Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Chủ nhật, ngày 29 tháng 1 năm 2023
English
a A
Ngày 29/09/2022-15:06:00 PM
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, 9 tháng năm 2022 tỉnh Bình Thuận

Chín tháng năm 2022, kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển tích cực so với cùng kỳ năm 2021, nhiều chỉ tiêu dần phục hồi và tăng trưởng khá; tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp tốt hơn sau đại dịch. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức cũng không ít, đặc biệt còn nhiều yếu tố rủi ro khó lường từ diễn biến dịch bệnh Covid-19 đang có dấu hiệu trở lại, lạm phát, tình hình căng thẳng ở Ukraine, Trung Quốc hạn chế các cửa khẩu trong việc xuất khẩu… Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các doanh nghiệp và tầng lớp nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2022 chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả cụ thể.

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong 9 tháng năm 2022 thời tiết thuận lợi, nguồn nước tưới trong các công trình hồ chứa, đập thủy lợi đảm bảo cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tình hình sản xuất có những chuyển biến tích cực, trồng trọt giữ ổn định, chăn nuôi tiếp tục tăng trưởng, thủy sản khai thác ổn định trong 2 tháng cuối của quý III năm 2022. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp vẫn còn khó khăn do biến đổi khí hậu, thị trường, giá vật tư nguyên liệu đầu vào tăng cao; ứng dụng khoa học - công nghệ và cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp còn ít.

1. Trồng trọt

1.1. Cây hàng năm

Tình hình thời tiết và nguồn nước tương đối thuận lợi cho sản xuất vụ đông xuân năm 2022; tuy nhiên bước vào sản xuất vụ hè thu một số diện tích lúa bị cắt giảm đáng kể do chi phí đầu vào tăng cao nên người dân không xuống giống (diện tích giảm chủ yếu ở huyện Đức Linh). Trong 9 tháng năm 2022 toàn tỉnh gieo cấy đạt 111.827,6 ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2021; diện tích giảm so với cùng kỳ tập trung vào các cây như lúa, ngô. Cụ thể:

- Cây lương thực: Diện tích ước đạt 87.790,1 ha, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2021; sản lượng đạt 496.682,1 tấn, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Diện tích lúa đạt 77.941,8 ha, giảm 1,9%; sản lượng lúa đạt 486.833,9 tấn, giảm 1,2%. Diện tích bắp đạt 9.848,3 ha, giảm 4,7%; sản lượng đạt 65.957 tấn, giảm 7,3%.

- Nhóm cây công nghiêp ngắn ngày: Diện tích đậu phộng đạt 4.334,4 ha, tăng 11,7% so với vụ cùng kỳ năm 2021; sản lượng đạt 8.670,8 tấn, tăng 12,1% so với cùng kỳ măm 2021. Diện tích mè đạt 4.193,9 ha, tăng 10,2 %; sản lượng đạt 2.508,7 tấn, tăng 10,3%.

- Cây rau, đậu, hoa các loại: Diện tích gieo trồng đạt 13.719,4 ha, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Rau các loại diện tích đạt 7.172 ha, tăng 5,7%; sản lượng đạt 83.128,1 tấn, tăng 8,1%. Đậu đạt 6.489,6 ha, tăng 8,7%; nguyên nhân tăng do cây đậu phù hợp với điều kiện tưới tiêu khô hạn từ đầu vụ nên người dân tích cực gieo trồng, nổi bật là cây đậu xanh được trồng nhiều ở huyện Tuy Phong do giá trị kinh tế cao.

- Nhóm cây hàng năm khác: Diện tích gieo trồng đạt 1.316,8 ha, tăng 9,96% so cùng kỳ năm 2021; tăng mạnh ở các cây như ớt, gừng, sả, cỏ voi được người dân tích cực gieo trồng và chăm sóc.

- Để phát huy hiệu quả sử dụng đất và tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới, trong 9 tháng năm 2022 đã thực hiện chuyển đổi 5.188 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác hiệu quả hơn như: rau 1.246 ha, đậu các loại 1.002 ha, đậu phộng 1.234 ha, dưa hấu 164 ha, cây trồng khác 304 ha. Chương trình xã hội hoá giống lúa được chú trọng triển khai; vụ đông xuân và hè thu thực hiện được 662 ha (Bắc Bình 74 ha, Hàm Thuận Bắc 100 ha, Tánh Linh 488 ha); tiếp tục duy trì 3.000 ha lúa chất lượng cao tại huyện Tánh Linh.

* Tiến độ vụ Mùa

Cùng với việc hoàn tất thu hoạch vụ hè thu, các địa phương tiến hành xuống giống vụ mùa; nhìn chung vụ mùa năm nay gặp thuận lợi về thời tiết, nguồn nước tưới tiêu được đảm bảo. Tính đến ngày 15/9 xuống giống vụ mùa đạt 36.579,8 ha, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lúa đạt 22.420 ha, tăng 5,8%; bắp đạt 2.100,6 ha, tăng 22,5%; rau các loại đạt 1.326,4 ha, tăng 12,9%; đậu các loại đạt 1.389 ha, tăng 6,2%.

1.2. Cây lâu năm

Trong 9 tháng năm 2022 chủ yếu tập trung chăm sóc diện tích các loại cây lâu năm hiện có. Thị trường xuất khẩu hàng nông sản gặp nhiều khó khăn; giá phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tăng cao, giá đầu ra của một số sản phẩm cây lâu năm giảm. Diện tích ước đạt 108.924,9 ha, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó diện tích cây công nghiệp đạt 67.181,7 ha, tăng 4%; cây ăn quả 40.886,8 ha, giảm 8,1%; các loại cây lâu năm khác 856,4 ha, tăng 3%. Một số cây trồng chính như sau:

- Thanh long: Tổng diện tích ước đạt 29.743,8 ha, giảm 11,2% so với cùng kỳ năm 2021; giảm ở hầu hết các huyện, trong đó nhiều nhất là Hàm Thuận Bắc 1.720 ha, Bắc Bình 1.285 ha, Hàm Thuận Nam giảm 311 ha, La Gi 122,1 ha. Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2022 ước đạt 475.500 tấn, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm 2021, nguyên nhân giảm chủ yếu do giá thấp trong thời gian dài, trong khi chi phí lao động, phân bón ngày càng tăng cao nên người nông dân bỏ vườn không chăm sóc ngày càng nhiều. Đến thời điểm 15/9/2022 toàn tỉnh có 9.260,8 ha được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGap; trong đó Hàm Thuận Nam 5.570,1 ha; Hàm Thuận Bắc 2.832,3 ha; Bắc Bình 504,1 ha; Phan Thiết 34,2 ha; Hàm Tân 97,2 ha; La Gi 151 ha; Tuy Phong 72 ha.

- Cây điều: Tổng diện tích ước đạt 18.572 ha, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2021, tăng chủ yếu ở huyện Đức Linh. Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2022 ước đạt 14.300 tấn, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2021; trong những năm gần đây một số địa phương triển khai trồng điều ghép nên năng suất thu hoạch ngày được cải thiện hơn; tuy nhiên phần lớn diện tích điều trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các giống điều truyền thống, năng suất thấp, nhất là các huyện phía bắc chủ yếu trồng trên đất các bạc màu nên hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao.

- Cây tiêu: Tổng diện tích ước đạt 1.133,5 ha, giảm 1,45% so với cùng kỳ năm 2021. Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2022 ước đạt 1.450 tấn, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2021. Do giá tiêu thấp trong một thời gian dài nên người trồng tiêu chặt bỏ một số diện tích già. Hiện nay giá tiêu tăng trở lại nhưng chưa cao, trong khi chi phí sản xuất lớn, trên cây lại thường xuyên xuất hiện nhiều sâu bệnh không thuốc đặc trị (chết nhanh chết chậm), không có lãi nhiều, rủi ro cao nên người trồng hạn chế đầu tư.

- Cao su: Tổng diện tích ước đạt 44.219 ha, tăng 4,3% so với cùng kỳ 2021. Sản lượng ước đạt 40.100 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2021. Trong 9 tháng năm 2022 thị trường xuất khẩu cao su chưa có dấu hiệu khả quan, sản phẩm thu hoạch chủ yếu tiêu thụ trong nước, dự tính trong thời gian đến diện tích trồng mới trên địa bàn tỉnh sẽ còn phát triển nhưng không cao.

- Cà phê: Tổng diện tích ước đạt 2.350 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2021. Cây cà phê tập trung chủ yếu ở Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh và Đức Linh. Sản lượng ước đạt 985 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2021.

- Các loại cây lâu năm còn lại đang được chăm sóc và phát triển bình thường, diện tích biến động không đáng kể.

1.3. Tình hình dịch bệnh trên các loại cây trồng

Trong tháng công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh trên các loại cây trồng được tăng cường. Diện tích nhiễm một số bệnh phổ biến so với cùng kỳ năm 2021 như sau:

- Cây lúa: Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá 1.007 ha, giảm 249 ha; bệnh bạc lá 427 ha, giảm 153 ha; sâu cuốn lá toàn vùng 323 ha; bọ trĩ nhiễm 551 ha, tăng 255 ha; chuột gây hại 405 ha, giảm 682 ha.

- Cây thanh long: Diện tích nhiễm bệnh đốm nâu 4.228 ha, tăng 44 ha. Các loại côn trùng khác gây hại với mật số thấp.

1.4. Tình hình thiệt hại do thiên tai

Trong tháng xảy ra 06 vụ thiên tai, trong đó có 3 vụ liên quan đến sản xuất nông nghiệp như mưa lớn kéo dài gây lũ, gió lốc xảy ở 03 huyện Tánh Linh, Bắc Bình, Đức Linh làm ngập 499 ha lúa mới xuống giống và 2,8 ha lúa hè thu sắp thu hoạch; ngập 0,1 ha bắp bị ngã đổ; 35 cây cao su bị trốc gốc và 96 cây bị xiên vẹo.

1.5. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất

Kết quả cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp vụ đông xuân 2021-2022 được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện trên toàn tỉnh là 53.944 ha. Trong đó cây lúa và cây màu 32.443 ha; cây thanh long, cây ăn quả 21.090 ha; nuôi trồng thủy sản 411 ha. Kết quả cấp nước sản xuất vụ hè thu 2022 được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện là 49.793 ha. Trong đó cây lúa, cây màu 29.161 ha; cây thanh long, cây ăn quả 20.221 ha; nuôi trồng thủy sản 411 ha.

1.6. Công tác ứng dụng khoa học - công nghệ và khuyến nông vào sản xuất

Tổ chức nghiệm thu các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao. Mô hình trồng thâm canh cây đinh lăng theo liên kết chuỗi quy mô 3,4 ha, thực hiện tại xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong. Mô hình thâm canh cây thanh long đạt tiêu chuẩn GlobalGAP theo liên kết chuỗi quy mô 14 ha, thực hiện tại xã Hàm Kiệm, huyện Hàm Thuận Nam. Mô hình thâm canh sầu riêng đạt tiêu chuẩn VietGAP theo liên kết chuỗi, quy mô 14 ha, thực hiện tại xã Đa Kai, huyện Đức Linh. Mô hình thâm canh cây lúa theo phương pháp cải tiến SRI quy mô 19 ha, thực hiện tại xã Bắc Ruộng, huyện Tánh Linh. Mô hình chăn nuôi tuần hoàn - mô hình trồng cỏ nuôi bò quy mô 100 con bò vỗ béo, 9,6 ha cỏ kết hợp hệ thống tưới và 40 tấn cỏ ủ chua (thực hiện tại xã Bình Tân, huyện Bắc Bình với 11 hộ tham gia). Mô hình nuôi cá bóp trên biển bằng lồng bè HDPE quy mô 512 m3 thực hiện tại huyện Phú Quý. Mô hình trang bị máy lọc nước biển trên tàu khai thác hải sản xa bờ quy mô 4 máy/4 hộ, thực hiện tại phường Hưng Long và Đức Thắng, TP. Phan Thiết.

2. Chăn nuôi (thời điểm 15/9/2022)

Tình hình chăn nuôi trong 9 tháng năm 2022 phát triển khá; đàn trâu bò phát ổn định; chăn nuôi lợn đang tăng quy mô ở doanh nghiệp và giảm dần ở chăn nuôi nông hộ, giá thịt hơi vẫn đang ở mức cao nên nhiều doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi mở rộng phát triển đàn; chăn nuôi gia cầm phát triển thuận lợi, tình hình dịch bệnh trên đàn gia cầm được kiểm soát tốt, một số doanh nghiệp, trang trại quy mô lớn đã đầu tư mới và đi vào hoạt động làm tổng đàn gia cầm tăng mạnh.

- Chăn nuôi trâu, bò: Toàn tỉnh có 8.450 con trâu, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2021, do giá thịt trâu hơi gần đây giảm một số hộ giảm đàn. Chăn nuôi bò phát triển ổn định, tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho một số hộ chăn nuôi ở nông thôn, toàn tỉnh có 174.800 con, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2021.

- Chăn nuôi lợn: Toàn tỉnh có 341.200 con lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ), tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do công ty LinkFarm tăng thêm chi nhánh tại địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc; giá lợn hơi có xu hướng tăng, hộ cá thể ở các huyện đầu tư tăng quy mô, trong đó tăng nhiều nhất là huyện Đức Linh 10.000 con.

- Chăn nuôi gia cầm: Ước đàn gia cầm có 6.141 ngàn con, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó đàn gà 4.991 ngàn con, tăng 53,6%. Đàn gia cầm tăng chủ yếu ở đàn gà, do có thêm công ty LinkFarm ở huyện Hàm Thuận Bắc phát triển mới với quy mô 863 ngàn con và 01 trang trại ở huyện Bắc Bình quy mô 200 ngàn con bắt đầu tăng từ thời điểm 01/7/2022.

* Công tác tiêm phòng, kiểm dịch động vật

Trong 9 tháng năm 2021 trên địa bàn toàn tỉnh không xuất hiện các ổ dịch bệnh nguy hiểm như: Cúm gia cầm; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò; lở mồm long móng ở gia súc; bệnh heo tai xanh. Một số bệnh truyền nhiễm khác có xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm nhưng ở mức độ lẻ tẻ không lây lan thành dịch.

- Công tác tiêm phòng vắc xin: Trong tháng đã tổ chức tiêm phòng 2.514,9 ngàn liều. Trong đó trâu bò 66,9 ngàn liều; lợn 45,6 ngàn liều; gia cầm 2.400,8 ngàn liều. Lũy kế 9 tháng năm 2022 đã tiêm phòng 16.964,3 ngàn liều; trong đó trâu, bò 214,7 ngàn liều; lợn 404,2 ngàn liều; đàn gia cầm 16.327,2 ngàn liều.

- Kiểm dịch động vật: Trong tháng đã kiểm dịch 101,6 ngàn con lợn; 21 con trâu bò; 439 ngàn con gia cầm; 337,3 tấn thịt các loại; 3,9 triệu quả trứng gia cầm; 63 kg thịt sơ chế. Lũy kế 9 tháng năm 2022 đã kiểm dịch 1.075,9 ngàn con lợn; 2,6 ngàn con trâu bò; 3.441,2 ngàn con gia cầm; 2.852,2 tấn thịt các loại; 32,4 triệu quả trứng gia cầm; 419,3 tấn thịt sơ chế.

- Kiểm soát giết mổ: Trong tháng kiểm soát giết mổ 214 con trâu bò; 3,4 ngàn con lợn; 1.000 con gia cầm; 129 con dê. Lũy kế 9 tháng năm 2022 kiểm soát 2,1 ngàn con trâu bò; 34,5 ngàn con lợn; 16,7 ngàn con gia cầm; 1,4 ngàn con dê.

3. Lâm nghiệp

- Công tác trồng rừng: Trong tháng thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng mới tập trung và chăm sóc rừng. Diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 846 ha, tăng 53,8% so với cùng kỳ năm 2021 do một số địa phương trong tỉnh tăng cường đẩy nhanh tiến độ trồng rừng; lũy kế 9 tháng năm 2022 trồng được 3.030 ha, tăng 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2021.

- Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Trong tháng không xảy ra cháy rừng trên địa bàn tỉnh. Lũy kế 9 tháng năm 2022 (tính đến ngày 08/9/2022) trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 05 trường hợp cháy thực bì dưới tán rừng (lá, cỏ khô...) với diện tích 4,8 ha, không gây thiệt hại về tài nguyên rừng.

- Công tác quản lý, bảo vệ rừng: Công tác triển khai quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, quản lý lâm sản, chống lấn chiếm đất rừng được thực hiện thường xuyên đến các các đơn vị chủ rừng, thực hiện nghiêm túc, gắn với việc ban hành kế hoạch kiểm tra công tác chống phá, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tại các khu vực giáp ranh và khu vực có nguy cơ xảy ra phá rừng, cháy rừng nội tỉnh. Qua đó chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nâng cao ý thức trách nhiệm, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị. Bảo vệ và kiểm soát rừng tận gốc, góp phần ngăn chặn không để xảy ra điểm nóng trong các tháng còn lại của năm 2022. Từ đầu năm đến nay, đã phát hiện, lập hồ sơ xử lý 189 vụ vi phạm; xử phạt hành chính 107 vụ vi phạm; tịch thu 94,1 m3 gỗ các loại.

4. Thuỷ sản

- Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trong tháng 9 ước đạt 247,6 ha, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 2.084,1 ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó diện tích nuôi cá đạt 1.454 ha, tăng 3,2%; tôm đạt 616,7 ha, giảm 0,5%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng tương đối ổn định, giá tôm thương phẩm đang có chiều hướng tăng, các hộ nuôi tăng cường vệ sinh ao để thả giống cho những tháng cuối năm; sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.217 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 9.394,3 tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó cá các loại ước đạt 3.765 tấn, tăng 2,3%; tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.595,8 tấn, tăng 1,9%).

- Khai thác thủy sản: Trong 9 tháng năm 2022 có những thời điểm thời tiết ngư trường không thuận lợi cũng như giá xăng dầu tăng cao đã ảnh hưởng đến việc ra khơi đánh bắt hải sản của các tàu thuyền trên địa bàn tỉnh; tuy nhiên hoạt động khai thác vẫn được duy trì, sản lượng đạt tương đối so với cùng kỳ. Trong tháng sản lượng khai thác ước đạt 21.339 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó khai thác biển ước đạt 21.280 tấn, tăng 2,8 %). Lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 171.138 tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó khai thác biển ước đạt 170.693,9 tấn, tăng 0,4%).

- Sản xuất giống thuỷ sản: Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Kiểm tra điều kiện và cấp mới giấy chứng nhận cho 03 cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống và kiểm tra duy trì điều kiện cho 60 cơ sở sản xuất tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,3 tỷ con, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2021; lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 19,2 tỷ con, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2021.

- Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Triển khai thực hiện chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (khai thác IUU), nhất là ngăn chặn tình trạng tàu cá, ngư dân trong tỉnh vi phạm vùng biển nước ngoài; Trong tháng không có tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài. Lực lượng kiểm ngư tăng cường hoạt động tuần tra, kiểm soát trên biển, linh hoạt và luôn thay đổi phương thức hoạt động, có phương án bố trí tăng cường lực lượng, phương tiện cho ngành chức năng vào những thời điểm cao điểm để kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm trong hoạt động khai thác thủy sản không để phát sinh điểm nóng, phức tạp và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Tiếp tục thực hiện công tác đăng ký tàu cá, cấp giấy phép khai thác, cấp chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm tàu cá; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân theo Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa.

III. Công nghiệp - xây dựng; đăng ký kinh doanh; đăng ký đầu tư

1. Công nghiệp

Tình hình hoạt động công nghiệp 9 tháng năm 2022 đang có sự phục hồi tích cực, tuy nhiên các doanh nghiệp vẫn còn khó khăn nhất định sau dịch Covid-19, đặc biệt có sự chuyển dịch tăng trưởng từ ngành sản xuất và phân phối điện sang ngành công nghiệp chế biến chế tạo.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9 ước so với cùng kỳ tăng 22,61%, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 29,78%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,08%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí hoạt động ổn định và tăng 23,69%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,43%.

Lũy kế 9 tháng năm 2022 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 2,27% so với cùng kỳ. Trong đó ngành khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao (ngành khai khoáng tăng 27,1%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,83%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,99%; ngành cung cấp nước hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,99. Chỉ số IIP tăng cao ở ngành khai khoáng do tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến đường cao tốc Bắc - Nam phía đông, đoạn Phan Thiết - Dầu Giây theo kế hoạch hoàn thành tháng 12/2022; ở ngành chế biến, chế tạo do cùng kỳ ảnh hưởng dịch Covid-19, một số doanh nghiệp hạn chế sản xuất, thậm chí không sản xuất.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) tháng 9 ước đạt 3.472,21 tỷ đồng, tăng 0,82% so với tháng trước và tăng 11,90% so cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 29.044,21 tỷ đồng, đạt 75,05% kế hoạch năm, tăng 8,03% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó: Công nghiệp khai khoáng 1.768,10 tỷ đồng, tăng 37,37%; công nghiệp chế biến chế tạo 14.929,52 tỷ đồng, tăng 16,51%; sản xuất và phân phối điện đạt 12.132,82 tỷ đồng, giảm 3,59%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải đạt 213,76 tỷ đồng, tăng 6,89%.

Các sản phẩm sản xuất 9 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ gồm: Cát sỏi các loại tăng 8,75%; đá xây dựng tăng 41,59%; gạch các loại tăng 18,57%; thủy sản đông lạnh tăng 47,52%; thủy sản khô tăng 33,35%; nước mắm tăng 6,13%; hạt điều nhân tăng 61,18%; quần áo may sẵn tăng 33,93%; sơ chế mũ cao su tăng 10,94%; nước khoáng (không tính nước khoáng tinh khiết) tăng 7,80%; nước máy sản xuất tăng 3,93%; thức ăn gia súc tăng 11,83%; giày, dép các loại tăng 8,45%. Sản phẩm giảm gồm: điện sản xuất giảm 18,05%; Muối hạt giảm 19,40%; đồ gỗ và các sản phẩm gỗ giảm 2,31%.

* Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo

Sản xuất kinh doanh quý III/2022 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 48,48% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 27,27% đánh giá khó khăn và 24,24% số doanh nghiệp cho rằng ổn định.

Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 49,12% có chiều hướng tốt lên; 26,32% có chiều hướng giữ nguyên và 24,56% có chiều hướng giảm (khó khăn hơn); doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 37,5% doanh nghiệp có chiều hướng tốt lên; 12,5% có chiều hướng giữ nguyên và 50,0% có chiều hướng giảm (khó khăn hơn); doanh nghiệp nhà nước 100% có chiều hướng tốt lên.

Dự kiến tình hình sản xuất kinh doanh quý IV so với quý III năm 2022: Có 84,85% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn, trong đó có 54,55% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt hơn; 30,3% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 15,15% dự báo khó khăn hơn.

* Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)

Trong 9 tháng đầu năm 2022, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN khá ổn định; một số doanh nghiệp về thủy sản, da giày tăng công suất, có nhu cầu tuyển thêm lao động để sản xuất. Doanh thu của các doanh nghiệp ước đạt 6.130 tỷ đồng, tăng 52,1% so với cùng kỳ, đạt 90,7% kế hoạch; nộp ngân sách ước đạt 95 tỷ đồng, tăng 39,7%, đạt 86,4% kế hoạch năm. Công tác chuẩn bị đầu tư ở một số KCN tiếp tục được đẩy mạnh; tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN được quan tâm triển khai thực hiện; nhiều dự án thứ cấp hoàn thành thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng và đi vào hoạt động.

2. Xây dựng

Trong quý III năm 2022, hoạt động xây dựng tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình. Luỹ kế 9 tháng năm 2022, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành đạt 11.417 tỷ đồng, tăng 24,3% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1,96 tỷ đồng, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 7.895,5 tỷ đồng (chiếm 69,1% của toàn ngành); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 200 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 1,8%), giảm 23,3% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 3.319,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 29,1%), tăng 20,1%.

Ước 9 tháng năm 2022, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh đạt 6.582,4 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ. Trong đó công trình nhà ở đạt 2.154,8 tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 1.074,8 tỷ đồng, tăng 6,2%; công trình kỹ thuật dân dụng 2.830,7 tỷ đồng, tăng 28,7%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 522,2 tỷ đồng, tăng 16,2%.

3. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện tháng 9/2022 ước đạt 518 tỷ đồng, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 26,3% so với tháng cùng kỳ năm 2021; Luỹ kế 9 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.118,28 tỷ đồng, tăng 17,23% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.650,17 tỷ đồng, tăng 21,04%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 414,99 tỷ đồng, giảm 0,94%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 53,12 tỷ đồng, tăng 3,17%.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện trên địa bàn trong quý III năm 2022 ước đạt 11.988,4 tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 28.896,8 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó vốn nhà nước trên địa bàn đạt 5.372,4 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ và chiếm 18,6% trong tổng số vốn thực hiện trên địa bàn; vốn ngoài nhà nước đạt 21.413,8 tỷ đồng tăng 16,7% so với cùng kỳ và chiếm 74,1% trong tổng số vốn thực hiện trên địa bàn; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.110,6 tỷ đồng tăng 45,4% so với cùng kỳ và chiếm 7,3% trong tổng số vốn thực hiện trên địa bàn.

4. Đăng ký kinh doanh

Trong tháng 9 năm 2022 (từ ngày 15/8 - 14/9/2022), có 121 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 55 đơn vị trực thuộc), tăng 3,7 lần so với năm 2021; tổng vốn đăng ký mới 595,54 tỷ đồng, giảm 2,88%; giải thể 24 doanh nghiệp (trong đó có 13 đơn vị trực thuộc), tăng 4,8 lần so với cùng kỳ; tạm ngừng hoạt động 12 doanh nghiệp (trong đó có 2 đơn vị trực thuộc), tăng 2,4 lần; chuyển đổi loại hình 6 doanh nghiệp tăng 6 lần so với cùng kỳ; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 2 doanh nghiệp, giảm 88,89% so với cùng kỳ; thông báo thay đổi 20 doanh nghiệp (trong đó có 01 đơn vị trực thuộc), tăng 25%.

Lũy kế 9 tháng năm 2022 (tính đến ngày 14/9/2022), có 1.156 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 507 đơn vị trực thuộc), tăng 59,23% so với cùng kỳ năm 2021; vốn đăng ký 6.918,25 tỷ đồng, giảm 3,83%; có 208 doanh nghiệp hoạt động trở lại (trong đó có 48 đơn vị trực thuộc), tăng 6,12%; tạm ngừng hoạt động 341 doanh nghiệp (trong đó có 73 đơn vị trực thuộc), tăng 45,11%; số doanh nghiệp đăng ký thay đổi 1.094 doanh nghiệp (trong đó có 249 đơn vị trực thuộc), tăng 27,95%; chuyển đổi loại hình 74 doanh nghiệp, tăng 51,02% so với cùng kỳ năm 2021. Số doanh nghiệp đã giải thể 233 doanh nghiệp (trong đó có 147 đơn vị trực thuộc), tăng 42,07%.

5. Đăng ký đầu tư

Trong 9 tháng năm 2022, trên địa bàn tỉnh có 13 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với diện tích 99,86 ha và nguồn vốn 549,97 tỷ đồng. Lũy kế từ trước đến nay có 1.604 dự án được cấp phép đầu tư, với tổng diện tích đất 50.069 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 331.843 tỷ đồng.

Trong tháng có 01 dự án khởi công và không có dự án thu hồi. Lũy kế 9 tháng năm 2022 có 03 dự án khởi công, 07 dự án thu hồi và không có dự án nào đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Công tác xúc tiến đầu tư tiếp tục được thực hiện, công tác hỗ trợ doanh nghiệp được quan tâm và chú trọng.

III. Thương mại; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải; bưu chính viễn thông

1. Thương mại, giá cả

Tình hình thị trường trong tháng tương đối ổn định, hàng hoá luôn đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sản xuất, đời sống người dân, sức mua người dân tăng so với tháng trước. Các đơn vị kinh doanh trong tỉnh hoạt động bình thường, tiếp tục tìm kiếm, mở rộng thị trường giao thương hàng hoá. Công tác kích cầu tiêu dùng tại địa phương được tăng cường bằng nhiều hình thức như giảm giá, khuyến mãi các mặt hàng tiêu dùng, hàng điệu tử, điện máy... Các cơ sở kinh doanh ăn uống, nhà hàng, cơ sở lưu trú và dịch vụ khác phát triển khá. Trong quý III/2022 tình hình bán lẻ hàng hoá trên thị trường đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân nhất là trong các dịp nghỉ lễ, tốc độ tăng trưởng quý III tăng so với quý II chủ yếu tập trung các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu của người dân.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 6.629,4 tỷ đồng, tăng 3,76% so với tháng trước và tăng 36,26% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 4.572,8 tỷ đồng, tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 13,71% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó nhóm lương thực, thực phẩm dự ước đạt 2.275,4 tỷ đồng, tăng 3,44% so với tháng trước và tăng 11,73% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm văn hoá phẩm giáo dục ước đạt 50,8 tỷ đồng, tăng 3,96% so với tháng trước và tăng 14,33% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng hoá khác dự ước 222,8 tỷ đồng, tăng 3,63% so với tháng trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2021). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III/2022 đạt 19.126,5 tỷ đồng, tăng 10% so với quý II và tăng 38,9% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 13.199,4 tỷ đồng, tăng 9,3% so với quý II và tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 9 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 52.919,6 tỷ đồng, tăng 22,39% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 37.112,5 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2021.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2022 giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,24% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 7 nhóm hàng tăng giá: Giáo dục 0,58%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,24%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,20%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01%; thuốc và dịch vụ y tế 0,01%. Có 3 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 2,51%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,03%; may mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,01%. Có 1 nhóm hàng ổn định: Bưu chính viễn thông 100%.

* Công tác quản lý thị trường

Công tác quản lý thị trường được tăng cường, đẩy mạnh công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, chú trọng vào các mặt hàng xăng dầu, an toàn thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ hàng hoá, niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết. Trong tháng 8/2022 đã kiểm tra 54 vụ, phát hiện và xử lý 17 vụ vi phạm (trong đó 10 vụ hàng nhập lậu, 02 vụ vi phạm trong kinh doanh và 05 vụ vi phạm khác); xử phạt và thu nộp ngân sách Nhà nước 334,8 triệu đồng. Luỹ kế 8 tháng 2022 đã kiểm tra 534 vụ, phát hiện và xử lý 211 vụ vi phạm (trong đó 03 vụ hàng cấm; 87 vụ hàng nhập lậu, 01 vụ vi phạm về hàng giả, hàng kém chất lượng và sở hữu trí tuệ; 02 vụ vi phạm về đầu cơ, găm hàng và sai phạm trong lĩnh vực giá, 45 vụ vi phạm trong kinh doanh phẩm và 73 vụ vi phạm khác); xử phạt và thu nộp ngân sách Nhà nước 3.801,5 triệu đồng.

2. Hoạt động du lịch

Trong tháng hoạt động du lịch tiếp tục phát triển, lượng khách đến tăng so với tháng trước; hoạt động lữ hành tăng trưởng khả quan, các tour du lịch phục vụ du khách ngày càng tăng; các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ khác hoạt động ổn định, tăng so với tháng trước; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống luôn mở cửa sẵn sàng phục vụ cho người dân địa phương và du khách, đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá bán, tuân thủ theo quy định của cơ quan quản lý. Trong quý III/2022 có các ngày nghỉ lễ kéo dài và là mùa cao điểm du lịch hè nên lượng khách đến tăng so quý II; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, du lịch lữ hành và hoạt động dịch vụ khác có sự tăng trưởng tốt đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân địa phương và du khách.

Lượng khách du lịch trong tháng ước đạt 544,6 ngàn lượt khách, tăng 6,13% so tháng trước và tăng 86 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 1.002,3 ngàn ngày khách, tăng 6,62% so với tháng trước và tăng 69 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lượng khách du lịch quý III ước đạt 1.578 ngàn lượt khách, tăng 10,6% so với quý II và tăng 46 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 2.882,8 ngàn ngày khách, tăng 13,5% so với quý II và tăng 38 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 9 tháng năm 2022 lượng khách du lịch ước đạt 3.971,6 ngàn lượt khách, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2021, ngày khách phục vụ ước đạt 7.038,8 ngàn ngày khách, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2021.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 1.459,4 tỷ đồng tăng, 6,02% so với tháng trước và tăng 32 lần so với cùng kỳ năm 2021; quý III/2022 ước đạt 4.705,6 tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với quý II và tăng 29,2 so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 9.200,5 tỷ đồng, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2021.

* Tình hình khách quốc tế: Lượng khách quốc tế ước đạt 10,9 ngàn lượt khách, tăng 7,66% so với tháng trước và tăng 24,8 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ dự ước đạt 43,5 ngàn ngày khách, tăng 7,83% so với tháng trước và tăng 23 lần so với cùng kỳ năm 2022. Lượng khách quốc tế quý III/2022 dự ước đạt 29,6 ngàn lượt khách, tăng 1,94 lần so với quý II và tăng 22,5 lần so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 117,5 ngàn ngày khách, tăng 1,95 so với quý II và tăng 21,7 lần so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 9 tháng năm 2022 lượt khách quốc tế ước đạt 54,3 ngàn lượt khách, tăng 2,6 so với cùng kỳ năm 2021; ngày khách phục vụ ước đạt 213 ngàn ngày khách, tăng 2,6 lần so với cùng kỳ năm 2021.

3. Xuất nhập khẩu

Hoạt động xuất khẩu trong 9 tháng năm 2022 khá lạc quan. Nhóm hàng thủy sản và hàng hóa khác tăng trưởng khá cao, nhóm hàng nông sản giảm so với cùng kỳ, trong đó mặt hàng cao su giảm sâu do không xuất khẩu được (chủ yếu tiêu thụ nội địa); xuất khẩu thanh long chỉ tăng nhẹ so với năm trước.

- Kim ngạch xuất khẩu trong tháng ước đạt 71,97 triệu USD, tăng 4,01% so với tháng trước và tăng 14,24% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó nhóm hàng thủy sản ước đạt 22,65 triệu USD, tăng 4,14% so với tháng trước và tăng 86,73% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng nông sản ước đạt 1,22 triệu USD, tăng 6,71% so với tháng trước, và giảm 25,95% so với cùng kỳ năm 2021; nhóm hàng hóa khác ước đạt 48,10 triệu USD, tăng 3,88% so với tháng trước và tăng 25,13% so với cùng kỳ năm 2021. Xuất khẩu hàng hóa quý III/2022 dự ước đạt 214,05 triệu USD, tăng 5,72% so với quý II; lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 595,57 triệu USD, tăng 32,42% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó nhóm hàng thủy sản đạt 190,02 triệu USD, tăng 58,13%; nhóm hàng nông sản đạt 10,92 triệu USD, giảm 23,27%; nhóm hàng hóa khác đạt 394,63 triệu USD, tăng 25,13%.

+ Xuất khẩu trực tiếp lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 589,56 triệu USD, tăng 32,85% so với cùng kỳ năm 2021. Xuất sang thị trường Châu Á ước đạt 381,91 triệu USD, tăng 34,14%, xuất đi các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Campuchia. Xuất sang thị trường Châu Âu đạt 64,19 triệu USD, tăng 29%, xuất đi các nước như Anh, Italia, Bỉ, Đức, Hà Lan. Xuất sang thị trường Châu Mỹ đạt 137,66 triệu USD, tăng 30,19%, xuất đi các nước như Mỹ, Canada, Belizo.

Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu như tôm thẻ chân trắng xuất đi Mỹ, Nhật, Đức, Anh. Mực tươi đông lạnh xuất đi Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ. Thủy sản khác các loại xuất đi Nhật Bản, Côlômbia, Mỹ, Đan Mạch. Các loại quặng xuất đi Trung Quốc. Các sản phẩm may mặc xuất đi Nhật Bản. Giày dép các loại xuất đi Mỹ, Hà Lan, Canada, Italia…..

+ Ủy thác xuất khẩu lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 6 triệu USD, tăng 0,21% so với cùng kỳ năm 2021.

- Nhập khẩu trong tháng ước đạt 111,03 triệu USD, giảm 4,49% so với tháng trước và giảm 2,39% so với cùng kỳ năm 2021. Nhập khẩu quý III/2022 dự ước đạt 360,93 triệu USD, tăng 13,75% so với quý II; lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 985,54 triệu USD, tăng 8,15% so với cùng kỳ năm 2021. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu để sản xuất như hàng thủy sản, nguyên liệu dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ, giấy các loại; mặt hàng thức ăn gia súc. Một số mặt hàng chủ yếu như: Hàng thủy sản chiếm 13,83%; nguyên liệu dệt may, da giày chiếm 12,75%; nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chiếm 68,81% tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu.

4. Hoạt động vận tải

Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ và đường biển có chuyển biến tốt, hoạt động thường xuyên, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay giá xăng, dầu luôn biến động ở mức cao đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và các đơn vị hoạt động vận tải.

- Vận tải hành khách:

+ Ước tháng 9 năm 2022 vận chuyển 980,78 nghìn hành khách, tăng 9,44% so với tháng trước và tăng gấp 9,89 lần so với cùng kỳ năm 2021; luân chuyển 88,25 triệu hk.km, tăng 7,96% so với tháng trước và tăng gấp 38,23 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 9 tháng năm 2022 vận chuyển 11.422,55 nghìn hành khách, tăng 56,53% so với cùng kỳ năm 2021 và luân chuyển 730,20 triệu hk.km, tăng 2,15 lần so cùng kỳ năm 2021.

+ Xét theo lĩnh vực, tháng 9 năm 2022 vận chuyển hành khách đường bộ đạt 944,76 nghìn hành khách, tăng 9,64% so với tháng trước và tăng gấp 9,62 lần so với cùng kỳ; lũy kế 9 tháng năm 2022 đạt 11.129,06 nghìn hành khách, tăng 53,56% so với năm cùng kỳ năm 2021. Vận chuyển hành khách đường sắt đạt 18,63 nghìn hành khách, tăng 3,55% so với tháng trước; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 149,01 nghìn hành khách. Vận chuyển hành khách đường thủy đạt 17,38 nghìn hành khách, tăng 5,30% so với tháng trước và tăng 17,36 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 144,47 nghìn hành khách, tăng 2,90 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hành khách đường bộ đạt 75,50 triệu hk.km, tăng 9,05% so với tháng trước và tăng gấp 34,35 lần so với cùng kỳ; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 634,81 triệu hk.km, tăng 90,30% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hành khách đường sắt đạt 11.180,49 nghìn hk.km, tăng 1,85% so với tháng trước; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 81.941,26 nghìn hành khách.km. Luân chuyển hành khách đường thủy đạt 1,57 triệu hk.km, tăng 2,44% so với tháng trước và tăng gấp 14,14 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 13,45 triệu hk.km, tăng 2,49 lần so với cùng kỳ năm 2021.

- Vận tải hàng hoá:

+ Ước tháng 9 năm 2022 vận chuyển hàng hoá đạt 384,66 nghìn tấn, tăng 3,61% so với tháng trước và tăng gấp 3,14 lần so với cùng kỳ năm 2021; luân chuyển hàng hoá đạt 34,45 triệu tấn.km, tăng 4,98% so với tháng trước và gấp 4,21 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 9 tháng năm 2022 đã vận chuyển 5.212,17 nghìn tấn hàng hoá, tăng 24,60% so với cùng kỳ năm 2021 và luân chuyển hàng hoá đạt 380,19 triệu tấn.km, tăng 68,26% so với cùng kỳ năm 2021.

+ Xét theo lĩnh vực, tháng 9 năm 2022 vận chuyển hàng hoá đường bộ đạt 379,11 nghìn tấn, tăng 3,28% so với tháng trước và tăng gấp 3,11 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 5.159,46 nghìn tấn, tăng 23,47% so với cùng kỳ năm 2021. Vận chuyển hàng hoá đường sắt đạt 4,98 nghìn tấn, tăng 36,84 % so với tháng trước; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 46,40 nghìn tấn. Vận chuyển hàng hoá đường thủy đạt 0,57 nghìn tấn, tăng 1,96% so với tháng trước, tăng 51,72% so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 6,31 nghìn tấn, tăng 44,45% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hàng hoá đường bộ đạt 30,90 triệu tấn.km, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng gấp 3,79 lần so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 341,62 triệu tấn.km, tăng 51,52% so với cùng kỳ năm 2021. Luân chuyển hàng hoá đường sắt đạt 3.486,67 nghìn tấn.km, tăng 36,57% so với tháng trước; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 37.891,44 nghìn tấn.km. Luân chuyển hàng hoá đường thủy đạt 62,21 nghìn tấn.km, tăng 2,50% so với tháng trước, tăng 42,62% so với cùng kỳ năm 2021; luỹ kế 9 tháng năm 2022 đạt 682,99 nghìn tấn.km, tăng 35,95% so với cùng kỳ năm 2021.

Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước tháng 9 năm 2022 đạt 209,03 tỷ đồng, tăng 7,0% so với tháng trước và tăng gấp 6,30 lần so với cùng kỳ năm 2021. Luỹ kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 1.702,14 tỷ đồng, tăng 89,86% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 760,89 tỷ đồng, tăng 2,56 lần; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 842,72 tỷ đồng, tăng 46,60%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 94,95 tỷ đồng, tăng 3,97 lần; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 3,58 tỷ đồng.

V. Thu, chi ngân sách; hoạt động tín dụng

1. Thu, chi ngân sách

Ước thu ngân sách tháng 9 năm 2022 đạt 500 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2022 ước 8.582,77 tỷ đồng, đạt 101,12% dự toán năm và giảm 4,88% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó thu nội địa đạt 7.713,80 tỷ đồng, đạt 107,31% dự toán năm, tăng 3,83%. Trong tổng thu ngân sách gồm: Thu thuế, phí và thu khác 6.628,35 tỷ đồng, đạt 112,19% dự toán năm, tăng 7,59%; thu tiền nhà, đất 1.085,45 tỷ đồng, đạt 84,80% dự toán năm, giảm 14,42% (trong đó thu tiền sử dụng đất 886,16 tỷ đồng, đạt 80,56% dự toán năm, giảm 19,69% so với cùng kỳ năm 2021); thu thuế xuất nhập khẩu 868,97 tỷ đồng, đạt 66,84% dự toán toán năm và giảm 45,48%.

Riêng khối huyện, thị xã, thành phố kết quả thu quý III/2022, ước đạt 195 tỷ đồng, giảm 33,90% so với quý trước và giảm 18,37% so với cùng kỳ năm 2021. Lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 3.420,53 tỷ đồng, đạt 143,48% dự toán năm, tăng 41,11% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Phan Thiết thu 1.322,66 tỷ đồng (đạt 113,05% dự toán, tăng 29,63%); La Gi 294,54 tỷ đồng (đạt 3,27 lần dự toán, tăng 2,49 lần); Tuy Phong 249,79 tỷ đồng (đạt 115,64% dự toán, tăng 19,38%); Bắc Bình 315,54 tỷ đồng (đạt 175,30% dự toán, tăng 71,98%); Hàm Thuận Bắc 366,47 tỷ đồng (đạt 146,59% dự toán, giảm 1,85%); Hàm Thuận Nam 277,03 tỷ đồng (đạt 158,30% dự toán, tăng 45,77%); Tánh Linh 109,18 tỷ đồng (đạt 155,97% dự toán, tăng 70,25%); Đức Linh 151,61 tỷ đồng (đạt 168,45% dự toán, tăng 50,72%); Hàm Tân 287,54 tỷ đồng (đạt 239,62% dự toán, tăng 96,47%) và Phú Quý thu 46,18 tỷ đồng (đạt 200,77% dự toán, tăng 2,52 lần). So dự toán có 10/10 huyện, thị xã, thành phố thu ngân sách đạt và vượt dự toán năm. 9/10 huyện, thị xã, thành phố thu ngân sách tăng so với cùng kỳ năm 2021.

Tổng chi trong tháng 9 năm 2022 ước thực hiện 450 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2022 ước đạt 10.914,35 tỷ đồng; Chi ngân sách nhà nước ước đạt 8.078,17 tỷ đồng, trong đó đầu tư phát triển 3.703,38 tỷ đồng, chi thường xuyên 4.374,13 tỷ đồng.

2. Hoạt động tín dụng

Đến 31/8/2022, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn đạt 76.603 tỷ đồng, tăng 3,25% so với đầu năm (cùng kỳ năm trước tăng 4,91%). Trong đó, dư nợ cho vay bằng VND đạt 75.416 tỷ đồng, chiếm 98,5% tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 45.430,6 tỷ đồng, chiếm 59,3% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay phân theo các mức lãi suất: lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng 6%/năm chiếm khoảng 3,56% tổng dư nợ, lãi suất từ 6-7%/năm chiếm khoảng 6,36% tổng dư nợ, lãi suất từ 7-9%/năm chiếm 32,28% tổng dư nợ; lãi suất từ 9-12%/năm chiếm khoảng 52,79% tổng dư nợ, lãi suất trên 12%/năm chiếm khoảng 5% tổng dư nợ. Ước đến 30/9/2022, tổng dư nợ đạt 77.533 tỷ đồng, tăng 4,5% so với đầu năm.

Lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng đến dưới 6 tháng là 2,9-4%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng là 3,7-6,9%/năm; kỳ hạn từ trên 12 tháng trở lên là 4,4-7%/năm; lãi suất cho vay các khoản vay mới ở các lĩnh vực ưu tiên ngắn hạn 4,5%/năm (riêng Quỹ tín dụng nhân dân là 5,5%/năm), các lĩnh vực khác từ 7-9%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến từ 9-11,5%/năm.

Vốn huy động ước đến 31/8/2022 đạt 54.339,5 tỷ đồng, tăng 11,02% so với đầu năm (cùng kỳ năm trước tăng 8,73%). Ước đến 30/9/2022, nguồn vốn huy động đạt 55.062 tỷ đồng, tăng 12,5% so với đầu năm. Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn, dẫn tới sụt giảm doanh thu, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, gia tăng rủi ro về thu hồi nợ. Đến 31/8/2022, nợ xấu (nội bảng) trên địa bàn là 1.402,8 tỷ đồng, chiếm 1,83% tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu tăng 1,26% so với đầu năm.

Vốn tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên gắn với thực hiện các chính sách của Trung ương và Địa phương, trong đó dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 42.351 tỷ đồng, chiếm 55,3% tổng dư nợ; dư nợ cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao đạt 296,7 tỷ đồng, chiếm 0,39% tổng dư nợ; dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 559,5 tỷ đồng, chiếm 0,73% tổng dư nợ; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 16.270 tỷ đồng, chiếm 21,2% tổng dư nợ.

Chính sách tín dụng đối với thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP: Dư nợ (nội bảng) 735,8 tỷ đồng (cho vay đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là 186,8 tỷ đồng, cho vay đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ là 547,9 tỷ đồng, cho vay nâng cấp tàu 1,2 tỷ đồng). Nợ xấu (nội bảng) là 638,3 tỷ đồng/63 tàu, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là 202,8 tỷ đồng/90 tàu. Các đối tượng chính sách vay theo các chương trình tín dụng ưu đãi với dư nợ cho vay đạt 3.688 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP đạt 108,5 tỷ đồng/302 hộ; dư nợ cho vay đối với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 là 6 tỷ đồng, cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn để mua máy tính, thiết bị phục vụ học trực tuyến là 12 tỷ đồng theo Nghị quyết số 11/NQ-CP.

Đến 31/8/2022, dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ 319 tỷ đồng/627 khách hàng; lũy kế giá trị nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ từ 23/01/2020 đến 31/8/2022 là 2.895,5 tỷ đồng/14.910 khách hàng; Miễn, giảm, hạ lãi suất cho khách hàng với tổng số tiền 161,69 tỷ đồng, trong đó miễn, giảm lãi là 5,86 tỷ đồng, hạ lãi suất cho vay với số tiền lãi đã hạ là 155,83 tỷ đồng; Cho vay mới đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với lãi suất thấp hơn so với trước khi dịch bệnh xảy ra với doanh số cho vay mới lũy kế từ ngày 23/01/2020 đến 31/5/2022 là 59.101 tỷ đồng/102.928 khách hàng.

Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động được vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Cho vay đến 31/3/2022 dừng, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã giải ngân cho vay 45.891 triệu đồng cho 11 doanh nghiệp để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất cho 13.981 người lao động, trong đó cho vay để trả lương ngừng việc do tạm ngừng hoạt động 250 triệu đồng/04 doanh nghiệp/78 người lao động và cho vay để trả lương cho lao động để phục hồi sản xuất 45.641 triệu đồng/07 doanh nghiệp/13.903 người lao động.

Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất 2% từ nguồn ngân sách nhà nước, đến 31/8/2022, trên địa bàn tỉnh đã hỗ trợ lãi suất cho vay 29.749 triệu đồng/04 khách hàng, số tiền đã hỗ trợ lãi suất là 0,77 triệu đồng.

Doanh số mua bán ngoại tệ 8 tháng năm 2022 đạt 420 triệu USD, doanh số chi trả kiều hối đạt 111,5 triệu USD. Đến 31/8/2022, trên địa bàn có 195 máy ATM, tăng 08 máy so với đầu năm và 1.567 máy POS, giảm 15 máy so với đầu năm. Các máy POS được kết nối liên thông giữa các ngân hàng với nhau thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Đã tích cực triển khai chuyển đổi số, đến nay tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản thanh toán đang còn hoạt động tại các chi nhánh ngân hàng trên địa bàn là khoảng trên 77%.

VI. Lĩnh vực Văn hoá - Xã hội

1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao

1.1. Hoạt động văn hóa

- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ, tết của quê hương, đất nước: kỷ niệm 77 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam gắn với 30 năm tái lập tỉnh Bình Thuận; 47 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; Đại hội thể dục thể thao tỉnh Bình Thuận lần thứ IX năm 2022; Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31; “Năm hữu nghị Việt Nam - Campuchia” và “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào” năm 2022; tuyên truyền Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong tình hình mới; công tác phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo; bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm ….

- Hoạt động nghệ thuật: Tham gia Liên hoan nghệ thuật Đờn ca tài tử và Không gian Đờn ca tài tử lần thứ III năm 2022 tại Cần Thơ (1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc); Hội diễn “Tiếng hát miền Đông” lần thứ XX tại tỉnh Tây Ninh (2 huy chương vàng, 4 huy chương bạc, 01 tác phẩm sáng tác lời mới). Đội Tuyên truyền và Chiếu phim lưu động biểu diễn 86 buổi văn nghệ (đạt 86%) và 719 buổi chiếu phim (đạt 89.8%) phục vụ nhân dân. Phối hợp tuyên truyền “Phòng ngừa đưa người di cư trái phép từ Việt Nam sang Úc bằng tàu thuyền”; Truyền hình trực tiếp các trận đấu giữa U23 Việt Nam và các đội: U23 Indonesia, U23 Malaysia và U23 Thái Lan thu hút hơn 2.000 lượt người đến theo dõi mỗi trận… Tổ chức 02 Chương trình nghệ thuật Chào mừng Kỷ niệm 30 năm ngày tái lập tỉnh; 03 chương trình nghệ thuật chào mừng 77 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành.

- Hoạt động Thư viện: Cấp 460 thẻ (thiếu nhi 127 thẻ), 1.313.297 lượt bạn đọc; luân chuyển 1.328.387 lượt sách, tài liệu. Sưu tầm 1.089 tin, bài thông tin tư liệu Bình Thuận; trưng bày giới thiệu 107 bản sách mới trên website, 1.922 tài liệu tuyên truyền; bổ sung 2.135 bản sách; xử lý kỹ thuật 4.081 bản; nhập dữ liệu 1.430 biểu ghi; số hóa 14.043 trang/1324 tài liệu bài trích báo, tạp chí; phát hành 07 tập thông tin chuyên đề; đóng 198 tập báo, tạp chí. Tổ chức vòng sơ khảo cuộc thi “Đại sứ văn hóa đọc năm 2022” với hơn 1.396 bài dự thi. Tham gia dự thi Liên hoan cán bộ Thư viện tuyên truyền giới thiệu sách chủ đề “Những người con bất tử” - Kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh, Liệt sỹ tại tỉnh Quảng Trị (đạt giải B). Phối hợp tổ chức Hội Báo Xuân Nhâm Dần (đồng thời tổ chức trực tuyến) với 160 loại báo xuân của Trung ương, các tỉnh và địa phương thu hút đông đảo bạn đọc. Luân chuyển 5.400 bản sách phục vụ Trại giam Thủ Đức và Trại giam Huy Khiêm. Phối hợp tổ chức ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ I tại 19 điểm trường học, thu hút 4.954 lượt học sinh tham gia.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: Đã đón 190.160 lượt khách (1.146 lượt khách quốc tế). Sưu tầm, trao đổi, tiếp nhận 197 hiện vật, cổ vật (đạt 102%). Tham mưu tỉnh trình công nhận Lễ hội Dinh Thầy Thím, Lễ hội Katê của người Chăm tỉnh Bình Thuận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Hoàn thành công tác sưu tầm, tiếp nhận tài liệu, hiện vật phục vụ trưng bày tại Nhà Tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ. Trưng bày, triển lãm tranh, ảnh với chủ đề “Học sinh với di sản văn hóa địa phương” tại các trường học trong tỉnh, mời nghệ nhân người Chăm trình diễn nghề truyền thống (dệt, gốm), biểu diễn nghệ thuật dân gian tại Ban Quản lý di tích tháp PôSahInư phục vụ khách tham quan. Cung cấp tư liệu thực hiện phóng sự “Bảo tồn và phát huy làng nghề gốm truyền thống của người Chăm xã Phan Hiệp, huyện Bắc Bình”.

1.2. Hoạt động thể thao

Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Bình Thuận và các môn thể thao còn lại trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Bình Thuận lần thứ IX năm 2022 (Bóng đá nam, Vovinam, Billiards & Snooker và Golf; Taekwondo); giải Bóng chuyền bãi biển chào mừng kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh Bình Thuận.

Trong 9 tháng năm 2022, hoạt động thể dục thể thao trên toàn tỉnh được tổ chức sôi nổi đều khắp, nổi bật: Đội bóng đá tuyển Bình Thuận được thăng hạng Nhất Quốc gia; đã tổ chức 19/19 giải thể thao cấp tỉnh (đạt 100% KH năm), tham dự 43/66 giải thể thao khu vực, quốc gia, quốc tế.

Kết quả Đại hội thể dục thể thao cấp tỉnh: Đại hội thể dục thể thao tỉnh Bình Thuận lần thứ IX năm 2022, có 41 đơn vị với 1.628 vận động viên tham gia thi đấu 16 môn và chia làm 02 giai đoạn; Phan Thiết là đơn vị dẫn đầu về thành tích tại Đại hội với 94 huy chương (35 huy chương vàng, 31 huy chương bạc, 28 huy chương đồng).

Thể thao thành tích cao: Trong tháng cử đội tuyển Judo, Vovinam, Bơi - Lặn, Điền kinh, Đội Đua thuyền truyền thống, Bóng rổ, Karate, Cờ tướng tham gia các giải thể thao do Tổng cục Thể dục thể thao, Cụm miền Đông Nam Bộ tổ chức đạt 81 huy chương (31 huy chương vàng, 17 huy chương bạc, 33 huy chương đồng).

Trong 9 tháng đầu năm đã cử các đội tuyển tham gia các giải thể thao khu vực, quốc gia, quốc tế, trong và ngoài tỉnh tổ chức. Cử 13 vận động viên tập trung đội tuyển và đội tuyển trẻ quốc gia (07 Judo, 03 Canoeing, 02 Taekwondo, 01 Điền kinh); 03 Vận động viên tham gia Seagames 31 (đạt 2 huy chương vàng, 01 huy chương bạc) và 02 vận động viên môn Taekwondo tham dự giải Vô địch quyền Taekwondo thế giới; tham dự giải Vô địch Taekwondo Đông Nam Á lần thứ 15 (đạt 04 huy chương vàng, 03 huy chương bạc, 01 huy chương đồng); cử 01 vận động viên tham dự giải Taekwondo Đại hội Thể thao Sinh viên thế giới năm 2022; 02 vận động viên tham dự giải vô địch quyền Taekwondo Châu Á. Tổng số huy chương đạt được là 200 huy chương (57 huy chương vàng; 47 huy chương bạc; 96 huy chương đồng).

2. Giáo dục và Đào tạo

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2021-2022 toàn tỉnh đã tổ chức xong. Kết quả tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông sau phúc khảo đạt tỷ lệ 98,55% trên tổng số 12.140 thí sinh trung học phổ thông, nổi bật có 05 đơn vị đạt tỷ lệ 100%, 13 đơn vị đạt tỷ lệ trên 99%, 05 đơn vị đạt tỷ lệ trên 98%.

Hiện nay toàn tỉnh có 274 trường chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 50,83%. Trong đó, Mầm non có 52 trường (36,62%); Tiểu học có 128 trường (53,11%); Trung học cơ sở có 80 trường (61,54%); trung học phổ thông có 14 (53,85%). Tính riêng trong năm 2022 có thêm 02 trường đạt chuẩn (gồm 01 trường Tiểu học, 01 trường %); Trung học cơ sở), 09 trường học đạt chuẩn quốc gia (trong đó mầm non: 02 trường; tiểu học: 03 trường; trung học cơ sở: 03 trường; trung học phổ thông: 01 trường.

3. Y tế

Trong 9 tháng năm 2022 (tính đến ngày 11/9/2022), toàn tỉnh có 5.738 cas mắc sốt xuất huyết (tăng 2,85 lần so với cùng kỳ 2021); 638 trường hợp mắc tay chân miệng (tăng 79,72%) và 01 trường hợp tử vong.

Số bệnh nhân mắc bệnh phong: Có 163.512 lượt khám, đạt 109,01% so với kế hoạch năm (tăng 5,12% so với cùng kỳ năm 2021); phát hiện 04 bệnh nhân phong mới. Hiện toàn tỉnh quản lý 386 bệnh nhân phong, trong đó có 372 bệnh nhân cần chăm sóc tàn tật suốt đời; 100% bệnh nhân phong có tàn tật được chăm sóc.

Công tác phòng chống Lao có 1.31 số bệnh nhân thu dung điều trị đạt 68,95% kế hoạch năm và tăng 42,8% so với cùng kỳ năm 2021. Có 760 bệnh nhân Lao phổi AFB (+) đạt 84,44% kế hoạch năm, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm 2021.

Tính đến ngày 30/8/2022, số nhiễm HIV mới phát hiện 52 cas (tích luỹ 1.711 cas); 16 cas chuyển AIDS mới (tích luỹ 1.102 cas); có 05 cas tử vong (tích luỹ 541 cas).

Công tác phòng, chống dịch bệnh đã triển khai đồng bộ các hoạt động giám sát, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh, các ca bệnh được quản lý chặt chẽ, cập nhật kịp thời và xử lý triệt để các ổ dịch. Tăng cường công tác phòng, chống bệnh Đậu mùa khỉ... Tình hình dịch cúm A H5N1, H7N9, Ebola, Zika; phòng chống dịch cúm lây truyền từ gia cầm sang người; tiếp tục tăng cường triển khai xử lý các ổ dịch Covid-19 theo quy định.

Trong 9 tháng năm 2022 không có xảy ra ngộ độc thực phẩm; các bệnh viện, các đơn vị điều trị chủ động thực hiện tốt công tác thường trực, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; thực hiện đầy đủ các quy định chuyên môn của Bộ Y tế; tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.

Công tác chống dịch Covid-19 tiếp tục triển khai thực hiện. Tính từ 27/4/2021 đến 18 giờ ngày 22/9/2022, toàn tỉnh đã ghi nhận 53.209 ca mắc Covid-19 (Phan Thiết 9.085, Tánh Linh 8.813, Hàm Thuận Bắc 6.392, Hàm Thuận Nam 6.188, Tuy Phong 5.126, La Gi 4.306, Hàm Tân 4.248, Đức Linh 3.600, Phú Quý 2.748, Bắc Bình 2.703). Trong đó có 85 ca đang được điều trị tại cơ sở y tế, 52.674 ca đã điều trị khỏi và xuất viện, 479 ca tử vong (29 ca tử vong ngoài tỉnh). Có 902.752 người đã tiêm vắc xin mũi 1 (100%); 902.752 người tiêm vắc xin mũi 2 (100%); 501.628/762.532 tiêm vắc xin mũi 3 (65,8%) và 102.003/105.562 tiêm vắc xin mũi 4. Tiêm nhắc lần 1 cho trẻ từ 12 đến 17 tuổi (mũi 3): 46.053 (37,9%). Tiêm cho trẻ từ 05 đến 11 tuổi: 100.695 mũi 1 (79,4%); 57.371 mũi 2 (45,2%).

4. Khoa học - Công nghệ; Bưu chính, viễn thông

Đã tổ chức đánh giá, nghiệm thu 11 nhiệm vụ thường xuyên; kiểm tra tiến độ thực hiện 03 đề tài khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước. Tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tiếp tục triển khai thực hiện Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, thiết bị đối với các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm lợi thế của tỉnh và hỗ trợ nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho của tổ chức, doanh nghiệp.

Hạ tầng bưu chính, mạng viễn thông tiếp tục được phát triển mở rộng; đảm bảo an toàn mạng lưới thông tin, thông tin liên lạc thông suốt phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, người dân và các tổ chức, doanh nghiệp. Mạng lưới phục vụ bưu chính, viễn thông với 1.265 cơ sở kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông, đạt bán kính phục vụ bình quân là 1,4 km/cơ sở. Tổng số thuê bao điện thoại ước đạt 1.863.950 thuê bao, mật độ 148,5 thuê bao/100 dân. Tổng số thuê bao Internet các loại 164.590 thuê bao; tỷ lệ người sử dụng Internet (quy đổi) đạt 68,33%.

5. Lao động - xã hội

Trong 9 tháng năm 2022, thu nhập bình quân của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và người lao động trong khu vực nhà nước đạt 6,3 triệu đồng người/tháng (tương đương cùng kỳ năm trước); thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước đạt 10,1 triệu đồng người/tháng, tăng 5% so cùng kỳ năm trước; mức thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 6,5 triệu đồng người/tháng, tăng 11% so cùng kỳ năm trước; thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 11,2 triệu đồng người/tháng, tăng 12% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung 9 tháng năm 2022, thu nhập của người lao động làm công hưởng lương trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã được cải thiện khá so với thời điểm cùng kỳ, nhờ chính sách tăng lương tối thiểu vùng theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, có hiệu lực từ ngày 01/7/2022.

Trong tháng (tính đến ngày 13/9/2022) đã giải quyết việc làm cho 2.055 lao động, lũy kế 9 tháng năm 2022 giải quyết việc làm 19.028 lao động, đạt 95,14% so kế hoạch, tăng 33,62% so với cùng kỳ năm 2021. Cho vay vốn giải quyết việc làm 5.065 lao động, gấp 3,62 lần so với kế hoạch. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới và đào tạo nghề nghiệp cho 2.935 người, lũy kế 9 tháng năm 2022 số người tuyển mới đào tạo nghề nghiệp 12.507 người, đạt 125,07% so với kế hoạch và tăng 2,41 lần so với cùng kỳ năm 2021.

Quỹ Đền ơn đáp nghĩa vận động 8,2497 tỷ đồng, đạt 141,6% so với kế hoạch năm và tăng 19% so với cùng kỳ năm 2021. Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh vận động 843,772 triệu đồng đạt 42,19% so kế hoạch năm và giảm 9,13% so với cùng kỳ năm 2021.

Trên địa bàn tỉnh có 3.290 người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý; trong đó: đang quản lý, giáo dục, lao động trị liệu và chăm sóc sức khỏe tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh là 353/03 nữ; quản lý trong tại tạm giam, nhà tạm giữ 91 người; tự điều trị bằng thuốc thay thế Methadone tại cơ sở y tế 596 người; 2.169 đang được các ban, ngành, đoàn thể ở nơi cư trú quản lý giáo dục. Có 111 xã, phường, thị trấn có người sử dụng trái phép chất ma tuý (chiếm 89,52%) số xã, phường, thị trấn có người nghiện, chiếm 89,52% số xã, phường, thị trấn..

Trong tháng, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần cho 31 đối tượng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công; trợ cấp thờ cúng liệt sĩ 85 hồ sơ; tuất hàng tháng 03 hồ sơ; sửa đổi thông tin trong hồ sơ người có công 03 hồ sơ; Quyết định ưu đãi giáo dục 03 hồ sơ; giải quyết trợ cấp ưu đãi đối với thương binh cho 36 trường hợp; di chuyển hồ sơ đi tỉnh ngoài và tiếp nhận hồ sơ từ tỉnh ngoài chuyển đến của 10 trường hợp; thực hiện điều chỉnh mức thờ cúng liệt sĩ năm 2022 theo Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 quy định mức trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; xác nhận và di chuyển 01 hài cốt liệt sĩ về quê an táng theo nguyện vọng gia đình và tiếp nhận 02 hài cốt liệt sĩ do Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức; xác nhận thông tin mộ liệt sĩ cho 06 thân nhân liệt sĩ; gửi Cục Người có công giám định 02 hồ sơ liệt sĩ chưa xác định được danh tính.

Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động được vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất theo Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg và Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay tỉnh đã giải ngân cho vay 45.891 triệu đồng cho 11 doanh nghiệp để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất cho 13.981 người lao động.

* Tình hình thực hiện gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Tính đến ngày 06/9/2022, có 19/19 doanh nghiệp đã được cấp mã số quan hệ ngân sách, có 15/19 doanh nghiệp đã được cấp tiền và chi cho người lao động; cụ thể: đã thực hiện chi cho 278 người/415,5 triệu đồng; trong đó, đối tượng lao động đang làm việc là 273 người/406,5 triệu đồng, đối tượng lao động quay trở lại thị trường lao động là 05 người/9 triệu đồng; còn 04 doanh nghiệp chưa cấp tiền (53 lao động, 78 triệu đồng) do doanh nghiệp bị sai tên nên đề nghị sửa tên và doanh nghiệp chậm ký hồ sơ.

6. Hoạt động bảo hiểm

Tính đến 31/8/2022 toàn tỉnh có 94.375 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 14,3% so với cùng kỳ; có 85.685 người tham gia BHTN, tăng 15,7% so với cùng kỳ; số người tham gia BHXH tự nguyện 10.061 người, giảm 10,4% so với cùng kỳ; số người tham gia BHYT 1.028.304 người (bao gồm thẻ BHYT của thân nhân do Bộ Quốc phòng cung cấp là 11.371 người), tăng 3,6% so với cùng kỳ. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh ước đạt 88,9% dân số. Ước thực hiện 9 tháng năm 2022 có 96.000 người tham gia BHXH bắt buộc; tham gia BHXH tự nguyện 10.966 người; tham gia BHTN 77.062 người; tham gia BHYT 1.033.304 người. Tỷ lệ bao phủ BHYT ước đạt 89,3% dân số (bao gồm cả người dân Bình Thuận làm việc và học tập ngoài tỉnh tham gia BHYT).

Đã xét duyệt, giải quyết cho 42.459 lượt người hưởng các chế độ BHXH, BHTN, trong đó, hưởng các chế độ BHXH dài hạn 593 lượt người; hưởng trợ cấp thất nghiệp 7.581 người; hưởng trợ cấp BHXH một lần 9.246 lượt người; hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức-phục hồi sức khỏe: 25.039 lượt người. Ước thực hiện 9 tháng năm 2022 đã xét duyệt, giải quyết cho 46.996 lượt người. Trong đó: hưởng BHXH dài hạn 681 người; hưởng BHXH 1 lần 9.987 người; hưởng BHTN 8.469 người và hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn 27.859 người.

Tổng số đối tượng đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng trong tháng 8 là 17.256 người. Tính đến 31/8/2022, tổng số thu 1.655,061 tỷ đồng, tăng 6,9% so với cùng kỳ. Tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 169,735 tỷ đồng, giảm 2,2% so với cùng kỳ. Ước 9 tháng năm 2022 có 1.886.944 triệu đồng thu BHXH, BHYT, BHTN; trong đó 1.120.579 triệu đồng thu BHXH bắt buộc; thu BHXH tự nguyện 32.960 triệu đồng; thu BHTN 52.753 triệu đồng; thu BHYT 680.652 triệu đồng. Số nợ phấn đấu giảm xuống còn 4,93%.

7. Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 15/8-14/9/2022), xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông (có 02 vụ đường sắt), tăng 08 vụ so với tháng trước và tăng 24 vụ so với cùng kỳ năm 2021; số người bị thương 14 người, tăng 01 người so với tháng trước và tăng 10 người so với cùng kỳ năm 2021; số người chết 23 người (có 02 người đường sắt), tăng 11 người so với tháng trước và tăng 21 người so với cùng kỳ năm 2021.

Luỹ kế 9 tháng năm 2022 đã xảy ra 191 vụ (trong đó có 06 vụ đường sắt), so với cùng kỳ năm 2021 giảm 11 vụ; số người bị thương 99 người (trong đó đường sắt 01 người) tăng 15 người so với cùng kỳ năm 2021; số người chết 134 người (trong đó đường sắt 05 người), so với cùng kỳ năm trước tăng 7 người.

Tai nạn giao thông tháng 9 năm 2022 tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ, chủ yếu xảy ra trên quốc lộ 1A, đường bộ, ở khu vực ngoài đô thị, nguyên nhân của các vụ tai nạn trên là do người tham gia giao thông phóng nhanh vượt ẩu, qua đường không quan sát, có rượu bia khi tham gia giao thông.

8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường

- Thiên tai: Trong tháng xảy ra 06 vụ thiên tai do mưa lớn kèm kéo dài gây lũ, gió lốc (huyện Tánh Linh, Bắc Bình, Đức Linh), làm tốc mái 12 căn nhà, ngập 499 ha lúa mới xuống giống, ngập 2,8 ha lúa hè thu sắp thu hoạch, ngập 0,1 ha bắp bị ngã đổ… thiên tai đã làm 01 người chết (Hải Ninh - Băc Bình); ước thiệt hại là 5.970 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2022 xảy ra 32 vụ thiên tai, ước tổng giá trị thiệt hại 16.599,40 triệu đồng.

- Cháy nổ: Trong tháng xảy ra 06 vụ cháy (tăng 04 vụ so với cùng kỳ năm trước), không xảy ra vụ nổ, ước thiệt hại là 130 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2022 xảy ra 25 vụ cháy (giảm 20 vụ so cùng kỳ), thiệt hại 3.681,8 triệu đồng.

- Vi phạm môi trường: Trong tháng đã phát hiện 03 vụ (giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm trước); xử phạt 262 triệu đồng (Các hành vi: chiếm đất, khai thác không đúng thiết kế, không báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp phép khi phát hiện khoáng sản mới). Lũy kế 9 tháng năm 2022 xảy ra 25 vụ (tăng 01 vụ so cùng kỳ), ước tổng giá trị thiệt hại 3.716,83 triệu đồng.

ĐÁNH GIÁ CHUNG

Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, diện tích gieo trồng cây ngắn ngày, sản lượng lượng thực, số lượng gia súc, gia cầm. Công tác phòng chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi được triển khai tích cực; quản lý bảo vệ rừng, nguồn lợi thủy sản, xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo. Các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác vùng biển xa, chính sách hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục thực hiện tốt. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển, hầu hết các sản phẩm sản xuất công nghiệp chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước (13/16 sản phẩm). Hoạt động du lịch trên địa bàn toàn tỉnh diễn ra sôi động, nhộn nhịp và có nhiều tín hiệu phục hồi. Các hoạt động thương mại nội địa, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ bưu chính viễn thông, vận tải tiếp tục phát triển. Thu chi ngân sách có nhiều cố gắng. Tỉnh đã tổ chức Hội nghị gặp gỡ các nhà đầu tư năm 2022 với chủ đề “Bình Thuận kết nối tiềm năng” (nhân kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh Bình Thuận (1992-2022)), đây cũng là hoạt động thu hút các nhà đầu tư; hoạt động tín dụng trên địa bàn ổn định.

Việc rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi nhất để thúc đẩy các dự án, các công trình trọng điểm được tập trung chỉ đạo. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng so với cùng kỳ năm trước.

Chất lượng giáo dục, đào tạo được duy trì. Công tác thông tin tuyên truyền, cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị tiếp tục tăng cường. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao linh hoạt chuyển hướng hình thức hoạt động để đáp ứng hưởng thụ văn hóa và giải trí của nhân dân. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm, thực hiện tốt. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm có nhiều cố gắng. Các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, chăm lo cho các đối tượng chính sách, người nghèo được quan tâm thực hiện tốt.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội ở một số lĩnh vực trong 9 tháng năm 2022 vẫn còn khó khăn, hạn chế, đó là:

Tình hình dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nhiều đến thu hút đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hoạt động du lịch tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, lượng khách du lịch quốc tế chưa phục hồi.

Giá nguyên, vật liệu đầu vào, nhất là phân bón, xăng dầu,… tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, khai thác hải sản trên địa bàn tỉnh; tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng, dịch bệnh vật nuôi tiềm ẩn nhiều nguy cơ phát sinh gây hại; tình hình xuất khẩu nông sản, tiêu thụ thanh long gặp nhiều khó khăn; tình hình vi phạm Luật Lâm nghiệp, bảo vệ nguồn lợi thủy sản vẫn còn xảy ra.

Thu ngân sách nhà nước giảm so với cùng kỳ năm trước. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép còn xảy ra./.


Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận

  • Tổng số lượt xem: 187
  •  

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
  
Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bản quyền thuộc về Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: 6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - ĐT: 080.43485; Phòng Hành chính - Văn phòng Bộ: 024.38455298; Fax: 024.38234453.
Trưởng Ban Biên tập: Nguyễn Như Sơn – Giám đốc Trung tâm Tin học; Email: banbientap@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.