Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 6 tháng 12 năm 2022
English
a A
Ngày 31/08/2022-10:35:00 AM
Tình hình kinh tế xã - xã hội tháng 8 năm 2022 tỉnh Bình Thuận

Trong tháng đã kết thúc gieo trồng vụ hè thu, một số địa phương đã chuẩn bị cho vụ mùa sắp tới; giá đầu ra của lợn và gia cầm có khuynh hướng tăng, người dân mở rộng quy mô đàn; dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát tốt; hoạt động trồng rừng sản xuất thuận lợi; khai thác hải sản biển tăng, giá xăng dầu giảm, tàu thuyền ra khơi đánh bắt nhiều; xuất khẩu thuỷ sản thuận lợi tạo điều kiện cho nuôi trồng thuỷ sản tăng trưởng.

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

1. Trồng trọt

1.1. Cây hàng năm

Tính đến ngày 15/8/2022 về cơ bản đã kết thúc gieo trồng vụ hè thu, tổng diện tích gieo trồng ước đạt 60.790 ha, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó cây lúa ước đạt 38.487,7 ha, giảm 8%, nguyên nhân giảm chủ yếu do huyện Đức Linh, Tánh Linh thời tiết mưa nhiều không thuận lợi đã làm giảm diện tích đáng kể. Cây bắp diện tích ước đạt 6.897,6 ha, giảm 4,5%; cây đậu phụng ước đạt 2.584,7 ha, tăng 0,6%; cây lang ước đạt 208,7 ha, giảm 14,3%; rau các loại ước đạt 4.086,6 ha, tăng 9,9%; đậu các loại ước đạt 3.583,8 ha, giảm 2,8%. Trong tháng một số địa phương đã chuẩn bị cho vụ mùa sắp tới.

1.2. Cây lâu năm

Thời tiết thuận lợi, một số địa phương trong tỉnh tiến hành trồng mới các loại cây lâu năm; tuy nhiên do chi phí đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu tăng nên diện tích trồng mới chưa nhiều; hiện tại người dân chủ yếu chăm sóc, thu hoạch trên diện tích cây lâu năm hiện có. Tình hình sản xuất một số cây chủ lực của tỉnh như sau:

- Thanh long: Hiện đang là thời điểm thu hoạch chính do giá thanh long giảm trong thời gian dài dẫn đến người dân giảm diện tích, một số nơi chuyển sang trồng các loại cây khác, có nơi bỏ hoang. Tính đến ngày 15/8/2021 toàn tỉnh có 9.510 ha thanh long được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGap (trong đó: Hàm Thuận Nam 5.570,1 ha; Hàm Thuận Bắc 3.035,3 ha; Bắc Bình 550,4 ha; Phan Thiết 34,2 ha; Hàm Tân 97,2 ha; La Gi 151 ha; Tuy Phong 72 ha).

- Cây điều: Một số địa phương trong tỉnh đang tiến hành trồng mới, phát triển chủ yếu ở các huyện Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Tân; các giống trồng mới chủ yếu là điều ghép cho năng suất cao.

- Cao su: Hiện đang trong mùa thu hoạch, giá bán giảm nhẹ so với tháng trước, sản phẩm thu hoạch chủ yếu là tiêu thụ trong nước.

- Cây tiêu: Diện tích trồng mới phát triển không nhiều, do cây tiêu thường xuyên xuất hiện nhiều sâu bệnh; chi phí đầu vào tăng , giá tiêu đầu ra chưa đem lại thu nhập cao cho người dân. Diện tích cây tiêu trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu ở các huyện Đức Linh, Tánh Linh và Hàm Tân.

- Các loại cây lâu năm còn lại đang được chăm sóc và phát triển bình thường, diện tích biến động không đáng kể.

1.3. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh trên các loại cây trồng được tăng cường. Diện tích nhiễm một số bệnh phổ biến so với cùng kỳ năm 2021 như sau:

- Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá 947 ha, giảm 309 ha; bệnh bạc lá 422 ha, tăng 98 ha; các đối tượng khác gây hại với mật số thấp.

- Cây thanh long : Bệnh đốm nâu nhiễm 3.817 ha, tăng 489 ha; bệnh nám vàng cành 1.166 ha, giảm 48 ha.

- Cây khoai mì: Bệnh khảm lá virus 865 ha, giảm 268 ha.

1.4. Tình hình thiệt hại do thiên tai

Trong tháng xảy ra 06 vụ thiên tai mưa lớn kèm lốc xoáy cục bộ ở các huyện Tánh Linh, Bắc Bình, La Gi và Phan Thiết; làm ngập 235 ha lúa trong giai đoạn uốn câu, đang thu hoạch; làm ngập 3,8 ha bắp; ngoài ra do nắng hạn cục bộ ở xã Hàm Cần, huyện Hàm Thuận Nam gây thiệt hại 87 ha bắp lai.

1.5. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất:

Tính đến ngày 05/8/2022 diện tích tưới lúa, hoa màu vụ hè thu thuộc hệ thống công trình thủy lợi 29.161 ha, đạt 91,6% so với kế hoạch vụ; diện tích tưới thanh long và cây ăn quả 21.090 ha, đạt 100% so với kế hoạch vụ. Tình hình nguồn nước tính đến ngày 09/8/2022 lượng nước hữu ích hiện tại các hồ chứa trong tỉnh 175,8 triệu m3, đạt 48,5% thiết kế, cao hơn 77,7 triệu m3 so với cùng kỳ năm 2021; hồ thủy điện Đại Ninh 56,3 triệu m3, đạt 22,4% thiết kế, cao hơn 29,5 triệu m3; hồ thuỷ điện Hàm Thuận 195,3 triệu m3, đạt 37,4% thiết kế, cao hơn 107,3 triệu m3.

2. Chăn nuôi (thời điểm 15/8/2022)

- Chăn nuôi trâu, bò: Toàn tỉnh có 8.515 con trâu, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2021. Chăn nuôi bò phát triển khá, tạo thu nhập ổn định cho người dân ở nông thôn, toàn tỉnh có 174.800 con, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2021.

- Chăn nuôi lợn: Toàn tỉnh có 340.000 con (không tính lợn con chưa tách mẹ), tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2021; nguyên nhân tăng chủ yếu là do công ty LinkFarm tăng thêm chi nhánh tại địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc. Giá lợn hơi có xu hướng tăng, hộ cá thể ở các huyện đầu tư tăng quy mô, trong đó tăng nhiều nhất là tại huyện Đức Linh khoảng 10.000 con.

- Chăn nuôi gia cầm: Ước đàn gia cầm có 6.142 ngàn con, tăng 43,5% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó đàn gà 4.992 ngàn con, tăng 59,5%. Đàn gia cầm tăng chủ yếu ở đàn gà, tăng ở công ty LinkFarm tại huyện Hàm Thuận Bắc phát triển mới với quy mô 863 ngàn con và 01 trang trại ở huyện Bắc Bình quy mô 200 ngàn con.

* Công tác tiêm phòng, kiểm dịch động vật

Trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xuất hiện các ổ dịch bệnh nguy hiểm như: Cúm gia cầm; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò; lở mồm long móng ở gia súc; bệnh heo tai xanh. Một số bệnh truyền nhiễm khác có xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm nhưng ở mức độ lẻ tẻ không lây lan thành dịch.

- Công tác tiêm phòng vắc xin: Trong tháng đã tổ chức tiêm phòng 2.126 ngàn liều. Trong đó trâu, bò 9,2 ngàn liều; lợn 62,6 ngàn liều; gia cầm 2.052,7 ngàn liều. Lũy kế 8 tháng năm 2022 đã tiêm phòng 14.447,7 ngàn liều; trong đó trâu, bò 147,8 ngàn liều; lợn 358,6 ngàn liều; đàn gia cầm 13.926,4 ngàn liều.

- Kiểm dịch động vật: Trong tháng đã kiểm dịch 119,6 ngàn con lợn; 397 con trâu bò; 374,2 ngàn con gia cầm; 360,3 tấn thịt các loại; 4,3 triệu quả trứng gia cầm; 57,8 tấn thịt sơ chế. Lũy kế 8 tháng năm 2022 đã kiểm dịch 974,3 ngàn con lợn; 2,5 ngàn con trâu bò; 3.022,1 ngàn con gia cầm; 2.154,9 tấn thịt các loại; 28,4 triệu quả trứng gia cầm; 419,3 tấn thịt sơ chế.

- Kiểm soát giết mổ: Trong tháng kiểm soát giết mổ 277 con trâu bò; 4,3 ngàn con lợn; 1,1 ngàn con gia cầm; 174 con dê. Lũy kế 8 tháng năm 2022 kiểm soát 1,8 ngàn con trâu bò; 31,1 ngàn con lợn; 15,7 ngàn con gia cầm; 1,2 ngàn con dê.

3. Lâm nghiệp

- Công tác trồng rừng: Trong tháng thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng mới tập trung và chăm sóc rừng. Diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.070 ha, tăng 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 8 tháng năm 2022 trồng được 2.187 ha, tăng 3,3 lần so với cùng kỳ năm 2021.

- Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Trong tháng không xảy ra cháy rừng trên địa bàn tỉnh. Lũy kế 8 tháng năm 2022 (tính đến ngày 08/8/2022) trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 05 trường hợp cháy thực bì dưới tán rừng (lá, cỏ khô...) với diện tích 4,8 ha, không gây thiệt hại về tài nguyên rừng.

- Công tác quản lý, bảo vệ rừng: Trong tháng các đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm tra, truy quét; chú trọng theo dõi, nắm bắt diễn biến, tình hình tại vùng giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận và các vùng trọng điểm nội tỉnh, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật lâm nghiệp. Trong tháng đã phát hiện lập hồ sơ xử lý 24 vụ vi phạm; xử lý tịch thu 9,03 m3 gỗ các loại; xảy ra 07 vụ lấn chiếm đất rừng với tổng diện tích 2,45 ha. Luỹ kế 8 tháng năm 2022 đã phát hiện lập hồ sơ xử lý 172 vụ; xử lý tịch thu 88,05 m3 gỗ các loại; xảy ra 25 vụ lấn chiếm đất rừng với tổng diện tích 30 ha.

4. Thuỷ sản

- Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối thuận lợi, diện tích ước đạt 231,4 ha, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 1.836,5 ha, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó diện tích nuôi cá đạt 1.303 ha, tăng 3,1%; tôm đạt 522,1 ha, giảm 0,1%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 1.199 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 8 tháng ước đạt 8.177,3 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó cá các loại ước đạt 3.131 tấn, tăng 2,1%; tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.016,8 tấn, tăng 2%).

- Khai thác thủy sản: Trong tháng ngư trường thuận lợi cho hoạt động khai thác biển; số tàu công suất lớn đã đi vào khai thác ổn định sau khi giá xăng dầu giảm. Ngư trường hoạt động chủ yếu tại vùng lộng và ven bờ trong tỉnh, khu vực đảo Côn Sơn, Trường Sa và nhà giàn DK1. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 20.226 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó khai thác biển ước đạt 20.165 tấn, tăng 2%). Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 149.691,7 tấn, tương đương so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó khai thác biển ước đạt 149.306,6 tấn, tăng 0,1%).

- Sản xuất giống thuỷ sản: Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Lũy kế 8 tháng năm 2022 (tính đến ngày 5/8/2022) đã tiến hành kiểm tra duy trì điều kiện đối với 45 cơ sở trên tổng số 103 cơ sở phải tiến hành kiểm tra duy trì điều kiện trong năm 2022. Kết quả kiểm tra có 45 cơ sở đủ điều kiện sản xuất, ươm dưỡng giống thủy sản theo quy định. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng đạt khá, ước đạt 2,3 tỷ con, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 16,9 tỷ con, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2021.

- Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Trong tháng không có tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài. Công tác đăng ký tàu cá, cấp giấy phép khai thác, cấp chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm tàu cá được tăng cường. Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân theo Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa.

II. Công nghiệp; đăng ký kinh doanh; đăng ký đầu tư

1. Công nghiệp

Trong tháng, các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo có sự tăng trưởng cao do tháng cùng kỳ ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; ngành công nghiệp khai khoáng tăng mạnh do tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến đường cao tốc Bắc - Nam phía đông, đoạn Phan Thiết - Dầu Giây. Các sản phẩm như thủy sản, may mặc, đồ uống, khai thác vật liệu xây dựng,… có sự tăng trưởng cao góp phần giữ được mức tăng trưởng cho toàn ngành công nghiệp.

Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tháng 8 tăng 21,77% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 70,62%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 41,05%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,48%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,52%.

Lũy kế 8 tháng năm 2022 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 1,63% so với cùng năm 2021; trong đó, ngành khai khoán tăng cao 32,83%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,98%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,82%; ngành cung cấp nước hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,25%. Mức giảm ở ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí chủ yếu do nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 và Vĩnh Tân 4 mở rộng giảm sản lượng điện sản xuất.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) tháng 8 năm 2022 ước đạt 3.392,51 tỷ đồng, tăng 8,74% so với tháng trước và tăng 18,98% so cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 25.520,61 tỷ đồng, đạt 51,65% kế hoạch năm, tăng 6,60% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó: Công nghiệp khai khoáng 1.566,65 tỷ đồng, tăng 40,27%; công nghiệp chế biến chế tạo 13.180,97 tỷ đồng, tăng 16,75%; sản xuất và phân phối điện đạt 10.586,44 tỷ đồng, giảm 6,78%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải đạt 186,56 tỷ đồng, tăng 5,28%.

Các sản phẩm sản xuất 8 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ gồm: Cát sỏi các loại tăng 6,10%; đá xây dựng tăng 53,04%; gạch các loại tăng 23,99%; thủy sản khô tăng 31,57%; thủy sản đông lạnh tăng 55,40%; thủy sản khô tăng 26,26%; nước mắm tăng 6,32%; hạt điều nhân tăng 66,03%; quần áo may sẵn tăng 34,07%; sơ chế mũ cao su tăng 9,73%; nước khoáng (không tính nước khoáng tinh khiết) tăng 8,08%; nước máy sản xuất tăng 3,77%; thức ăn gia súc tăng 10,03%; giày, dép các loại tăng 4,75%. Sản phẩm giảm gồm: điện sản xuất giảm 15,16%; Muối hạt giảm 17,18%; đồ gỗ và các sản phẩm gỗ tăng 3,31%.

* Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)

Trong tháng, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN khá ổn định; Công tác chuẩn bị đầu tư ở một số KCN tiếp tục được đẩy mạnh; tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN được quan tâm triển khai thực hiện; nhiều dự án thứ cấp hoàn thành thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng và đi vào hoạt động.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8 năm 2022 ước đạt 495,2 tỷ đồng, tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 22,4% so với tháng cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 8 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.599,8 tỷ đồng (đạt 53,5% so với kế hoạch), tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 2.205,9 tỷ đồng, tăng 19,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 349,5 tỷ đồng, giảm 1,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 44,4 tỷ đồng, tăng 2,5%.

3. Đăng ký kinh doanh

Trong tháng 8 năm 2022 (từ ngày 15/7 - 14/8/2022), có 186 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 63 đơn vị trực thuộc), tăng 4,3 lần so với năm 2021; tổng vốn đăng ký mới 1.067,59 tỷ đồng, tăng 5,36 lần; giải thể 16 doanh nghiệp (trong đó có 8 đơn vị trực thuộc), tăng 2 lần so với cùng kỳ; tạm ngừng hoạt động 18 doanh nghiệp (trong đó có 8 đơn vị trực thuộc), tăng 20%; chuyển đổi loại hình 9 doanh nghiệp tăng 4,5 lần so với cùng kỳ; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 9 doanh nghiệp (trong đó có 04 đơn vị trực thuộc), bằng so với cùng kỳ; thông báo thay đổi 28 doanh nghiệp (trong đó có 25 đơn vị trực thuộc). Lũy kế 8 tháng năm 2022 (tính đến ngày 14/8/2022), có 1.035 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 452 đơn vị trực thuộc), tăng 49,35% so với cùng kỳ năm 2021; vốn đăng ký 6.322,72 tỷ đồng, giảm 3,91%; có 206 doanh nghiệp hoạt động trở lại (trong đó có 48 đơn vị trực thuộc), tăng 15,08%; tạm ngừng hoạt động 330 doanh nghiệp (trong đó có 71 đơn vị trực thuộc), tăng 42,24%; số doanh nghiệp đăng ký thay đổi 961 doanh nghiệp (trong đó có 230 đơn vị trực thuộc), tăng 15,92%; chuyển đổi loại hình 68 doanh nghiệp, tăng 41,66% so với cùng kỳ năm 2021. Số doanh nghiệp đã giải thể 209 doanh nghiệp (trong đó có 134 đơn vị trực thuộc), tăng 31,45%. Thông báo cảnh báo 33 trường hợp doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, mở cảnh báo 02 trường hợp.

4. Đăng ký đầu tư

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh có 01 dự án được cấp quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng vốn đăng ký 0,48 tỷ đồng, diện tích 3,28 ha. Lũy kế 8 tháng năm 2022 có 13 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với diện tích 99,86 ha và nguồn vốn 549,97 tỷ đồng. Lũy kế từ trước đến nay có 1.604 dự án được cấp phép đầu tư, với tổng diện tích đất 50.069 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 331.843 tỷ đồng.

Trong tháng không có dự án nào khởi công, thu hồi 01 dự án. Lũy kế 8 tháng năm 2022 có 02 dự án khởi công và 07 dự án thu hồi. Công tác xúc tiến đầu tư tiếp tục được thực hiện, công tác hỗ trợ doanh nghiệp được quan tâm và chú trọng.

III. Thương mại; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải; bưu chính viễn thông

1. Thương mại, giá cả

Tình hình thị trường trong tháng tương đối ổn định, giá cả không có biến động lớn; hàng hóa lưu thông thuận lợi; các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu hàng hóa và sức mua người dân tăng so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung hàng hoá được đảm bảo, luôn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, đời sống người dân nhất là lương thực, thực phẩm, nguyên liệu thiết yếu phục vụ cho sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…). Các chương trình kích cầu tiêu dùng được các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy, siêu thị tiện ích triển khai thường xuyên, áp dụng nhiều chương trình khuyến mãi giảm giá nhiều loại mặt hàng.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 6.241,2 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và tăng 43,2% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 4.256,4 tỷ đồng, tăng 1,54% so với tháng trước và tăng 19,08% so với cùng kỳ năm 2021. Nhóm hàng lương thực, thực phẩm dự ước đạt 2.092,8 tỷ đồng, tăng 1,63% so với tháng trước và tăng 17,04% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 268,8 tỷ đồng, tăng 1,79% so với tháng trước và tăng 17,83% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng hoá khác dự ước 210,3 tỷ đồng, tăng 1,58% so với tháng trước và tăng 22,99% so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 8 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 46.142,3 tỷ đồng, tăng 20,24% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 32.361,5 tỷ đồng, tăng 15,01% so với cùng kỳ năm 2021.

* Công tác quản lý thị trường

Trong tháng đã triển khai đợt cao điểm, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá nhằm xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật đảm bảo cung cầu hàng hoá ổn định thị trường, an sinh xã hội trên địa bàn. Trong tháng 7 năm 2022 đã kiểm tra 81 vụ, phát hiện và xử lý 34 vụ vi phạm (trong đó 15 vụ hàng nhập lậu; 01 vụ vi phạm về đầu cơ găm, hàng và sai phạm trong lĩnh vực giá; 15 vụ vi phạm trong kinh doanh và 03 vụ vi phạm khác); xử phạt và thu nộp ngân sách nhà nước 921,5 triệu đồng. Luỹ kế 7 tháng năm 2022 đã kiểm tra 485 vụ, phát hiện và xử lý 194 vụ vi phạm (trong đó 03 vụ hàng cấm; 77 vụ hàng nhập lậu; 02 vụ vi phạm về đầu cơ, găm hàng và sai phạm trong lĩnh vực giá; 42 vụ vi phạm trong kinh doanh phẩm và 70 vụ vi phạm khác); xử phạt và thu nộp ngân sách nhà nước 3.470,9 triệu đồng.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2022 giảm 0,11% so với tháng trước, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm 2021 và tăng 2,39% so với tháng 12 năm 2021; CPI bình quân 8 tháng năm 2022 tăng 3,53% so với bình quân cùng kỳ năm 2021.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,01%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,58%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,49%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,45%; Giáo dục tăng 0,44%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,31%; Thuốc và dịch vụ y tế 0,03%. Có 2 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 6,22%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,19%. Nhóm hàng ổn định: Bưu chính viễn thông 100%.

2. Hoạt động du lịch

Trong tháng hoạt động du lịch tiếp tục phát triển, đang trên đà tăng trưởng khả quan. Hiện đang vào mùa cao điểm du lịch hè, ngành du lịch tập trung triển khai nhiều chương trình kích cầu bằng cách đa dạng gói sản phẩm dành cho du khách; ngoài ra trong tháng tại địa phương diễn ra Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế lần thứ 13, đây là lễ hội văn hoá truyền thống cộng đồng người Hoa cũng đã thu hút nhiều du khách và cộng đồng người Hoa từ các tỉnh về tham dự. Hoạt động lữ hành đang phục hồi, kịp thời đáp ứng nhu cầu của du khách. Ngoài ra nghành du lịch tỉnh đẩy mạnh tìm kiếm thị trường tiềm năng trong nước và hướng tới các tỉnh phía Bắc, Tây Nguyên; các tour du lịch thực hiện nhiều gói giảm giá sản phẩm, dịch vụ, vé tour tuyến du lịch và vé tham quan để thu hút khách. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống luôn mở cửa phục vụ cho người dân địa phương và du khách, đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá bán, tuân thủ theo quy định của cơ quan quản lý. Các hoạt động vui chơi giải trí tại địa phương có chuyển biến tích cực, hoạt động công viên giải trí Circus Land - NovaWorld Phan Thiết đã đi vào hoạt động ổn định thu hút nhiều du khách trong và ngoài tỉnh.

Lượng khách du lịch trong tháng 8 năm 2022 ước đạt 543,6 ngàn lượt khách, tăng 4,47% so tháng trước và tăng 88,2 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 987 ngàn ngày khách, tăng 4,94% so với tháng trước và tăng 70,2 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 8 tháng năm 2022 lượt khách du lịch ước đạt 3.457,5 ngàn lượt khách, tăng 98% so với cùng kỳ năm 2021, ngày khách du lịch ước đạt 6.083,5 ngàn ngày khách, tăng 2 lần so với cùng kỳ năm 2021.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng 8 năm 2022 ước đạt 1.949,4 tỷ đồng, tăng 4,27% so với tháng trước và tăng 45,2 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 8.313,9 tỷ đồng, tăng 2,1 lần so với cùng kỳ năm 2021.

* Tình hình khách quốc tế: Khách quốc tế đến Bình Thuận dần được phục hồi trở lại nhưng vẫn còn chậm, thị trường khách thường xuyên như Nga, Trung Quốc vẫn còn ở mức thấp so với những năm chưa xảy ra dịch bệnh Covid-19. Lượng khách du lịch quốc tế chiếm tỷ lệ cao như Hàn Quốc, Anh và Mỹ. Lượt khách quốc tế trong tháng dự ước đạt 9 ngàn lượt khách, tăng 5,69% so với tháng trước và tăng 25,4 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ dự ước đạt 35,6 ngàn ngày khách, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 25,2 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 42,2 ngàn lượt khách, tăng 2 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 164,8 ngàn ngày khách, tăng 2,1 lần so với cùng kỳ năm 2021.

3. Xuất nhập khẩu

Sản xuất dần đi vào phục hồi, các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu đáp ứng được đơn hàng, làm cho hoạt động xuất khẩu của tỉnh 8 tháng năm 2022 tăng trưởng khá. Tuy nhiên nhóm hàng nông sản giảm so với cùng kỳ; mặt hàng cao su giảm mạnh do không có thị trường tiêu thụ, hiện tại chỉ tiêu thụ nội địa.

- Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 8 năm 2022 ước đạt 76,26 triệu USD, tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 76,02% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó nhóm hàng thủy sản ước đạt 21,33 triệu USD, tăng 6,31% so với tháng trước và tăng 49,90% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng nông sản ước đạt 1,01 triệu USD, tăng 4,67% so với tháng trước và giảm 24,59% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng hóa khác ước đạt 53,92 triệu USD, tăng 5,79% so với tháng trước và tăng 94,24% so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 530,37 triệu USD, tăng 37,13% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó nhóm hàng thủy sản đạt 166,62 triệu USD, tăng 54,22%; nhóm hàng nông sản đạt 9,61 triệu USD, giảm 23,6%; nhóm hàng hóa khác đạt 354,14 triệu USD, tăng 33,06%.

+ Xuất khẩu trực tiếp lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 525,75 triệu USD, tăng 37,98% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó xuất sang thị trường Châu Á ước đạt 334,68 triệu USD, tăng 40,33%; xuất đi các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Campuchia. Xuất sang thị trường Châu Âu đạt 58,26 triệu USD, tăng 27,67%; xuất đi các nước như Anh, Italia, Bỉ, Đức, Hà Lan. Xuất sang thị trường Châu Mỹ đạt 127,1 triệu USD, tăng 35,92%; xuất đi các nước như Mỹ, Canada, Belizo.

Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu như tôm thẻ chân trắng xuất đi Mỹ, Nhật, Đức, Anh. Mực tươi đông lạnh xuất đi Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ. Thủy sản khác xuất đi Nhật Bản, Côlômbia, Mỹ, Đan Mạch. Các loại quặng xuất đi Trung Quốc. Các sản phẩm may mặc xuất đi Nhật Bản. Giày dép các loại xuất đi Mỹ, Hà Lan, Canada, Italia.

+ Ủy thác xuất khẩu lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 4,62 triệu USD, giảm 19,6% so với cùng kỳ năm 2021.

- Nhập khẩu trong tháng 8 năm 2022 ước đạt 133,02 triệu USD, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 31,59% so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 890,12 triệu USD, tăng 11,61% so với cùng kỳ năm 2021. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu để sản xuất như hàng thủy sản; nguyên liệu dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ, giấy các loại; mặt hàng thức ăn gia súc được nhập khẩu để phục vụ cho hoạt động mua bán. Một số mặt hàng chủ yếu như: Hàng thủy sản chiếm 13,88%; nguyên liệu dệt may, da giày chiếm 12,67%; nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chiếm 68,94% trong kim ngạch nhập khẩu.

4. Hoạt động vận tải

Trong tháng, do ảnh hưởng thời tiết nên hoạt động đi lại đường biển giảm hơn so với tháng trước. Hoạt động đi lại đường sắt trong tháng giảm sâu do nhu cầu không cao; hoạt động đường bộ khá ổn định do nhu cầu đi lại du lịch, nghỉ ngơi trong kỳ nghỉ hè tăng.

- Vận tải hành khách:

+ Ước tháng 8 năm 2022 vận chuyển 877,21 nghìn hành khách, giảm 0,21% so với tháng trước và tăng gấp 10,83 lần so với cùng kỳ năm 2021; luân chuyển 84,10 triệu hk.km, giảm 7,83% so với tháng trước và tăng gấp 34,50 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 8 tháng năm 2022 vận chuyển 10.422,76 nghìn hành khách, tăng 44,80% so với cùng kỳ năm 2021 và luân chuyển 644,25 triệu hk.km, tăng 91,35% so cùng kỳ năm 2021.

+ Xét theo lĩnh vực, tháng 8 năm 2022 vận chuyển hành khách đường bộ đạt 845,56 nghìn hành khách, tăng 2,94% so với tháng trước và tăng gấp 10,55 lần so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2022 đạt 10.168,14 nghìn hành khách, tăng 42,23% so với năm cùng kỳ năm 2021. Vận chuyển hành khách đường sắt đạt 16,73 nghìn hành khách, giảm 58,78% so với tháng trước; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 129,11 nghìn hành khách. Vận chuyển hành khách đường thủy đạt 14,93 nghìn hành khách, giảm 12,80% so với tháng trước và tăng 17,83 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 125,51 nghìn hành khách, tăng 2,56 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hành khách đường bộ đạt 70,28 triệu hk.km, tăng 2,24% so với tháng trước và tăng gấp 29,97 lần so với cùng kỳ; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 560,30 triệu hk.km, tăng 69,08% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hành khách đường sắt đạt 12.474,69 nghìn hk.km, giảm 40,29% so với tháng trước; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 72.258,31 nghìn hành khách.km. Luân chuyển hành khách đường thủy đạt 1,33 triệu hk.km, giảm 16,43% so với tháng trước và tăng gấp 14,41 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 11,69 triệu hk.km, tăng 2,20 lần% so với cùng kỳ năm 2021.

- Vận tải hàng hoá:

+ Ước tháng 8 năm 2022 vận chuyển hàng hoá đạt 402 nghìn tấn, tăng 6,61% so với tháng trước và tăng gấp 3,33 lần so với cùng kỳ năm 2021; luân chuyển hàng hoá đạt 34,87 triệu tấn.km, tăng 7,50% so với tháng trước và gấp 4,28 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 8 tháng năm 2022 đã vận chuyển 4.858,23 nghìn tấn hàng hoá, tăng 19,64% so với cùng kỳ năm 2021 và luân chuyển hàng hoá đạt 347,79 triệu tấn.km, tăng 59,70% so với cùng kỳ năm 2021.

+ Xét theo lĩnh vực, tháng 8 năm 2022 vận chuyển hàng hoá đường bộ đạt 392,95 nghìn tấn, tăng 5,69% so với tháng trước và tăng gấp 3,27 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 4.806,22 nghìn tấn, tăng 18,48% so với cùng kỳ năm 2021. Vận chuyển hàng hoá đường sắt đạt 8,50 nghìn tấn, tăng 2,24 lần% so với tháng trước; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 46,27 nghìn tấn. Vận chuyển hàng hoá đường thủy đạt 0,55 nghìn tấn, giảm 62,94% so với tháng trước, tăng 46,95% so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 5,74 nghìn tấn, tăng 43,62% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hàng hoá đường bộ đạt 30,21 triệu tấn.km, tăng 5,52% so với tháng trước và tăng gấp 3,73 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 310,72 triệu tấn.km, tăng 42,98% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hàng hoá đường sắt đạt 4.603,18 nghìn tấn.km, tăng 26,10% so với tháng trước; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 36.454,95 nghìn tấn.km. Luân chuyển hàng hoá đường thủy đạt 59,95 nghìn tấn.km, giảm 62,96% so với tháng trước, tăng 37,43% so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 8 tháng năm 2022 đạt 620,04 nghìn tấn.km, tăng 35,15% so với cùng kỳ năm 2021.

Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước tháng 8 năm 2022 đạt 199,26 tỷ đồng, giảm 0,90% so với tháng trước và tăng gấp 6,74 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 1.496,93 tỷ đồng, tăng 73,39% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 657,54 tỷ đồng, tăng 2,24 lần; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 753,26 tỷ đồng, tăng 37,31%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 82,91 tỷ đồng, tăng 3,75 lần; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 3,22 tỷ đồng.

5. Bưu chính, viễn thông

Hạ tầng bưu chính, mạng viễn thông tiếp tục được phát triển mở rộng; đảm bảo an toàn mạng lưới thông tin, thông tin liên lạc thông suốt phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, người dân và các tổ chức, doanh nghiệp. Mạng lưới phục vụ bưu chính, viễn thông với 1.265 cơ sở kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông, đạt bán kính phục vụ bình quân là 1,4 km/cơ sở. Tổng số thuê bao điện thoại ước đạt 1.863.950 thuê bao, mật độ 148,5 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao Internet các loại 164.590 thuê bao; tỷ lệ người sử dụng Internet (quy đổi) đạt 68,33%.

IV. Thu, chi ngân sách; hoạt động tín dụng

1. Thu, chi ngân sách

Ước thu ngân sách tháng 8 năm 2022 đạt 450 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước 7.908,30 tỷ đồng, đạt 93,17% dự toán năm và giảm 6,40% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó thu nội địa đạt 7.065,83 tỷ đồng, đạt 98,30% dự toán năm, giảm 0,23%. Trong tổng thu ngân sách gồm: Thu thuế, phí và thu khác 6.054,97 tỷ đồng, đạt 102,49% dự toán năm, tăng 3,75%; thu tiền nhà, đất 1.010,86 tỷ đồng, đạt 78,97% dự toán năm, giảm 18,86% (trong đó thu tiền sử dụng đất 822,01 tỷ đồng, đạt 74,73% dự toán năm, giảm 24,59% so với cùng kỳ năm 2021); thu thuế xuất nhập khẩu 842,47 tỷ đồng, đạt 64,81% dự toán toán năm và giảm 38,39%.

Tổng chi trong tháng 8 năm 2022 ước thực hiện 450 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ước đạt 9.892,15 tỷ đồng; Chi ngân sách nhà nước ước đạt 7.357,06 tỷ đồng, trong đó đầu tư phát triển 3.430,17 tỷ đồng, chi thường xuyên 3.926,23 tỷ đồng.

2. Hoạt động tín dụng

Đến 31/7/2022, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn đạt 75.482 tỷ đồng, tăng 1,74% so với đầu năm (cùng kỳ năm trước tăng 4,77%). Trong đó dư nợ cho vay bằng VND đạt 74.397 tỷ đồng, chiếm 98,6% tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 44.452 tỷ đồng, chiếm 58,9% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay phân theo các mức lãi suất: lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng 6%/năm chiếm khoảng 3,9% tổng dư nợ, lãi suất từ 6-7%/năm chiếm khoảng 6,5% tổng dư nợ, lãi suất từ 7-9%/năm chiếm 32,3% tổng dư nợ; lãi suất từ 9-12%/năm chiếm khoảng 52,2% tổng dư nợ, lãi suất trên 12%/năm chiếm khoảng 5,1% tổng dư nợ. Ước đến 31/8/2022, tổng dư nợ đạt 76.049 tỷ đồng, tăng 2,5% so với đầu năm.

Lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng đến dưới 6 tháng là 2,9-4%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng là 3,7-6,7%/năm; kỳ hạn từ trên 12 tháng trở lên là 4,4-7%/năm; lãi suất cho vay các khoản vay mới ở các lĩnh vực ưu tiên ngắn hạn 4,5%/năm (riêng Quỹ tín dụng nhân dân là 5,5%/năm), các lĩnh vực khác từ 7-9%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến từ 9-11,5%/năm.

Vốn huy động ước đến 31/7/2022 đạt 54.923 tỷ đồng, tăng 12,22% so với đầu năm (cùng kỳ năm trước tăng 8,48%). Ước đến 31/8/2022, nguồn vốn huy động đạt 55.796 tỷ đồng, tăng 14% so với đầu năm. Đến 31/7/2022, nợ xấu (nội bảng) trên địa bàn là 783 tỷ đồng, chiếm 1,04% tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu tăng 0,19% so với đầu năm.

Vốn tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên gắn với thực hiện các chính sách của Trung ương và Địa phương, trong đó dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 41.841 tỷ đồng, chiếm 55,4% tổng dư nợ; dư nợ cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao đạt 299 tỷ đồng, chiếm 0,4% tổng dư nợ; dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 586 tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng dư nợ; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 15.913 tỷ đồng, chiếm 21,1% tổng dư nợ.

Chính sách tín dụng đối với thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP: Dư nợ (nội bảng) 738,2 tỷ đồng (cho vay đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là 186,8 tỷ đồng, cho vay đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ là 550,2 tỷ đồng, cho vay nâng cấp tàu 1,2 tỷ đồng). Nợ xấu (nội bảng) là 133,3 tỷ đồng/13 tàu, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là 202,9 tỷ đồng/89 tàu. Các đối tượng chính sách vay theo các chương trình tín dụng ưu đãi với dư nợ cho vay đạt 3.670 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP đạt 97,5 tỷ đồng/272 hộ; dư nợ cho vay đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 là 5,75 tỷ đồng, cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn để mua máy tính, thiết bị phục vụ học trực tuyến là 10,96 tỷ đồng theo Nghị quyết số 11/NQ-CP.

Đến 31/7/2022, dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ 450 tỷ đồng/5.995 khách hàng; lũy kế giá trị nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ từ 23/01/2020 là 2.903 tỷ đồng/14.910 khách hàng; Miễn, giảm, hạ lãi suất cho khách hàng với tổng số tiền 161,69 tỷ đồng, trong đó miễn, giảm lãi là 5,86 tỷ đồng, hạ lãi suất cho vay với số tiền lãi đã hạ là 155,83 tỷ đồng; Cho vay mới đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với lãi suất thấp hơn so với trước khi dịch bệnh xảy ra với doanh số cho vay mới lũy kế từ ngày 23/01/2020 là 76.079 tỷ đồng/102.934 khách hàng.

Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động được vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến 31/3/2022, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã giải ngân cho vay 45.891 triệu đồng cho 11 doanh nghiệp để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất cho 13.981 người lao động, đến 31/7/2022, dư nợ là 44,5 tỷ đồng/8 doanh nghiệp.

Doanh số mua bán ngoại tệ 07 tháng năm 2022 đạt 367 triệu USD, doanh số chi trả kiều hối đạt 92,3 triệu USD. Đến 31/7/2022, trên địa bàn có 194 máy ATM, tăng 07 máy so với đầu năm và 1.555 máy POS, giảm 47 máy so với đầu năm. Các máy POS được kết nối liên thông giữa các ngân hàng với nhau thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Đã tích cực triển khai chuyển đổi số, đến nay tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản thanh toán đang còn hoạt động tại các chi nhánh ngân hàng trên địa bàn là khoảng trên 77%.

V. Lĩnh vực Văn hoá - Xã hội

1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao

1.1. Hoạt động Văn hóa

- Công tác tuyên truyền, cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị tiếp tục được tăng cường. Trong tháng, đã tổ chức tuyên truyền và chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân, đồng bào vùng sâu, miền núi, thiếu nhi các huyện với 62 buổi.

- Hoạt động Thư viện: Trong tháng cấp mới 148 thẻ, phục vụ 204.080 lượt bạn đọc; luân chuyển 199.806 lượt sách, tài liệu. Sưu tầm 177 tin, bài thông tin tư liệu Bình Thuận; trưng bày giới thiệu 18 bản sách mới trên website, 230 tài liệu tuyên truyền. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp mới 608 thẻ, phục vụ 1.518.097 lượt bạn đọc; luân chuyển 1.528.193 lượt sách, tài liệu. Sưu tầm 1.097 tin, bài thông tin tư liệu Bình Thuận; trưng bày giới thiệu 125 bản sách mới trên website, 2.152 tài liệu tuyên truyền.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: Đã đón 40.336 lượt khách (206 lượt khách quốc tế). Lũy kế 8 tháng năm 2022 đón 118.878 lượt khách. Sưu tầm, tiếp nhận 34 hiện vật, tài liệu, hình ảnh, kỷ vật trong kháng chiến.

1.2. Hoạt động thể thao

Trong tháng, tỉnh đã tổ chức các môn thể thao trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Bình Thuận lần thứ IX năm 2022 (Võ thuật Cổ truyền, Bóng đá bãi biển, Bóng chuyền nam); ngoài ra còn tổ chức Lễ tuyên dương, khen thưởng đội Bóng đá tuyển Bình Thuận đạt thành tích xuất sắc tại giải Bóng đá hạng Nhì Quốc gia - Cúp Alpha và đội Huấn luyện viên, Vận động viên đạt thành tích xuất sắc tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 năm 2022.

Thể thao thành tích cao: Trong tháng cử đội tuyển Judo, Vovinam, Điền kinh, Canoeing, Karate, Taekwondo, Đua thuyền truyền thống tham gia các giải thể thao do Tổng cục Thể dục thể thao tổ chức đạt 39 huy chương (8 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 26 huy chương đồng).

2. Giáo dục và Đào tạo

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2021-2022 toàn tỉnh có 12.319 thí sính dự thi, kết quả có 12.140 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 98,55%.

Chuẩn bị tốt các điều kiện về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho năm học 2022-2023; Công tác huy động học sinh đến trường, lớp học, phấn đấu thực hiện đạt chuẩn tiêu chí 5 về trường học trong chương trình xây dựng nông thôn mới; các tổ chức, đoàn thể nhiều địa phương đã phối hợp, rà soát số trẻ trên địa bàn, thực hiện tuyên truyền, vận động trẻ ra lớp với mục tiêu đảm bảo đạt tỷ lệ cao nhất. Công tác chuẩn bị tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2022-2023 vào ngày 05/9/2022 được các trường trên địa bàn tỉnh tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết.

3. Y tế

Trong tháng, từ ngày 15/7-14/8/2022, toàn tỉnh có 1.971 cas mắc sốt xuất huyết, có 03 ca tử vong; không có ca mắc sốt rét; 313 cas mắc tay chân miệng, không có cas tử vong. Lũy kế 8 tháng năm 2022 ghi nhận 3.650 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 04 trường hợp tử vong; 02 trường hợp mắc sốt rét và không có cas tử vong; 527 trường hợp mắc tay chân miệng, 01 trường hợp tử vong.

Số bệnh nhân mắc bệnh phong: 04 bệnh nhân, không có bệnh nhân phát hiện mới và không có bệnh nhân phong mới tàn tật độ II. Luỹ kế 8 tháng năm 2022 có 390 bệnh nhân phong đang quản lý và 01 bệnh nhân phong mới bị tàn tật độ II.

Công tác phòng chống Lao: Có 665 tổng số lượt khám, số bệnh nhân thu dung điều trị 164. Số bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới 78.

Số nhiễm HIV mới phát hiện 06 cas (tích luỹ 1.703 cas); 02 cas chuyển AIDS mới (tích luỹ 1.098 cas); không có cas tử vong (tích luỹ 541 cas).

Công tác phòng, chống dịch bệnh đã triển khai đồng bộ các hoạt động giám sát, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh, các ca bệnh được quản lý chặt chẽ, cập nhật kịp thời và xử lý triệt để các ổ dịch. Tăng cường công tác phòng, chống bệnh Đậu mùa khỉ... Tình hình dịch cúm A H5N1, H7N9, Ebola, Zika đến nay chưa ghi nhận trường hợp mắc.

Trong tháng không có xảy ra ngộ độc thực phẩm; các bệnh viện, các đơn vị điều trị chủ động thực hiện tốt công tác thường trực, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; thực hiện đầy đủ các quy định chuyên môn của Bộ Y tế; tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn. Trong tháng, số lượt bệnh nhân đến khám, chữa bệnh 33.778 lượt, số bệnh điều trị nội trú 4.785 số bệnh nhân chuyển viện 1.684, số bệnh nhân tử vong 4. Công suất sử dụng giường bệnh tại các tuyến đạt từ 94% đến 155,4%.

Công tác chống dịch Covid-19 tiếp tục triển khai thực hiện. Tính từ 27/4/2021 đến 7 giờ ngày 23/8/2022, toàn tỉnh đã ghi nhận 52.748 ca mắc Covid-19 (Phan Thiết 9.058, Tánh Linh 8.667, Hàm Thuận Bắc 6.330, Hàm Thuận Nam 6.136, Tuy Phong 5.123, La Gi 4.271, Hàm Tân 4.189, Đức Linh 3.545, Phú Quý 2.738, Bắc Bình 2.691). Trong đó có 39 ca đang được điều trị tại cơ sở y tế, 52.228 ca đã điều trị khỏi và xuất viện, 477 ca tử vong (29 ca tử vong ngoài tỉnh). Có 902.752 người đã tiêm vắc xin mũi 1 (100%); 902.752 người tiêm vắc xin mũi 2 (100%); 475.790/762.532 tiêm vắc xin mũi 3 (62,4%) và 85.074/101.499 tiêm vắc xin mũi 4. Tiêm nhắc lần 1 cho trẻ từ 12 đến 17 tuổi (mũi 3): 31.117 (25,6%). Tiêm cho trẻ từ 05 đến 11 tuổi: 77.043 mũi 1 (60,7%); 45.519 mũi 2 (35,9%).

4. Lao động - xã hội

Trong tháng (tính đến ngày 15/8/2022) đã giải quyết việc làm cho 2.009 lao động, lũy kế 8 tháng năm 2022 giải quyết việc làm 16.973 lao động, đạt 84,87% so kế hoạch, tăng 28,15% so với cùng kỳ năm 2021. Cho vay vốn giải quyết việc làm 4.899 lao động, gấp 3,5 lần so với kế hoạch. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới và đào tạo nghề nghiệp cho 620 người, lũy kế 8 tháng năm 2022 số người tuyển mới đào tạo nghề nghiệp 9.572 người, đạt 95,72% so với kế hoạch và tăng 84,50% so với cùng kỳ năm 2021.

Quỹ Đền ơn đáp nghĩa vận động 8,277 tỷ đồng, tăng 38% so với kế hoạch năm và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2021. Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh vận động 414,772 triệu đồng đạt 20,74% so kế hoạch năm và bằng 44,67% so với cùng kỳ năm 2021.

Trên địa bàn tỉnh có 3.290 người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý; trong đó: đang quản lý, giáo dục, lao động trị liệu và chăm sóc sức khỏe tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh là 329/03 nữ; quản lý trong tại tạm giam, nhà tạm giữ 91 người; tự điều trị bằng thuốc thay thế Methadone tại cơ sở y tế 607 người; 2.182 đang được các ban, ngành, đoàn thể ở nơi cư trú quản lý giáo dục. Có 111 xã, phường, thị trấn có người sử dụng trái phép chất ma tuý (chiếm 89,52%) số xã, phường, thị trấn có người nghiện.

Đã tổ chức Lễ kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2022) và đưa 05 người có công tiêu biểu dự Hội nghị gặp mặt Người có công tiêu biểu năm 2022 tại Hà Nội. Tặng quà 27/7 của Chủ tịch nước cho 15.995 người có công, thân nhân liệt sĩ và người thờ cúng liệt sĩ theo quy định với tổng số tiền 4.851 tỷ (trong đó có 175 trường hợp nhận mức quà 600.000 đồng, 15.820 trường hợp nhận mức quà 300.000 đồng). Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần cho 64 đối tượng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công; trợ cấp thờ cúng liệt sĩ 53 hồ sơ; tuất hàng tháng 03 hồ sơ; sửa đổi thông tin trong hồ sơ người có công 21 hồ sơ; Quyết định ưu đãi giáo dục 02 hồ sơ; giải quyết trợ cấp ưu đãi đối với thương binh cho 56 trường hợp; Di chuyển hồ sơ đi tỉnh ngoài và tiếp nhận hồ sơ từ tỉnh ngoài chuyển đến của 27 trường hợp; thực hiện điều chỉnh mức thờ cúng liệt sĩ năm 2022 theo Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 quy định mức trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Quyết định điều chỉnh điều dưỡng tập trung sang điều dưỡng tại nhà năm 2022.

* Tình hình thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động

Tính đến ngày 05/8/2022, toàn tỉnh đã tiếp nhận 18 doanh nghiệp đề nghị hỗ trợ cho 326 lao động với số tiền 486,5 triệu đồng. Tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ cho 143 lao động tại 12 doanh nghiệp với tổng số tiền là 211 triệu đồng; trong đó, đối tượng lao động đang làm việc là 141 lao động với số tiền 206 triệu đồng, đối tượng lao động quay trở lại thị trường lao động là 02 lao động với số tiền 5 triệu đồng.

5. Hoạt động bảo hiểm

Tính đến 31/7/2022, toàn tỉnh có 94.430 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 6,6% so với cùng kỳ; có 85.777 người tham gia BHTN, tăng 7,1% so với cùng kỳ; số người tham gia BHXH tự nguyện 11.354 người, giảm 2,4% so với cùng kỳ; Số người tham gia BHYT 1.023.924 người (bao gồm thẻ BHYT của thân nhân do Bộ Quốc phòng cung cấp là 11.371 người), tăng 2,8% so với cùng kỳ. Đã xét duyệt, giải quyết cho 37.364 lượt người hưởng các chế độ BHXH, BHTN và tăng 3,6% so với cùng kỳ, trong đó, hưởng các chế độ BHXH dài hạn 508 lượt người; hưởng trợ cấp thất nghiệp 6.572 người; hưởng trợ cấp BHXH một lần 8.478 lượt người; hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức-phục hồi sức khỏe: 21.806 lượt người. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh ước đạt 88,5% dân số.

Tổng số đối tượng đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng trong tháng 7 là 17.156 người. Tính đến 31/7/2022, tổng số thu 1.463,203 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ. Tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 155,561 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cùng kỳ.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 15/7-14/8/2022), xảy ra 22 vụ tai nạn giao thông (không có vụ đường sắt), tăng 08 vụ so với tháng trước và tăng 12 vụ so với cùng kỳ năm 2021; số người bị thương 13 người, tăng 06 người so với tháng trước và tăng 09 người so với cùng kỳ năm 2021; số người chết 12 người (không có đường sắt), tăng 01 người so với tháng trước và tăng 04 người so với cùng kỳ năm 2021. Trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đặt biệt nghiêm trọng.

Luỹ kế 8 tháng năm 2022 đã xảy ra 161 vụ (trong đó có 04 vụ đường sắt), so với cùng kỳ năm 2021 giảm 35 vụ; số người bị thương 85 người (trong đó đường sắt 01 người) giảm 23 người so với cùng kỳ năm 2021; số người chết 111 người (trong đó đường sắt 03 người), so với cùng kỳ năm trước giảm 18 người.

Tai nạn giao thông tháng 8 năm 2022 tăng 20% so với cùng kỳ, chủ yếu xảy ra trên đường bộ, ở khu vực ngoài đô thị, nguyên nhân của các vụ tai nạn trên là do người tham gia giao thông phóng nhanh vượt ẩu, qua đường không quan sát, có rượu bia khi tham gia giao thông.

7. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường

- Thiên tai: Trong tháng xảy ra 06 vụ thiên tai, trong đó 04 vụ do mưa lớn kèm lốc xoáy cục bộ xảy ra (huyện Tánh Linh, Bắc Bình, La Gi, Phan Thiết), làm tốc mái 01 căn nhà; ngập 235 ha lúa trong giai đoạn uốn câu, đang thu hoạch; ngập 3,8 ha bắp; 01 vụ do nắng hạn ở Hàm Cần gây thiệt hại 87 ha bắp lai; 01 vụ xâm thực bờ biển của 2 phường Mũi Né, Thanh Hải (Phan Thiết) làm sập hoàn toàn 01 căn nhà cấp 4 và nhiều thiệt hại khác; ước thiệt hại là 4.445 triệu đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2022 xảy ra 26 vụ thiên tai, ước tổng giá trị thiệt ban đầu 10.629,40 triệu đồng.

- Cháy nổ: Trong tháng xảy ra 04 vụ cháy (tăng 04 vụ so với cùng kỳ năm trước), không xảy ra vụ nổ, ước thiệt hại 150 triệu đồng. Luỹ kế 8 tháng năm 2022 xảy ra 19 vụ cháy (giảm 24 vụ so cùng kỳ), thiệt hại 3.551,8 triệu đồng.

- Vi phạm môi trường: Trong tháng đã phát hiện 01 vụ, giảm 04 vụ so với cùng kỳ năm 2021; đã xử phạt 530 triệu đồng (khai thác khoáng sản vượt công suất cho phép; báo cáo định kỳ khoáng sản không đúng thực tế). Luỹ kế 8 tháng năm 2022 xảy ra 22 vụ (giảm 02 vụ so cùng kỳ), thiệt hại 3.454,83 triệu đồng.


Website Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận

  • Tổng số lượt xem: 286
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.