); xử phạt và thu nộp ngân sách Nhà nước 2.549,5 triệu đồng.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2022 tăng 0,06% so với tháng trước; tăng 3,15% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,51% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân bảy tháng đầu năm 2022 tăng 3,64% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 9 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,73%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,47%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,39%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,28%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,17%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,02%; Thuốc và dịch vụ y tế 0,02%; Giáo dục tăng 0,01%. Nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 3,41%. Nhóm hàng ổn định: Bưu chính viễn thông 100%.

2. Hoạt động du lịch

Trong tháng hoạt động du lịch diễn ra rất sôi động; tiếp tục trên đà tăng trưởng,phục hồi rất khả quan so với củng kỳ năm trước. Hầu hết các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh du khách đến tham quan nghỉ dưỡng tăng mạnh; đảo Phú Quý đang là điểm đến được khá nhiều du khách quan tâm. Bên cạnh việc xây dựng các chương trình kích cầu, đẩy mạnh thu hút du khách nội địa, chuẩn bị đón mùa cao điểm du lịch hè năm nay, các doanh nghiệp du lịch tại Bình Thuận còn tăng cường kết nối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế tái khởi động các tour đã có, đồng thời mở thêm một số đường tour mới thu hút du khách quốc tế trở lại. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống luôn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bán đúng giá niêm yết, nghiêm ngặt, tuân thủ những quy định của các cơ quan chức năng với mục tiêu cao nhất vì sức khoẻ người dân và du khách. Hoạt động du lịch lữ hành đang được phục hồi, các đơn vị tổ chức thường xuyên các tour đưa đoàn đi tham quan trong và ngoài tỉnh. Các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ khác có sự tăng trưởng khá. Đáng chú ý trong tháng công viên giải trí Circus Land - NovaWorld Phan Thiết được đưa vào hoạt động với các trò chơi cao cấp phục vụ cho du khách.

Khách du lịch trong tháng ước đạt 515,8 ngàn lượt khách, tăng 4,12% so tháng trước và tăng 23,9 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 926,5 ngàn ngày khách, tăng 4,42% so với tháng trước và tăng 19,9 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 7 tháng năm 2022 lượt khách du lịch ước đạt 2.909,3 ngàn lượt khách, tăng 67,3% so với cùng kỳ năm 2021, ngày khách du lịch ước đạt 5.082,4 ngàn ngày khách, tăng 68,69% so với cùng kỳ năm 2021.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 922,3 tỷ đồng, tăng 4,15% so với tháng trước và tăng 12,6 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 7 tháng năm 2022 ước đạt 5.417,2 tỷ đồng, tăng 38,58% so với cùng kỳ năm 2021.

*Tình hình khách quốc tế: Khách quốc tế đến Bình Thuận dần được phục hồi trở lại, tiếp tục tăng so với tháng trước tuy nhiên vẫn còn thấp so với những năm chưa xảy ra dịch bệnh Covid-19. Lượng khách quốc tế đến du lịch có tỷ lệ cao như: Hàn Quốc, Anh và Mỹ. Lượt khách quốc tế trong tháng dự ước đạt 5,6 ngàn lượt khách, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 10,9 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 22,2 ngàn ngày khách, tăng 4,68% so với tháng trước và tăng 10,5 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 7 tháng năm 2022 lượt khách quốc tế ước đạt 30,3 ngàn lượt khách, tăng 49,32% so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 117,7 ngàn ngày khách, tăng 52,77 % so với cùng kỳ năm 2021.

3. Xuất nhập khẩu

- Hoạt động xuất khẩu trên địa bàn tỉnh 7 tháng đầu năm 2022 tăng trưởng khá cao; đặc biệt nhóm hàng thủy sản tăng cao do nhu cầu tiêu thụ của thị trường nước ngoài tăng; bên cạnh đó thì nhóm hàng nông sản lại giảm so với cùng kỳ năm trước, mặt hàng cao su giảm sâu do không xuất khẩu được (chủ yếu tiêu thụ nội địa). Kim ngạch xuất khẩu trong tháng ước đạt 74,64 triệu USD, tăng 0,98% so với tháng trước và tăng 39,19% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó nhóm hàng thủy sản ước đạt 26,6 triệu USD, tăng 3,85% so với tháng trước và tăng 49,54% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng nông sản ước đạt 1,13 triệu USD, giảm 2,04% so với tháng trước và giảm 9,45% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng hóa khác ước đạt 46,91 triệu USD, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 35,63% so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 7 tháng năm 2022 ước đạt 456,16 triệu USD, tăng 32,82% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó nhóm hàng thủy sản đạt 151,22 triệu USD, tăng 61,2%; nhóm hàng nông sản đạt 8,77 triệu USD, giảm 22,02%; nhóm hàng hóa khác đạt 296,17 triệu USD, tăng 24,23%.

+ Xuất khẩu trực tiếp lũy kế 7 tháng năm 2022 ước đạt 453,53 triệu USD, tăng 34,23% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó xuất sang thị trường Châu Á ước đạt 278,67 triệu USD, tăng 30,84%(xuất đi các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Campuchia); xuất sang thị trường Châu Âu đạt 48,71 triệu USD, tăng 19,71%(xuất đi các nước như Anh, Italia, Bỉ, Đức, Hà Lan);xuất sang thị trường Châu Mỹ đạt 121,89 triệu USD, tăng 50,1%(xuất đi các nước như Mỹ, Canada, Belizo).

Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu như tôm thẻ chân trắng xuất đi Mỹ, Nhật, Đức, Anh;mực tươi đông lạnh xuất đi Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ; thủy sản khác xuất đi Nhật Bản, Côlômbia, Mỹ, Đan Mạch; các loại quặng xuất đi Trung Quốc;sản phẩm may mặc xuất đi Nhật Bản;giày dép các loại xuất đi Mỹ, Hà Lan, Canada, Italia.

+ Ủy thác xuất khẩu lũy kế 7 tháng năm 2022 ước đạt 2,63 triệu USD, giảm 52,77% so với cùng kỳ năm 2021.

- Nhập khẩu trong tháng ước đạt 82,34 triệu USD, giảm 7,56% so với tháng trước và giảm 24,1% so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 7 tháng năm 2022 ước đạt 706,95 triệu USD, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm 2021. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu để sản xuất như hàng thủy sản; nguyên liệu dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ, giấy các loại; mặt hàng thức ăn gia súc được nhập khẩu để phục vụ cho hoạt động mua bán; nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng khá lớn, chiếm 67,86% trong kim ngạch nhập khẩu.

4. Hoạt động vận tải

Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ và đường biển có chuyển biến tốt, hoạt động thường xuyên, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân.Giá xăng, dầu luôn ở mức cao đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các đơn vị hoạt động vận tải.

- Vận tải hành khách:

+ Ước tháng 7 vận chuyển 1.039,07 nghìn hành khách, tăng 7,51% so với tháng trước và tăng gấp 6,15 lần so với cùng kỳ năm 2021; luân chuyển 61,18 triệu hk.km, tăng 5,07% so với tháng trước và tăng gấp 9,87 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 vận chuyển 9.705,53 nghìn hành khách, tăng 36,37% so với cùng kỳ năm 2021 và luân chuyển 530,09 triệu hk.km, tăng 58,59% so cùng kỳ năm 2021.

+ Xét theo lĩnh vực, tháng 7 vận chuyển hành khách đường bộ đạt 990,52 nghìn hành khách, tăng 6,83% so với tháng trước và tăng gấp 5,90 lần so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 9.491,71 nghìn hành khách, tăng 34,27% so với năm cùng kỳ năm 2021. Vận chuyển hàng hoá đường sắt đạt 32,45 nghìn hành khách, tăng 47,48% so với tháng trước; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 104,25 nghìn hành khách. Vận chuyển hành khách đường thủy đạt 16,10 nghìn hành khách, giảm 6,83% so với tháng trước và tăng 14,85lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 109,57 nghìn hành khách, tăng 2,28 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hành khách đường bộ đạt 43 triệu hk.km, tăng 4,54% so với tháng trước và tăng gấp 4,64 lần so với cùng kỳ; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 464,27 triệu hk.km, tăng 41,10% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hành khách đường sắt đạt 16.670,45 nghìn hk.km, tăng 8,10% so với tháng trước; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 55.563,06 nghìn hành khách.km. Luân chuyển hành khách đường thủy đạt 1,50 triệu hk.km, giảm 9,75% so với tháng trước và tăng gấp 12,66 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 10,25 triệu hk.km, tăng 96,98% so với cùng kỳ năm 2021.

- Vận tải hàng hoá:

+ Ước tháng 7 vận chuyển hàng hoá đạt 456 nghìn tấn, tăng 6,03% so với tháng trước và tăng gấp 3,96 lần so với cùng kỳ năm 2021; luân chuyển hàng hoá đạt 37,14 triệu tấn.km, tăng 23,70% so với tháng trước và gấp 34,72 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 7 tháng đầu năm đã vận chuyển 4.535,18 nghìn tấn hàng hoá, tăng 15,10% so với cùng kỳ năm 2021 và luân chuyển hàng hoá đạt 317,62 triệu tấn.km, tăng 51,52% so với cùng kỳ năm 2021.

+ Xét theo lĩnh vực, tháng 7 vận chuyển hàng hoá đường bộ đạt 446,65 nghìn tấn, tăng 5,16% so với tháng trước và tăng gấp 3,89 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 7 tháng đạt 4.488,14 nghìn tấn, tăng 14,01% so với cùng kỳ năm 2021. Vận chuyển hàng hoá đường sắt đạt 8,80 nghìn tấn, tăng 87,83% so với tháng trước; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 42,79 nghìn tấn. Vận chuyển hàng hoá đường thủy đạt 0,55 nghìn tấn, giảm 18,89% so với tháng trước, tăng 33,49% so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 4,24 nghìn tấn, tăng 17,25% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hàng hoá đường bộ đạt 27,99 triệu tấn.km, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng gấp 3,58 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 279,87 triệu tấn.km, tăng 33,77% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hàng hoá đường sắt đạt 9.087,60 nghìn tấn.km, tăng 3,33 lần so với tháng trước; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 37.288,95 nghìn tấn.km. Luân chuyển hàng hoá đường thủy đạt 59,95 nghìn tấn.km, giảm 18,92% so với tháng trước, tăng 24,95% so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đạt 458,18 nghìn tấn.km, tăng 10,37% so với cùng kỳ năm 2021.

Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước tháng 7 đạt 191,89 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và tăng gấp 4,94 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1.288,49 tỷ đồng, tăng 54,53% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 542,56 tỷ đồng, tăng 87,49%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 675,16 tỷ đồng, tăng 28,80%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 67,97 tỷ đồng, tăng 3,36 lần; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 2,78 tỷ đồng.

5. Bưu chính, viễn thông

Hạ tầng bưu chính, mạng viễn thông tiếp tục được phát triển mở rộng; đảm bảo an toàn mạng lưới thông tin, thông tin liên lạc thông suốt phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, người dân và các tổ chức, doanh nghiệp. Mạng lưới phục vụ bưu chính, viễn thông với 1.265 cơ sở kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông, đạt bán kính phục vụ bình quân là 1,4 km/cơ sở. Tổng số thuê bao điện thoại ước đạt 1.863.950 thuê bao, mật độ 148,5 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao Internet các loại 162.500 thuê bao; tỷ lệ người sử dụng Internet (quy đổi) đạt 68%.

IV. Thu, chi ngân sách; hoạt động tín dụng

1. Thu, chi ngân sách

Ước thu ngân sách tháng 7 năm 2022 đạt 400 tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 ước đạt 6.990,34 tỷ đồng, đạt 82,36% dự toán năm và giảm 11,33% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó thu nội địa đạt 6.144,21 tỷ đồng, đạt 85,48% dự toán năm, giảm 7,88%. Trong tổng thu ngân sách gồm: Thu thuế, phí và thu khác 5.207,61 tỷ đồng, đạt 88,14% dự toán năm, giảm 4,33%; thu tiền nhà, đất 936,61 tỷ đồng, đạt 73,17% dự toán năm, giảm 23,64% (trong đó thu tiền sử dụng đất 768,06 tỷ đồng, đạt 69,82% dự toán năm, giảm 28,62% so với cùng kỳ năm 2021); thu thuế xuất nhập khẩu 846,13 tỷ đồng, đạt 65,09% dự toán toán năm và giảm 30,28%.

Tổng chi trong tháng7ước thực hiện 450 tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 ước đạt 8.972,53 tỷ đồng; Chi ngân sách nhà nước ước đạt 6.753,80 tỷ đồng, trong đó đầu tư phát triển 3.264,15 tỷ đồng, chi thường xuyên 3.488,99 tỷ đồng.

2. Hoạt động tín dụng

Đến 30/6/2022, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn đạt 75.108 tỷ đồng, tăng 1,23% so với đầu năm (cùng kỳ năm trước tăng 3,92%). Trong đó dư nợ cho vay bằng VND đạt 73.975 tỷ đồng, chiếm 98,5% tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 44.062 tỷ đồng, chiếm 58,7% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay phân theo các mức lãi suất: lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng 6%/năm chiếm khoảng 4% tổng dư nợ, lãi suất từ 6-7%/năm chiếm khoảng 6,8% tổng dư nợ, lãi suất từ 7-9%/năm chiếm 32,3% tổng dư nợ; lãi suất từ 9-12%/năm chiếm khoảng 52,1% tổng dư nợ, lãi suất trên 12%/năm chiếm khoảng 4,8% tổng dư nợ. Ước đến 31/7/2022, tổng dư nợ đạt 76.049 tỷ đồng, tăng 2,5% so với đầu năm.

Lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng đến dưới 6 tháng là 2,9-4%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng là 3,7-6,9%/năm; kỳ hạn từ trên 12 tháng trở lên là 4,4-7%/năm; lãi suất cho vay các khoản vay mới ở các lĩnh vực ưu tiên ngắn hạn 4,5%/năm (riêng Quỹ tín dụng nhân dân là 5,5%/năm), các lĩnh vực khác từ 7-9%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến từ 9-11,5%/năm.

Vốn huy động ước đến 30/6/2022 đạt 55.615 tỷ đồng, tăng 13,63% so với cuối năm 2021 (cùng kỳ năm trước tăng 8,58%). Ước đến 31/7/2022, nguồn vốn huy động đạt 56.286 tỷ đồng, tăng 15% so với đầu năm. Đến 30/6/2022, nợ xấu (nội bảng) trên địa bàn là 726 tỷ đồng, chiếm 0,97% tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu tăng 0,13% so với đầu năm.

Vốn tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên gắn với thực hiện các chính sách của Trung ương và Địa phương, trong đó dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 41.741 tỷ đồng, chiếm 55,6% tổng dư nợ; dư nợ cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao đạt 299 tỷ đồng, chiếm 0,4% tổng dư nợ; dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 618 tỷ đồng, chiếm 0,82% tổng dư nợ; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 15.822 tỷ đồng, chiếm 21,1% tổng dư nợ.

Chính sách tín dụng đối với thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP: Dư nợ (nội bảng) 812,6 tỷ đồng (cho vay đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là 250,1 tỷ đồng, cho vay đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ là 559,9 tỷ đồng, cho vay nâng cấp tàu 2,6 tỷ đồng). Nợ xấu (nội bảng) là 77,3 tỷ đồng/7 tàu, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là 220,6 tỷ đồng/95 tàu. Các đối tượng chính sách vay theo các chương trình tín dụng ưu đãi với dư nợ cho vay đạt 3.663 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP đạt 91,28 tỷ đồng/255 hộ; dư nợ cho vay đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 là 4,95 tỷ đồng, cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn để mua máy tính, thiết bị phục vụ học trực tuyến là 7,56 tỷ đồng theo Nghị quyết số 11/NQ-CP.

Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động được vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến 31/3/2022, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã giải ngân cho vay 45.891 triệu đồng cho 11 doanh nghiệp để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất cho 13.981 người lao động, trong đó cho vay để trả lương ngừng việc do tạm ngừng hoạt động với số tiền 250 triệu đồng/04 doanh nghiệp/78 người lao động và cho vay để trả lương cho lao động để phục hồi sản xuất với số tiền 45.641 triệu đồng/07 doanh nghiệp/13.903 người lao động.

Doanh số mua bán ngoại tệ 06 tháng đầu năm 2022 đạt 306 triệu USD, doanh số chi trả kiều hối đạt 78,5 triệu USD. Đến 30/6/2022, trên địa bàn có 194 máy ATM, tăng 07 máy so với đầu năm và 1.525 máy POS, giảm 57 máy so với đầu năm.Các máy POS được kết nối liên thông giữa các ngân hàng với nhau thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

V. Lĩnh vực Văn hoá - Xã hội

1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao

1.1. Hoạt động Văn hóa

- Công tác tuyên truyền, cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị tiếp tục được tăng cường. Trong tháng, đã tổ chức tuyên truyền và chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân, đồng bào vùng sâu, miền núi, thiếu nhi các huyện với 118 buổi. Tổ chức biểu diễn đêm chung kết Hội thi “Tiếng hát Công nhân lao động Bình Thuận” lần thứ I/2022; khai mạc Đại hội Đoàn Thanh niên Trại giam Thủ Đức (Z30D); chào mừng Đoàn đại biểu Ban công tác đặc biệt Chính phủ Nước CHDCND Lào thăm và làm việc tại Bình Thuận.

- Hoạt động Thư viện: Cấp mới 135 thẻ (thiếu nhi 27 thẻ), 211.696 lượt bạn đọc (truy cập website 201.324 lượt (thiếu nhi 75.497), tại thư viện 560 lượt (thiếu nhi 210 lượt), qua youtube 3.277 lượt, khai thác sách trực tuyến 568 lượt, truy cập Fanpage 2.113 lượt, phục vụ xe lưu động 3.854 lượt); luân chuyển 215.761 lượt sách, tài liệu (thư viện 1.234 lượt (thiếu nhi 494 lượt), tài liệu qua website 201.324 lượt (thiếu nhi 80.530 lượt), xe lưu động 13.200 lượt). Sưu tầm 169 tin, bài thông tin tư liệu Bình Thuận; trưng bày giới thiệu 18 bản sách mới 3 trên website, 291 tài liệu tuyên truyền; bổ sung 785 bản sách; xử lý kỹ thuật 527 bản; nhập dữ liệu 260 biểu ghi; số hóa 1.976 trang/396 tài liệu bài trích báo, tạp chí; đóng 31 tập báo, tạp chí.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: Đã đón 35.349 lượt khách (113 lượt khách quốc tế). Đón và phục vụ đoàn Ban công tác đặc biệt Chính phủ nước CHDCND Lào đến dâng hương viếng Bác. Sưu tầm, tiếp nhận 11 hiện vật, tài liệu, hình ảnh, kỷ vật trong kháng chiến; khảo sát, nghiên cứu, thu thập tư liệu, hình ảnh về các di tích, lễ hội của người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận; nghề làm nước mắm trên địa bàn thị xã La Gi.

1.2. Hoạt động thể thao

- Hoạt động thể dục thể thao quần chúng: Tham gia tập luyện và trình diễn tại Lễ khai mạc Đại hội thể dục thể thao tỉnh Bình Thuận lần thứ IX năm 2022; giải vô địch Bóng bàn các Câu lạc bộ quốc gia năm 2022; giải Bóng chuyền bãi biển nam, nữ tại huyện Tuy phong (Đại hội TDTT tỉnh Bình Thuận); tổ chức Đại hội Liên đoàn Yoga tỉnh Bình Thuận lần thứ I và Đại hội Câu lạc bộ Mô tô lần thứ 5 nhiệm kỳ 2022 - 2027.

- Hoạt động thể thao thành tích cao: Cử đội tuyển Judo, Bơi - Lặn, Vovinam, Điền kinh, Bóng rổ, Canoeing tham gia các giải thể thao do Tổng cục Thể dục thể thao tổ chức (02 huy chương vàng, 04 huy chương bạc, 05 huy chương đồng); cử lực lượng tham dự Giải Bơi học sinh phổ thông toàn quốc năm 2022 tại Đà Nẵng (03 huy chương đồng); cử 02 vận động viên môn Taekwondo tham dự giải quyền Taekwondo Châu Á tại Hàn Quốc (03 huy chương đồng).

2. Giáo dục và Đào tạo

Trong tháng, tổ chức thi cho 12.771 thí sinh và chấm thi Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2022; chấm phúc khảo thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường Trung học phổ thông công lập năm học 2022-2023; xét duyệt các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng năm học 2021-2022. Chuẩn bị tốt các điều kiện về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học (đặc biệt lớp 3, 7, 10) đúng quy định biên chế năm học 2022-2023.

3. Y tế

Trong tháng, từ ngày 15/6-14/7/2022, toàn tỉnh có 1.071 cas mắc sốt xuất huyết, có 01 ca tử vong; không có ca mắc sốt rét; 214 cas mắc tay chân miệng, không có cas tử vong. Lũy kế 7 tháng năm 2022 ghi nhận 1.679 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 01 trường hợp tử vong; 02 trường hợp mắc sốt rét và không có cas tử vong; 310 trường hợp mắc tay chân miệng, 01 trường hợp tử vong.

Số bệnh nhânmắc bệnh phong: 04, phát hiện mới01và không có bệnh nhân phong mới tàn tật độ II. Luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 có 386 bệnh nhân phong đang quản lý và 01 bệnh nhân phong mới bị tàn tật độ II.

Công tác phòng chống Lao: Có 664 tổng số lượt khám, số bệnh nhân thu dung điều trị 179. Số bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới 125.

Số nhiễm HIV mới phát hiện 09 cas (tích luỹ 1.697 cas); không có cas chuyển AIDS mới (tích luỹ 1.096 cas); không có cas tử vong (tích luỹ 541 cas).

Công tác phòng, chống dịch bệnh đã triển khai đồng bộ các hoạt động giám sát, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh, các ca bệnh được quản lý chặt chẽ, cập nhật kịp thời và xử lý triệt để các ổ dịch. Tình hình dịch cúm A H5N1, H7N9, Ebola, Zika đến nay chưa ghi nhận trường hợp mắc.

Trong tháng không có xảy ra ngộ độc thực phẩm; các bệnh viện, các đơn vị điều trị chủ động thực hiện tốt công tác thường trực, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; thực hiện đầy đủ các quy định chuyên môn của Bộ Y tế; tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn. Trong tháng, số lượt bệnh nhân đến khám, chữa bệnh 67.598 lượt, số bệnh điều trị nội trú 9.947, số bệnh nhân chuyển viện 850, số bệnh nhân tử vong 25. Công suất sử dụng giường bệnh tại các tuyến đạt từ 77% đến 152,3%.

Công tác chống dịch Covid-19 tiếp tục triển khai thực hiện. Tính từ 27/4/2021 đến 18 giờ ngày 19/7/2022, toàn tỉnh đã ghi nhận 52.507 ca mắc Covid-19 (Phan Thiết 9.034, Tánh Linh 8.613, Hàm Thuận Bắc 6.290, Hàm Thuận Nam 6.110, Tuy Phong 5.121, La Gi 4.250, Hàm Tân 4.145, Đức Linh 3.523, Phú Quý 2.733, Bắc Bình 2.688). Trong đó có 17 ca đang được điều trị tại cơ sở y tế, 52.043 ca đã điều trị khỏi và xuất viện, 475 ca tử vong (28 ca tử vong ngoài tỉnh). Có 902.752 người đã tiêm vắc xin mũi 1 (100%); 902.752 người tiêm vắc xin mũi 2 (100%); 617.402 tiêm vắc xin mũi 3 (68,4%) và 54.214 tiêm vắc xin mũi 4 (6,0%); số trẻ từ 12 đến 17 tuổi đã tiêm vắc xin đã hoàn thành 100% theo kế hoạch. Tiêm nhắc lần 1 cho trẻ từ 12 đến 17 tuổi: 9.799/121.499 (8,1%). Tiêm cho trẻ từ 05 đến 11 tuổi: mũi 1 61.613/126.860, đạt tỷ lệ 48,5%; mũi 2: 28.805/126.860, đạt tỷ lệ 22,7%.

4. Lao động - xã hội

Trong tháng (tính đến ngày 10/7/2022) đã giải quyết việc làm cho 3.510 lao động, lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 số giải quyết viêc làm 14.964 lao động, đạt 74,82% so kế hoạch,tăng 23,33% so với cùng kỳ năm 2021. Cho vay vốn giải quyết việc làm 4.593 lao động, gấp 3,2 lần so với kế hoạch. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới và đào tạo nghề nghiệp cho 2.393 người, lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 số người tuyển mới đào tạo nghề nghiệp 8.952 người,đạt 89,52% so với kế hoạch và tăng 72,55% so với cùng kỳ năm 2021.

Quỹ Đền ơn đáp nghĩa vận động 4,448 tỷ đồng, đạt 74,1% so với kế hoạch năm và tăng 3,8 lần so với cùng kỳ năm 2021. Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh vận động 330,875 triệu đồng đạt 16,54% so kế hoạch năm và bằng 43,46% so với cùng kỳ năm 2021.

Trên địa bàn tỉnh có 3.290 người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý; trong đó: đang quản lý, giáo dục, lao động trị liệu và chăm sóc sức khỏe tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh là 286/03 nữ; quản lý trong tại tạm giam, nhà tạm giữ 92 người; tự điều trị bằng thuốc thay thế Methadone tại cơ sở y tế 607 người; 2.305 đang được các ban, ngành, đoàn thể ở nơi cư trú quản lý giáo dục. Có 111/124 xã, phường, thị trấn có người sử dụng trái phép chất ma tuý (chiếm 89,52%) số xã, phường, thị trấn có người nghiện.

Trong tháng đã tổ chức đưa 05 người có công tiêu biểu tham dự hội nghị gặp mặt người có công tiêu biểu năm 2022 nhân kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2022) tại Hà Nội. Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần cho 34 đối tượng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công. Trợ cấp mai táng phí cho 102 trường hợp. Quyết định chế độ ưu đãi giáo dục đối với con của người có công với cách mạng đến niên hạn hoặc khóa học cho 02 trường hợp; điều chỉnh thông tin 09 hồ sơ người có công. Cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cho 18 trường hợp; đổi người thờ cúng liệt sĩ cho 28 trường hợp; di chuyển 02 hồ sơ đi tỉnh ngoài; tiếp nhận 01 hồ sơ từ tỉnh ngoài chuyển đến; di chuyển 02 hồ sơ trong tỉnh (02 hồ sơ liệt sĩ); chuyển đi tỉnh ngoài 01 hồ sơ đối tượng trợ cấp 1 lần.

5. Hoạt động bảo hiểm

Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, trả sổ BHXH cho người lao động cơ bản đúng kế hoạch.

Tính đến 30/6/2022, toàn tỉnh có 94.142 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 4,3% so với cùng kỳ; có 85.396 người tham gia BHTN, tăng 4,5% so với cùng kỳ; số người tham gia BHXH tự nguyện 11.348 người, giảm 1,7% so với cùng kỳ; Số người tham gia BHYT 1.020.358 người (bao gồm thẻ BHYT của thân nhân do Bộ Quốc phòng cung cấp là 11.371 người), tăng 0,1% so với cùng kỳ. Đã xét duyệt, giải quyết cho 31.532 lượt người hưởng các chế độ BHXH, BHTN và tăng 3,4% so với cùng kỳ, trong đó, hưởng các chế độ BHXH dài hạn 403 lượt người; hưởng trợ cấp thất nghiệp 5.285 người; hưởng trợ cấp BHXH một lần 7.347 lượt người; hưởng chế độ BHXH ngắn hạn 18.497 lượt người. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh ước đạt 88,2% dân số.

Tổng số đối tượng đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng đến đầu tháng 7 là 17.097 người. Tính đến 30/6/2022, tổng số thu 1.281,59 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 132,02 tỷ đồng, tăng 0,9% so với cùng kỳ.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng(từ 15/6 - 14/7/2022), xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông (01 vụ đường sắt), giảm 04 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm 2021;số người bị thương 07 người, giảm 03 người so với tháng trước và bằng so với cùng kỳ năm 2021;số người chết 11 người (đường sắt 01 người), giảm 01 người so với tháng trước và bằng so với cùng kỳ năm 2021.

Luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 đã xảy ra 139 vụ (trong đó có 04 vụ đường sắt), so với cùng kỳ năm 2021 giảm 47 vụ; số người bị thương72 người(trong đó đường sắt 01 người), giảm 32 người so với cùng kỳ năm 2021;số người chết99 người (trong đó đường sắt 03 người), so với cùng kỳ năm trước giảm 22 người.

Trong tháng, công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các phương tiện, không xảy ra ùn ứ, ùn tắc giao thông kéo dài trên các tuyên đường và tại các Trạm thu phí BOT. Hầu hết các vụ tai nạn giao thông xảy ra đều do người điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không chấp hành tốt các quy định pháp luật vê trật tự an toàn giao thông.

7. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường

-Thiên tai:Trong tháng xảy ra 04 vụ thiên tai, trong đó 03 vụ do mưa lớn kèm lốc xoáy cục bộ xảy (huyện Tánh Linh, Bắc Bình, Đức Linh), làm tốc mái 16 căn nhà; 70,85ha lúa hè thu bị ngập úng; ngập 6,75 ha bắp; ngập 1,6 ha tràm; làm đổ gãy khoảng 30 ha cao su giai đoạn đang khai thác; cuốn trôi 2.520 con gia cầm, 24 con heo; 32,4 ha ao cá, sen và 01 vụ sạt lỡ bờ biển do sóng, gió mạnh kết hợp thủy triều xảy ra ở huyện Tuy phong làm sập 403m tường rào của nhà dân; ước thiệt hại là 1.600 triệu đồng. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2022 xảy ra 20 vụ thiên tai, ước tổng giá trị thiệt ban đầu 6.184,40 triệu đồng.

-Cháy nổ: Trong tháng xảy ra 01 vụ cháy (giảm 05 vụ so với cùng kỳ năm trước), không xảy ra vụ nổ, chưa thống kê thiệt hại. Luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 xảy ra 15 vụ cháy (giảm 28 vụ so cùng kỳ), thiệt hại 3.401,8 triệu đồng.

-Vi phạm môi trường: Trong tháng đã phát hiện 02 vụ, giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm 2021; đã xử phạt 130 triệu đồng (vi phạmsử dụng khoáng sản không đúng mục đích; lập không đầy đủ sổ sách, chứng từ, tài liệu liên quan đến khoáng sản khai thác;không có giấy phép khai thác nước dưới đất). Luỹ kế 7 tháng đầu năm 2022 xảy ra 21 vụ (tăng 02 vụ so cùng kỳ), thiệt hại 2.924,83 triệu đồng.


Website Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận

  • Tổng số lượt xem: 114
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.